Tiểu sử

        Tên thật: Đinh thị Quỳnh Mai 

Rời Sài Gòn 2-1985    

       Viết văn,  làm thơ 1992

    Về hưu 2017 

Kính mời quý vị thưởng thức các tác phẩm mới của Sao Khuê

Vào Nam

                                                 Sao Khuê

 

Tôi ra đời ở một  làng nhỏ, làng Trình Phố thuộc tỉnh Thái Bình. Tôi sinh ra và lớn lên theo chiến tranh giữa Việt Minh và quân Pháp. Dù còn nhỏ nhưng tôi sợ cả hai. Mỗi lần quân Pháp về làng là chúng đốt nhà, bắt gia súc và hãm hiếp đàn bà. Căn nhà nhỏ xíu của ba mẹ tôi ở làng Đồng Xâm bị chúng đốt cháy chỉ vì thích đốt, đốt vô tội vạ như trẻ con đốt một con thuyền gấp bằng giấy. Các cô tôi phải trốn dưới ao, trong chiếc chum lớn ủ mạ lúa, trong đống rơm ngoài chuồng bò khi quân Lê Dương, thường là Maroc, Algérie đi hành quân. Còn Việt Minh? Với bộ quần áo nâu, mã tấu sáng loáng, hàm răng vổ, họ về làng  ban đêm, bắt người đem đi chặt đầu rồi ghim trên ngực một bản án. Ba tôi may mắn thoát chết chỉ vì tình cờ về thăm ông bà nội tôi vào đêm mà Việt Minh tìm bắt ông Lý trưởng và ba tôi để giết.

Tối đó, tôi đứng khép nép bên mẹ tôi nghe người ta quát tháo:

       – Anh ấy đâu, bảo ra trình diện!

         – Dạ thưa ba các cháu không có nhà.

         – Chị đừng có nói láo – Tụi kia, lục soát!

         – Anh ấy trốn đâu?

        – Dạ thưa sáng nay, ba…

        – Ba cái gì mà ba, bố thì gọi là bố, bầy đặt ba với me, đồ vong bản. Anh ấy đi đâu?

        – Dạ, ba…dạ bố các cháu về thăm ông bà nội cháu.

        – Bao giờ về?

        – Dạ tôi không rõ, ông nội cháu ốm nên không biết bao giờ bố cháu mới về                

        – Khi nào về bảo ra trụ sở trình diện!-Thưa vâng.

   Sau đó họ kéo nhau qua nhà ông Lý trưởng  ở kế bên và sáng hôm sau người ta thấy xác ông Lý bị chém, thả trôi trên sông Trà Lý.

   Họ còn giết nhiều người, có khi chỉ vì ghen ghét cá nhân từ hồi nảo hồi nào bằng cách vu cho người ta là Việt gian rồi chặt đầu, rồi thả xuống sông. Những con tôm rỉa xác người nên sinh nhiều lớn mạnh, con nào cũng to nhưng không ai dám ăn nữa cả.

   Mẹ tôi nhắn tin về Trình Phố và từ đó ba tôi đi thẳng ra tỉnh, mẹ tôi cũng bỏ nhà, bỏ ruộng dẫn em gái tôi ra theo.  Các cô tôi cũng từ từ trốn ra tỉnh dẫn theo ông tôi. Tôi ở lại làng với bà nội.

  Dần dần Việt Minh kiểm soát được nhiều làng, nhiều xã. Dân chúng cũng từ từ rời làng ra tỉnh. Đại gia đình chúng tôi may mắn ra khỏi luỹ tre xanh của làng Trình Phố để ra tỉnh Thái Bình. Tôi và bà nội đi đợt cuối cùng nên khi ra đến nơi,  lúc đó tôi được chín tuổi,  thì  mọi việc đã đâu vào đó. Người lớn có công ăn việc làm, trẻ con đã vào lớp học.  

   Ông nội tôi ở với cô Tư và hai cô Út, cô Lộc và cô Phúc. Bà nội tôi ở với bác Cả  và tám anh chị trong căn phố  đối diện, bên kia  đường Lý Thừơng Kiệt. Bác tôi mua hay thuê một khỏang đất rộng  trong hẻm cạnh nhà cô Tư, cất được ba ngôi nhà nhỏ cho cô Năm, bác Vựng em bác gái, nhà tôi và bác tôi dựng nên một ngôi trường có bốn gian gọi là trường  trung học Trần Lãm cho bốn lớp học là đệ thất, đệ lục, đệ ngũ và đệ tứ.

  Bác Cả và ba tôi dạy học ở trường Trần Lãm. Trường cũ ở làng Trình Phố cũng do bác tôi dựng lên mang tên  trung học Bùi Viện đã đóng cửa. Bác tôi chọn hai tên Bùi  Viện và Trần Lãm vì Trình Phố là quê hương của cụ Bùi Viện, cụ làm quan và đã đi sứ sang Mỹ, còn sứ quân Trần Lãm tức Trần Minh Công chiếm Bố Hải Khẩu tức Tiền Hải, thuộc tỉnh Thái Bình, là chủ tướng của Đinh Bộ Lĩnh, người đã thống nhất 12 sứ quân rồi lên làm vua, xưng là Đinh Tiên Hoàng mà nhà tôi  thì họ Đinh.

   Tiền dạy học không nhiều nên ông bà ngoại tôi gửi tiền bạc hoa xoè giữ được từ xưa ra tiếp tế thêm. Chị lớn của mẹ tôi thường đội một thúng gạo trong có dấu tiền đúc từ Pháp bằng bạc ra cho mẹ tôi bán. Sau 1954 bác tôi bị đấu tố, bị treo ngược đầu xuống đất để chúng khảo của vì ông ngoại tôi  có tiếng giầu có trước kia.

   Năm 1954

Hơn một năm trôi qua. Tôi đã học xong lớp nhì và đang nghỉ hè.

Rạng ngày 19 tháng 7  năm 1954, chúng tôi đang say ngủ thì có tiếng súng, tiếng bom đạn ầm ầm. Mẹ tôi giao cho tôi một tay nải có bộ quần áo  và cô em nhỏ hơn tôi bốn tuổi. Hai chị em lúp xúp chạy theo bố mẹ và cậu em hơn một tuổi ra bến xe. Nhà bác Cả đã ở đó cùng với bà nội. Ông nội đã theo các cô ra Hà Nội trước đó. Nhà cô Năm cũng đi trước cả tháng vì chú Năm đi theo sở làm. Mọi người trong tỉnh ùn ùn ra bến xe, tìm cách chạy sang Nam Định. Khi chúng tôi tới nơi, chỉ còn lại ba chiếc xe đò. Chúng tôi leo lên chiếc xe có tài xế ngồi nơi tay lái và có cả gia đình ông ấy,  chắc mẩm là chạy thoát nhưng than ôi, một ông lính dơ trái lựu đạn ra ép tài xế phải sang lái chiếc xe có gia đình ông ta. Bác Cả và ba tôi chỉ kịp chạy theo chiếc xe đó, bỏ lại vợ con, bám vào tay vịn, đứng một chân trên càng xe mà tới được Nam Định, sau đó ra Hải Phòng, nơi chú Bẩy tôi sinh sống từ năm ngoái, 1953, khi chú thím rời chiến khu vào thành. Trước khi ra Hải Phòng chú thím có ghé chào ông bà nội, chú tôi rất đẹp trai như Tây lai. Cao lớn, trắng trẻo, mày rậm, mắt to, mũi cao, chú đẹp nhất nhà. Các cô chú tôi ai cũng cao lớn lại có vẻ như lai Tây, trừ chú Út .

  Trở lại với hai gia đình lúc nào cũng chậm lụt là mẹ tôi với ba con, bác gái với tám anh chị và bà nội, chúng tôi rời xe và chia tay, tìm đường về bên ngoại. Mẹ tôi dẫn chúng tôi về Phụng Thượng. Xe đò chạy ngang một trại lính, chắc vừa  giao tranh nên có nhiều người vừa chết, còn đang mặc quần áo tử tế, có lẽ sửa soạn chạy trốn thì bị giết. Có một bé trai chừng 6 ,7 tuổi trông khôi ngô, nằm chết tình cờ, nằm chết như mơ in vào đầu tôi đến bây giờ.  Xe chạy đến bờ sông thì ngừng lại, không có cầu qua sông. Mẹ tôi phải thuê người ta cõng từng đứa lội qua. Ông ngoại tôi vừa mất ngày đưa ông Táo về trời, bà ngoại đã được các cậu dẫn ra Hà Nội và sau đó đưa vào Nam nên không bị đấu tố.

   Chúng tôi ở nhà bác được vài ngày thì chính phủ Việt Minh ra lệnh

ai về nhà nấy vì nước nhà đã được độc lập. Hiệp định Genève ký ngày  20 tháng 7 năm 1954  tại  Genève Thuỵ Sĩ,  một ngày sau khi Việt Cộng đánh và chiếm được tỉnh Thái Bình, đã chia Việt Nam ra làm hai phần bằng vĩ tuyến thứ 17, phía Bắc theo chế độ Cộng Sản do Việt Minh kiểm soát và miền Nam, do quốc trưởng Bảo Đại trách nhiệm

  Chúng tôi trở về nhà, may mắn còn nguyên. Bố tôi có nuôi hai chị là chị Nụ và em là chị Bằng. Chị Nụ đã được cho về nhà lấy chồng, chị Bằng trong lúc lộn xộn chạy về quê chị nhưng sau đó trở lại xin ở tiếp.

  Từ đó chị  Bằng trông coi ba đứa chúng tôi mới 10, 6,và 2 tuổi khi  mẹ tôi cùng bác Cả đi buôn. Bác Cả gái và mẹ tôi xin được giấy phép đi lại Thái Bình-Hà Nội để mua vải, thuốc Tây về bán. Bà nội tôi dựng cái sạp bán nón lá ngoài chợ. Hàng mua về thường bán lại ngay cho người bán lẻ nên mẹ tôi ít khi có nhà.

  Lũ trẻ chúng tôi được lệnh phải tham gia đội thiếu nhi bác Hồ, tối tối phải tập trung nghe giảng, nắm tay nhau ca hát, nhẩy sol đố mì. Những bài ca thường chỉ là nốt nhạc, không lời mà đến giờ, 65 năm tôi vẫn còn nhớ:

             Rề rề sỉ rề son rê sí, sí sí xòn

             Sí sí  sòn sòn đố mí la, rê sí xòn sí đồ..đồ mi pha son.

Lần đầu phải nắm tay con trai, con bác tuỳ phái của trường Trần Lãm, tôi rất là ngượng ngùng xấu hổ. Các anh chị em tôi chơi với nhau nhưng trai gái cũng không nắm tay nhau.

  Cái trò trai gái gần nhau, nắm tay múa hát rất được thanh thiếu niên ủng hộ. Hồi nào đến giờ bị cha mẹ cấm đoán nay được bắt buộc chung chạ nên các anh chị sốt sắng đi hội họp. Dân chúng còn truyền nhau có thanh niên nọ mê nhảy mì sol, nên lúc leo trên bờ tường cũng nhảy rồi ngã xuống đất bể đầu và bà mẹ khóc con:

       Người ta thì chết vì nước vì non

       Con tôi thì chết vì sol đố mì

Trước khi rút đi, quân Pháp đã thả bom, làm sập cầu Bo, chiếc cầu dẫn vào tỉnh, mục đích cản trở sự tiến quân của quân Việt Minh nhưng công binh của Việt Minh đã nhanh chóng dùng dây kẽm gai chăng từ đầu nọ sang đầu kia của cầu, rồi đặt những tấm ván lên cho người đi bộ qua lại. Cầu Bo biến thành chiếc võng lớn đung đưa theo cơn gió. Để đi lại trên đó nhiều người hoặc phải chạy nhanh hoặc bò. Nghe người lớn kháo nhau, tôi cũng tò mò leo lên cầu; kết quả là ngã lăn cù, lổm ngổm bò dậy, bò thêm một đoạn thì bò về, vì bò vẫn ngã mà còn chóng mặt quay cuồng …

  Trường không mở, không có thầy, chẳng có trò nhưng toàn là bộ đội. Chính quyền lấy trường học Trần Lãm cho bộ đội trú quân. Họ nói tiếng gì trọ trẹ rất khó nghe, muốn hiểu tôi  phải đoán hay hỏi lại, sau này tôi biết họ người Quảng, được chở thẳng từ chiến trường về đây. Họ không được về thăm nhà nên rất buồn và không biết gì mấy về hiệp định Genève cả. Họ mơ tưởng hòa bình thì được về quê sinh sống với cha mẹ vợ con. Họ thường hỏi tôi mượn cây chủi tức cái chổi quét nhà…

   Các anh chị học trò không được đi học và cũng bị tụ tập như lũ trẻ chúng tôi.

 Có một lần các anh chị kéo đến nhà tôi với cái xe ba bánh, chất nhiều sách:

   –  Thầy cô có nhà không ?

   –  Dạ không ạ, mẹ em đi buôn rồi,  chỉ có ba đứa em ở nhà thôi chị ạ.

Các anh chị biết rõ nhà tôi vì nhà tôi sát trường, nên bỏ đi.

Tôi lật  chiếu giường lấy ra quyển truyện thiếu nhi mượn được của bạn để đọc tiếp. Chị Diệm quay phứt lại, giằng lấy quyển truyện:

   – Không được đọc sách Nguỵ. Tất cả đều là  sách vở đồi truỵ phải đem nộp và đem đốt.

Tôi ngớ người, tiếc và lo không viết làm sao trả sách cho bạn tôi.

   – Chị ơi, quyển  này em mượn của bạn em, chị cho em xin lại để trả bạn em.

   – Không được, tất cả đều phải đốt hết. Em cứ nói với bạn em như thế.

   Tôi ghét chị thậm tệ, chị ra sau cùng mà còn ngoái lại, giựt quyển sách khỏi tay tôi. Đúng là cướp giựt…

  Chúng tôi đang ăn cơm, mẹ tôi chia cho hai chị em tôi một quả trứng luộc. Chú bộ đội ngoài hiên, mẹ tôi vội vàng ấn hai nửa trứng xuống dưới bát cơm

   – Nhà đang ăn cơm hả, ăn gì vậy?

Tôi nhanh trí dơ chén cơm không ra:

   – Dạ, với muối ạ

   – Ăn gạo trắng cơ à, nhà ta còn tiền mua gạo trắng hả, bóc lột ghê nhỉ.   

 – Dạ, không phải, hôm nay giỗ ông ngoại các cháu nên nhà mới cúng cơm trắng, mọi ngày ăn gạo hẩm với khoai …

    Họ rình mò thế đấy, đến và đi bất chợt  nên mình phải luôn luôn đề phòng. Tôi khôn hẳn ra nhưng là khôn vặt để đối phó  với những rình mò chung quanh.

   Theo tinh thần hiệp định Genève thì dân chúng, cán bộ, sinh viên…tức tất cả mọi người trong nước, dù miền Nam hay miền Bắc  có 300 ngày để chọn lựa đi đâu, ở đâu, Nam hay Bắc của vĩ tuyến 17 tức hai bên dòng sông Bến Hải. Uỷ hội quốc tế kiểm soát đình chiến có đại biểu của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, Canada sẽ nhận đơn, giải quyết, giúp đỡ cho việc dời chỗ ở. Dân từ Bắc vào Nam gọi là đi di cư, và ngược lại từ Nam ra Bắc là đi tập kết, với cái hẹn hai năm sau sẽ có tổng tuyển cử, lấy ý toàn dân để đi đến thống nhất nước bất kể ý kiến của Việt Nam Cộng Hòa. Uỷ hội quốc tế đến Thái Bình. Có nhiều con đường bị rào dây kẽm gai, không cho dân vào, đó chính là nơi có bàn giấy thu đơn của Ủy Hội quốc tế kiểm soát đình chiến.  Họ rào và cấm dân tiếp xúc với  Ủy Hội và chỉ dân đến địa điểm không có Ủy Hội nhưng ít người dám đến vì sợ bị điểm mặt ghi tên. Những người muốn di cư vào Nam phải tìm cách trốn ra Hà Nội hay Hải Phòng, từ đó sẽ có phương tiện như máy bay, tầu thuỷ do nhiều nước tự do trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp giúp đỡ để vào Nam, hoàn thành một cuộc di cư vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, hơn một triệu người đã bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ mồ mả tổ tiên, bỏ của cải ruộng vườn, bỏ cả cha mẹ anh chị em hay cả chồng vợ, con cái để về miền Nam tự do. Đó là một cái tát đau điếng cho chính quyền Việt Minh dù trước đó Việt Minh đã cho người đến nhiều nhà có máu mặt, nhiều gia sản ở Hà Nội hay Hải Phòng để khuyên can, hứa hẹn ưu đãi. Nhiều nhà mắc lừa đã ở lại vì tiếc của, nhưng đa số đã bán tống bán tháo để chạy, phải chạy Cộng Sản thôi.  

   Tôi có được đọc  một hồi ký của chị N, chị là bạn thân của  AK, bạn của tôi. Theo tôi, hồi ký vượt tuyến này rất có giá trị, tiếc là không được in ra phổ biến rộng rãi. Chị N kể rằng, gia đình chị sinh sống tại Hà Nội. Khi còn là học sinh chị đã từng tham gia biểu tình, hội kín của Việt Minh để chống Pháp. Gia đình chị giàu có, có máu mặt nên khi hiệp định Genève ký xong, Việt Minh cho người tiếp xúc với gia đình chị, kêu gọi ở lại  xây dựng đất nước. Bỏ ngoài tai lời khuyến cáo, gia đình chị vô Nam; riêng chị, chị cương quyết ở lại với căn nhà lớn và chiếc xe hơi. Chỉ sau thời gian ngắn, chị N nhìn ra bộ mặt thật, độc tài đảng trị, lừa dối, gian xảo của Vẹm nên chị âm thầm tìm cách vượt tuyến. Bán nhà, bán xe làm vốn chị nhờ người dẫn sang Lào, xuống Miên để tới hòn ngọc Viễn đông. Trải qua bao gian khổ hiểm nguy, có khi tưởng chết, có lúc như bị bắt lại, cuối cùng chị N cũng thoát cái ách độc tài vừa quàng lên cổ.

   Chú Vy, chồng của cô tôi cũng sống tại Hà Nội, cũng ở lại và sau cùng cũng trốn đi, đi bộ có, đi xe có, cũng con đường qua Lào, qua Miên để đến Sài Gòn. Chú Vy mê sách nên có một nhà sách. Chú dấu được và bán tất cả, mua từng sợi dây chuyền  vàng, đeo vào cánh tay, thuê người dẫn đường, ăn bờ ngủ bụi để vào tới Sài gòn tìm gặp lại cô tôi, người con gái mỹ miều chú chỉ mới gặp một lần khi chạy tản cư. Cảm động mối tình si chung thuỷ nên cô tôi nhận lời lấy chú…

   Chúng tôi cũng thế, chúng tôi  phải lần lượt trốn đi vài tháng sau hiệp định thay vì theo đúng tinh thần hiệp định chúng tôi có quyền đi công khai tới Hải Phòng mà vào Nam. Nếu được đi công khai theo đúng tinh thần hiệp định, tôi nghĩ không phải 1 triệu mà có lẽ nửa số dân miền Bắc và nhất là những người đã từng sống thôn quê hay tỉnh thành, những vùng đã bị Việt Minh chiếm đóng, sẽ vào Nam.

  Cuối năm trời se lạnh. Một sáng tinh mơ, mẹ đánh thức tôi dậy, đưa bộ quần áo và dẫn tôi đến nhà bà Tham. Tôi theo bà Tham và chú Đức  đi bộ, rồi đi xe đò, rồi đi bộ, rồi đi thuyền qua sông rồi đi bộ… Bà Tham dẫn tôi trốn ra Hải Phòng. Chúng tôi phải đi vòng vo từ làng nọ sang làng kia để không tiết lộ mục tiêu cuối cùng: Hải Phòng, nên giữa trưa nắng chang chang, cổ khô, chân rũ rượi, chúng tôi vẫn phải nỗ lực đi tới, đi tới trong đói khát nhất là mỏi chân. Chúng tôi đến cảng Hải Phòng lúc đã tối mịt, nhiều nhà đã tắt đèn đi ngủ. Hỏi thăm mãi chú Đức cũng tìm ra đường Cát Dài và ngõ Hải Hồng, có điều không biết là nhà nào mà vào nên vừa đi chú Đức vừa gọi to tên chú  Bẩy

   – Anh Bẩy ơi,  anh Bẩy ơi….

   Trong nhà chú Bẩy nghe tiếng gọi chạy vội ra. Bà Tham và chú Đức giao tôi cho chú  Bẩy rồi vội bỏ đi tìm nhà  bà con vì màn đêm đang buông xuống.

   Một tháng sau, mẹ tôi nối gót ra Phòng với em trai. Họ không biết là tôi đã trốn đi và em gái tôi cùng bà nội còn ở lại nhà nên ủy ban ký giấy cho mẹ tôi đưa em trai đi thăm bố. Nhà cô Năm đối diện với nhà tôi được mẹ tôi nhường cho chị họ là bác Thái ở và bác Thái đã trông nhà khi mẹ tôi dẫn em gái đi.

   Gia đình bác Cả tôi bằng cách nào không rõ cũng đã ra được cả Hải Phòng. Ở lại Thái Bình chỉ còn hai bà cháu ngày nào cũng ra chợ bán nón. Hà Nội lúc đó còn cho đi lại tự do dù đã giao cho chính quyền Việt Minh. Hà Nội đang rầm rộ tổ chức Liên hoan ăn mừng độc lập. Cô Út xin phép về Thái Bình rồi xin phép đưa bà và em tôi ra Hà Nội để xem liên hoan. Giao em tôi cho bố mẹ xong thì các cô và ông bà lên máy bay vào Nam.

   Ở Hải Phòng, ba tôi thuê căn phòng nhỏ, gần nhà chú tôi. Nhà ở giữa,  bên trái không xa hồ nước và  bên phải gần đường rầy xe lửa Hà Nội-Hải Phòng. Hồ nước rất rộng và mẹ tôi thường sai tôi ra hồ giặt chiếu. Giặt chiếu trên hồ rất dễ, tôi ngồi kẹp hai chân trên ván cầu cho khỏi lăn tòm xuống nước, nằm rạp người sát mặt ván cầu, trải cả cái chiếu xuống nước, dùng bàn chải chà từng khúc, gấp lại, cứ thế mà tiếp tục đến khi hết cái chiếu, nhúng xuống nước rồi vác về phơi. Quần áo ướt nhẹp thì về nhà thay.

  Chiều mát tôi  thường theo anh họ ra đường rầy xe lửa xem các cô thôn nữ khăn mỏ quạ, áo nâu nhẩy tầu. Họ không phải là thôn nữ  mà là những giao liên Việt Minh. Họ  mang chỉ thị đến cho những người hoạt động nội thành như chú Bẩy. Trước khi vào ga chót, để tránh khám xét, họ quăng cái thúng chứa tài liệu xuống trước rồi nhẩy vèo xuống sau. Khi chân chạm đất, họ chạy theo hướng tầu một khúc để lấy lại thăng bằng, sau đó vội vàng biến mất với cái thúng tài liệu…và tối đó chú tôi tiếp chuyện với những người khách khác thường này để nhận công tác nội thành. Gia đình chú ở lại. Gia đình bác Cả và gia đình tôi ghi danh vào Nam. Sau lần chia tay, hai mươi năm sau tôi mới gặp lại ông chú cao lớn đã từng đẹp trai như Tây lai mà bây giờ  hom hem, xanh xao, quần áo cũn cỡn.  Tôi không thể giữ lại trong đầu ý nghĩ chán chường này nên  buột miệng nói ra:

 – Chú ạ, đáng lẽ cháu không nên gặp chú thì cháu còn giữ mãi được hình ảnh ông chú cao lớn như Tây ngày xưa…

   Không biết chú  Bẩy có động viên bác hay cha tôi ở lại miền Bắc hay không, nhưng  mẹ tôi kể  đã nhìn thấy chú Sáu trong đoàn quân về tiếp thu Thái Bình.  Chú Sáu đã rời hàng quân gặp mẹ tôi và nói nhỏ “Chị bảo mọi người thu xếp vào Nam hết đi kẻo bị đấu tố”. Tôi thương chú vô cùng và chưa biết mặt chú, chú tử trận trên đường Trường Sơn…

 Vào Nam, chỉ những người đã trốn ra tỉnh được mới tìm cách trốn tiếp ra Hà Nội hay Hải Phòng mà vào Nam. Các em của ông tôi,  tiếc của, nấn ná ở lại quê, đều bị đấu tố dã man. Dì ruột tôi, nhà chồng giầu có, vườn ruộng mênh mông nên cả nhà sau khi bị đấu tố, tịch thu nhà cửa ruộng vườn rồi bị đuổi đi vùng kinh tế mới ở Thanh Hoá. Con trai dì, bị bắt đi bộ đội vào Nam, chả hiểu bằng cách nào mà vài tháng sau ngày 30 tháng tư khi cũng tìm đến thăm bố mẹ tôi.

   – Chúng cháu trồng ngô, hái măng, hái nấm mà sống. Trên giường lăn xuống đất chỉ thấy ngô, bao nhiêu năm không biết hột cơm là gì, chỉ ngô, sắn, măng với rau rừng…

  Tuy vất vả nhưng các em gái đều đẹp, trắng nõn nà và biết đọc biết viết cả…

  1. Vào Nam

Một tuần trước Tết, hai gia đình Rùa tức nhà bác Cả và nhà tôi là những người sau cùng kẹt lại trong họ, ra bến tàu từ tờ mờ sáng. Chú Bẩy tiễn chúng tôi.

Anh Cả ơi, em tiễn chân anh ra tận bến tàu

 Mọi người nôn nóng, ngóng ra biển

  Ba con tầu sắt lần lượt tiến vào. Gần bờ, con tầu mở rồi hạ nắp xuống cho người ta đi qua mà vào khoang tàu. Khi tàu đầy người, tấm sắt to lớn từ từ được kéo lên, nhốt đám người trong khoang, tách bến ra khơi. Chiếc tàu thứ hai tiến vào, mở ra, giống như cái mồm của con cá sắt nên người ta gọi nó là tàu há mồm. Chúng tôi vào được chiếc tầu thứ hai. Tôi vừa bế em trai hai tuổi vừa ôm bịch áo quần. Mẹ tôi giao thêm em gái rồi cùng ba tôi chuyển thêm đồ đạc vào. Tầu hú còi và từ từ kéo tấm sắt  đóng tầu lại

   – Mẹ đâu ?

  Không thấy mẹ tôi đâu dù ba tôi và tôi gào lên rồi lấn cả các người trên tàu mà tìm.

Thôi rồi! mẹ tôi kẹt lại rồi.

Ba tôi bồn chồn lo lắng, em gái, em trai khóc hu hu.

…Tàu há mồm lừ đừ ra khơi, tuy chậm như rùa nhưng …kia rồi, tầu lớn kia rồi. Ôi, con tầu mới to làm sao. To như một dãy phố cao tầng. Ngoài thân tầu chìm sâu trong nước, từ boong tầu lên còn ba bốn tầng lầu.

   Có người gọi tên tôi từ tầng cao chót vót. Tôi nhìn lên. Mẹ tôi đang đứng đó hoa tay và kêu ầm ĩ tên tôi, chả là tên tôi rất dễ gọi. Ba tôi vừa mừng vừa giận, mừng thấy lại vợ, giận vì mẹ tôi đi tay không trong khi chúng tôi lễ mễ, lỉnh kỉnh đồ đạc với hai em nhỏ và mẹ tôi còn làm mọi người lo sợ. Mẹ tôi lên chuyến tàu chót, ít người nên tới trước.

   Từ tầu lớn người ta thả xuống cái thang nối liền với tầu há mồm. Tôi bế em trai và mang theo bịch quần áo trên thân hình ốm o của đứa trẻ 10 tuổi. Người lính Mỹ trắng bóc, to, cao đỡ bịch áo quần và bế em tôi.

   Tôi leo lên chiếc thang đung đưa. Tôi nhìn xuống, phía dưới là biển cả xanh thẳm, hẹp bằng khoảng cách của hai con tầu. Chiếc thang đung đưa, nhưng có ngã xuống biển cũng chẳng sao, chỗ này hẹp chắc không sâu, cái ý nghĩ trẻ con ấy bây giờ khiến tôi buồn cười. Tôi cũng leo lên tới sàn tầu lớn. Mẹ tôi đã xuống, bế em trai và đón em gái. Những đồ đạc cồng kềnh được đưa lên sau, nhà nào nhà nấy nhận. Đây là tầu của Hải quân Hoa Kỳ giúp chở người di cư và Nam.

   Chúng tôi dắt díu nhau xuống hầm tầu. Hầm cũng có nhiều tầng, có lẽ ba tầng, chúng tôi ở tầng giữa, mỗi người nhận một chiếc giường sắt trên dẫy giường ba tầng. Tôi leo lên trên. Mệt nhoài sau một ngày phơi mình ngoài nắng trong tầu há mồm nên tôi lăn ra ngủ lúc nào không biết. ..

  Bác tôi và ba tôi đã lãnh được cơm chiều. Họ phát cho mỗi gia đình một cái thùng sô lớn  để lấy thức ăn và lấy cơm. Ngày đầu không có cơm mà chỉ có một sô đầy thịt gà hầm thơm phức, mềm nhưng lờ lợ, không mặn mà như mọi lần. Chúng tôi ăn no nê. Tôi rủ chị họ, chị Minh, kém tôi một tuổi lên boong tầu xem mặt trời lặn. Sách tôi đọc thường tả cảnh mặt trời lặn đẹp vô cùng. Ông mặt trời to lớn đỏ ối, từ từ rơi xuống biển, tuyệt đẹp.Tầu đang đi qua vịnh Hạ Long, những đồi nuí chập chùng trên nước. Ơ kìa, một bãi cát vàng tươi, cứ như là những hạt vàng lấp lánh trong nắng chiều. Đẹp quá, quá đẹp. Tôi tự nhủ lòng, khi nào lớn lên sẽ trở lại đây thăm, nhìn cho rõ phong cảnh tuyệt đẹp này, nhưng đến nay, gần dất xa trời, tôi chưa hề, và sẽ không bao giờ thấy lại ở kiếp này: chẳng bao giờ tôi  thăm lại quê hương nếu còn Cộng Sản….

Anh biết em đi chẳng trở về. Dặm ngàn liễu khuất với sương che. Tất cả không làm em chùn bước. Cờ đỏ còn kia, em chẳng về…

  Những ngày sau đó, say sóng, chúng tôi ngủ li bì, không biết lúc nào là ngày, lúc nào là đêm, quên cả xem mặt trời mọc hay lặn.

   Thay vì vào cảng Saigon như những chuyến tầu khác, con tầu đậu ngoài khơi Cap St -Jacque tức Vũng Tầu đúng ngày mồng một Tết. Chúng tôi phải chờ tầu nhỏ ra chở vào. Sau nhiều ngày li bì, chúng tôi tỉnh dậy, đói và khát. Than ôi, ngày hôm đó trên tầu không phát thức ăn vì họ ngỡ sẽ đưa chúng tôi vào được đầt liền. Họ chỉ phát cam và bánh kẹo. Những trái cam vàng tươi mới hấp dẫn làm sao. Tôi kéo bà chị tôi đi xếp hàng lãnh cam. Một vị linh mục đi đến, kéo chúng tôi ra khỏi hàng:

   – Mấy đứa này lãnh rồi, bây giờ lại xếp hàng nữa, gian lận, đi chỗ khác.

 Tức tưởi, thấp cổ bé họng, oan ức, chúng tôi rời hàng. Mười lăm người mà không ai lãnh được trái cam quả táo nào. Mẹ tôi bấm bụng mua một quả cam, chúng tôi chia nhau ăn cả vỏ, chả bù ngày đầu lên tầu, gà cả con ăn thừa mứa. Đói quá, mẹ tôi lục hành trang, lôi ra cái bếp cồn (bếp đun bằng dầu hôi) và ít gạo nhúm lửa nấu cơm. Cơm chưa kịp chín thì ông Mỹ cao lớn đến la hét om sòm, bắt tắt ngay lập tức, hoá ra họ sợ lửa lan gây hoả hoạn làm cháy tầu. Thế là mọi người chịu đói đến lúc họ gọi tên và cho gia đình chúng tôi xuống tầu nhỏ vào bãi.

 Trên bãi cát kế khu rừng thưa có nhiều mái tăng được dựng lên làm chỗ tạm trú cho dân di cư. Những người đến trước mang xôi và trứng vịt luộc ra bán. Tôi được hẳn một cái trứng vịt luộc. Đây là cái trứng luộc ngon nhất trên đời. Mẹ tôi nấu cơm nên chúng tôi không phải ôm bụng đói đi ngủ. Tính thích phiêu lưu nên tôi rủ anh họ vào rừng, nhưng chỉ đến ven rừng thì anh cản, sợ trong rừng có rắn và hổ. Vài ngày sau bác tôi điều đình được theo một xe vận tải cùng vài gia đình khác về Saigon.

 Về đến Saigon thì trời đã tối. Xe qua đường Công Lý, quẹo vào phía sau của chợ Phú Nhuận. Bác và  ba tôi lại đi vào từng hẻm mà gọi to tên chú tôi

   – Trung ơi, chú Trung ơi.

   Cuối cùng thì chú tôi nghe được, ra đưa 15 người vào căn nhà nhỏ đã có sẵn hai cô chú và năm em, tổng cộng hai mươi hai người trong khỏang không gian ba mươi mét vuông.

Sáng hôm sau cô tôi cho hai đứa, tôi và con gái cô, bằng tuổi tôi, một đồng để ăn quà. Thuý dẫn tôi ra chợ, em xé một đồng ra làm hai.

   – Chết chửa, sao em lại xé tiền, lấy gì mà mua bây giờ.

   – Em chia cho chị năm cắc, chị muốn mua gì thì mua.

   – Năm cắc là gì?

Em dúi vào tay tôi nửa đồng tiền giấy vừa xé

   – Đây này.

   – À một nửa này là năm cắc tức năm hào hả?

   – Ừ, chị thích ăn gì thì mua, nhưng chỉ có năm cắc thôi nhe.

   Từ đó về sau tôi còn thấy nhiều người thản nhiên xé tiền để mua hay thối tiền. Tiền mà thối, lúc đâu tôi không hiểu, nhưng sau cũng suy ra thối có nghĩa là giả lại. Đồng tiền xé hai, khi thì ngay ngắn, khi thì nửa to nửa nhỏ, nhưng không sao, họ nhận tất cả.

   Khoảng tuần sau thì chị họ của mẹ tôi đưa gia đình tôi đến trú tại nhà hát lớn. Nhà hát lớn sau này là trụ sở quốc hội được trưng dụng cho người di cư tạm trú. Gia đình tôi được khoảng nhỏ, từ một gia đình khác mới dọn đi. Đây là  một trong những balcon của nhà hát, nhìn xuống đường Catinat, rộng đủ để trải một chiếc chiếu và để vài dụng cụ lặt vặt một ấm, một nồi vừa nấu canh vừa xào rau, vài cái chén đũa và một lu nhỏ chứa nước nấu ăn.

Nước là vấn để nghiêm trọng cho toàn thể vì chỉ có mỗi một cái vòi nước, nằm bên hông nhà hát lớn cho toàn bộ cư dân của nhà hát và vài nhà lân cận. Thông thường thì mọi người nhường nhịn nhau, xếp hàng chờ đến phiên mình, nhưng mọi người đều phải nhường cho một bà chằng lửa, bà này dân Nam kỳ quốc chính hiệu nên không được vào ở trong nhà hát. Bà dựng một tấm bạt làm nhà dựa vào tường nhà hát. Bà ta giành giật và ong óng chửi rủa người di cư hết lời.

   – Tại sao nước nhà hoà bình độc lập rồi, tụi bay không ở ngoải, chung dô đây làm rầy tụi tao, tranh việc làm của tụi tao.

   Chửi rủa chưa đủ, bà ta gầy đen như con mắm, còn xô, còn đá thùng hứng nước của người ta ra, rồi thoải mái hứng hết thùng nọ đến thùng kia cho mình hay đem bán. Người đâu mà dữ dằn quá đỗi. Mẹ tôi giao tôi coi em và xách nước.Tôi thường thức khuya, chờ mọi nguời đi ngủ mới mang chiếc sô nhôm ra hứng, khi đó nước rỉ rả nhỉ giọt. Tôi ôm gối ngủ gục chờ cho sô nước đầy thì khệ nệ lê lên lầu. Bố tôi thì thỉnh thỏang mới xẹt qua mà mẹ tôi sau khi nấu cơm xong thì cũng đi ra ngoài để tìm việc hay chạy giấy tờ lãnh trợ cấp,  khoảng 700 đồng mỗi đầu người.

   Trước cửa nhà hát lớn là hồ  nước có vòi nước phun rất mát, may mà cảnh sát cấm múc nước hay tắm  rửa. Tối đến Saigon lên đèn, đẹp ơi là đẹp. Đúng là hòn ngọc Viễn Đông. Tôi thường theo mấy chị lớn đi dọc theo con đường Catinat, dán mũi vào những cửa hàng sáng choang lộng lẫy nhìn cho đã con mắt  những hàng hóa lấp lánh đẹp vô cùng nhưng quả thật tôi không chút thèm thuồng vì chúng thuộc về thế giới khác, về người khác… nhưng cái con búp bê nằm trong tủ kia, trông như em bé thật ấy, chao ôi sao nó lại có thể đẹp đến thế.

   Bác tôi tìm được một căn nhà trên đường Công Lý, không xa nhà cô Tư là bao. Nhà gần đầu con hẻm chằng chịt gọi là xóm Lách. Chúng tôi gĩa từ nhà hát lớn, ít ngày trước khi nhà hát giải tán dân di cư, dọn về ở chung với bác Cả.

   Gia đình tôi năm người ở ngoài hiên, kê đủ cái giường, hàng đêm tôi nằm dưới chân giường, co ro cúm rúm, ráng thu nhỏ để khỏi đụng vào bố mẹ hay hai em. Phòng khách kê được cái phản gỗ và cái giường. Giường là chỗ ngủ của ông bà, phản giành cho hai bác và

cũng là phản ăn cơm của cả nhà bác tôi. Tất cả các anh chị ngủ trên gác xép. Tổng cộng 17 người sống trong căn nhà bằng một phần nhỏ căn bếp của ông bà nội ở quê, nhưng tôi rất vui vì được sống chung trong đại gia đình. Tắm là vấn đề lớn được giải quyết dễ dàng. Cả lũ kéo nhau sang cư xá bên kia đường, trong này có hẳn một dẫy nhà tắm hàng chục căn, nước máy trong, mát, có hoa sen chảy rất mạnh, tắm và dỡn đã đời luôn. Nhà có nhà vệ sinh, giành cho ông bà và tiểu tiện. Lũ chúng tôi thì đi nuôi cá ở cầu cá cũng nằm dọc theo đường Công Lý bên kia cầu Bạc Má Hồng  (Mac Mahon), sau này gọi là cầu Công Lý. 

   Cầu cá được  làm  bằng những tấm gỗ có mái tôn che mưa nắng. Đi qua khúc cầu ngắn, rẽ hai bên là hai dẫy nam riêng nữ riêng, mỗi dẫy chừng chục ngăn. Tan học về chúng tôi rủ nhau:

         Rủ nhau đi cầu

        Tay cầm mảnh báo thật to

       Bâng khuâng không biết bước vô cầu nào…

 Chúng tôi mang theo mảnh báo,  vo tròn cho mềm, ngồi gần nhau vừa làm công việc vệ sinh vừa nói chuyện. Hai tấm gỗ dầy đủ để ngồi mà không lọt xuống sông, chúng tôi góp phần nuôi cá. Tõm tõm là cá đã nhẩy lên đớp mồi nên sông nước vẫn sạch trong.

 

Chúng tôi xin được vào học ở trường tiểu học trên đường Võ di Nguy , Phú Nhuận. Từ xóm Lách theo đường Công Lý, qua cầu, rẽ phải vào phía sau chợ Phú Nhuận, đi hết con đường băng qua chợ là ra đường Võ di Nguy, quẹo  trái một khúc là đến trường. Trường nằm trong hẻm. Đầu hẻm là lò heo. Nơi đây người ta giết heo, bò. Heo được trói bốn vó chổng lên trời: một người đè  một người dùng giao nhọn chọc vào cổ, huyết heo chảy vào cái chậu phía dưới nên suốt ngày chúng tôi nghe heo kêu oang oác vì bị giết. Giết bò dã man hơn. Con bò bị đập bể đầu bằng cái vồ bự trước khi thọc huyết.  Bò khôn hơn heo, chúng biết sắp bị giết nên khi đưa vào lò sát sinh, chúng chảy nước mắt rất đáng thương. Tội nghiệp cho loài vật biết bao.

  Đường Công Lý là con đường chính từ phi trường về thành phố nên chúng tôi thường phải dừng bước, quay mặt vào lề để đón tổng thống Ngô Đình Diệm đi kinh lý.  Công Lý cũng là con đường đến nghĩa trang Bắc Việt nên khi có đám ma chúng tôi bảo nhau dừng bước, bỏ nón chào người qua cố. Gặp khi cảnh sát lập biên bản một vụ gì đó, chúng tôi xin phép xem, nói dối là để tả lại trong bài luận văn!

  Sau đó mẹ tôi thuê được một phòng trong  con hẻm số 230 đường Ngô tùng Châu thuộc Gia Định mà mọi người gọi là ngã tư Cây Quéo.

Tôi thắc mắc mãi về cái tên kỳ cục này. Này nhé, từ đường Võ Di Nguy đi xuống là ngã tư Phú Nhuận, tiếp tục đi thẳng là đi Gò Vấp, quẹp phải là đường Chi Lăng. Dọc theo đường Chi Lăng, qua ngã ba Chu Mạnh Trinh, ngã ba Tô hiến Thành, ngã ba Cầu Cống là đến ngã ba Đốc Công. Đó, đường Ngô tùng Châu đó, có thấy ngã tư nào đâu. À không, đi tiếp đường Ngô tùng Châu, qua khỏi dẫy nhà mười căn mà tôi ở sẽ tới ngã tư cắt với đường Hoàng Hoa Thám, đường này lại  nối ra đường Chi Lăng để đến chợ Bà Chiểu. Ngay ngã tư bên trái là chợ Cây Quéo, mới đầu là những gian sạp có mái lá, nằm gọn trong một góc, sau dân di cư vào, bày bán, cất sạp, xây đại cả ngay trên đường đi, nối dài thêm ra mãi. Tận cùng là nhà thờ. Nhưng đi mãi, nhìn mãi cũng chẳng thấy cây nào quéo hết trơn cũng như tôi không nhìn thấy cây thị ở ngã ba Cây Thị, hoặc giả những cây này đã bị đốn cả rồi.

   Dần dần, bố mẹ tôi mua lại căn nhà này. Khởi đâu là nhà vách ván có dán dấy, có hàng hiên chạy dài rồi hàng hiên được ngăn lại, làm rào, sau đó nhà được  xây gạch, làm gác xép cho đủ chỗ ngủ cho hai chị em tôi.

Chúng tôi ngụ tại đây 10 năm mới dọn đi chỗ khác.

   Thuở  thanh bình không phải ba trăm năm cũ mà là đây, là lúc đó. Sau khi dẹp xong Bình Xuyên, Hoà Hảo, miền Nam thực hiện tổng tuyển cử. Hoàng đế Bảo Đại không có mặt bên dân lúc dầu sôi lửa bỏng nên dân bầu thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống, khai sinh nền đệ nhất cộng hoà, quốc hiệu Việt Nam Cộng Hoà, khác với miền Bắc là Việt Nam dân chủ cộng hòa với chủ tịch là Hồ Chí Minh. Miền Nam vẫn dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ và miền Bắc là cờ đỏ sao vàng. Miền Nam theo chế độ dân chủ còn miền Bắc theo chế độ cộng sản, ngăn cách nhau bằng vĩ tuyến 17 tức con sông Bến Hải.

Kìa dòng Bến Hải đâu xa, mà nay cách trở sơn hà nước Nam ….

Những ngày đó chiếc ra dô (radio) suốt ngày ca hát khúc ca ngày mùa, từ tân nhạc đến cải lương, vọng cổ đến nỗi tôi thuộc lòng vài khúc ca:

  Em ơi vào ngủ với anh, sáng mai thức dậy nấu cơm đi cày

  Em còn bận dziệc dzá may, hừng đông có áo đi cài (y) với anh…

 Hay khi…   Tôi đây tên Tôn Các… tìm đường đi thi đành cam lạc lối giữa trời là trời sương rơi. Ôi rừng đau đớn chua xót dùm tôi… (vở Bạch Viên Tôn Các)

 Ôi! Ngày xưa thân ái …

 

    Phụ đề tài liệu trên mạng

**Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5, 1955. Dân Hà Nội có 80 ngày, Hải Dương có 100 ngày, còn Hải Phòng, điểm cuối cùng tập trung để di cư có 300 ngày.
   **Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư. Các chính phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Philippines, New Zealand, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức UNICEF, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), CARE và Thanh thương Hội Quốc tế.

   **Ngày 9 tháng 8 năm 1954, chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ tướng Ngô Đình Diệm lập Phủ Tổng ủy Di cư Tỵ nạn..

** Ngày 4 tháng 8 năm 1954 cầu hàng không nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập. Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1.200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.
Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là “tàu há mồm” (tiếng Anh: landing ship, tank viết tắt là LST) đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan… giúp được 555.037 người “vô Nam”. “Nam” được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông Cao uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam. Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8.

                            Tuổi vàng

                                                                       Sao Khuê 2008

 

       Như đất trời vào thu, Sao Khuê cũng rón rén nhè nhẹ bước vào mùa thu của cuộc đời mình! Bước vào mùa thu của cuộc đời là bước vào giai đoạn tuổi vàng. Chết chửa, sao quí vị lại nỡ lòng nào bắt chước cụ Nguyễn Trãi mà hỏi Sao Khuê: Này này hỡi bà cụ còn non, dẫu biết rằng bà chẳng còn son, vẫn hỏi xuân xanh bà nay  mấy, hỏi bà mấy cháu với mấy con. Để coi, Sao Khuê trả lời sao bây giờ: Tôi đến xứ này chẳng còn non, tuổi đời chồng chất hết còn son, xuân xanh nay mới vàng thu chớm, chồng thì có một với ba con. Nhưng mà quí vị kỳ quá à, ai lại đi hỏi tuổi đàn bà con gái bao giờ, tuy vậy đố quí vị biết Sao Khuê mấy tuổi ?

      Quí vị ơi, cũng như mọi người Sao Khuê đã trải qua nhiều giai đoạn cuả cuộc đời:  tuổi thơ khi còn trẻ, tuổi hồng, tuổi đẹp nhất của đời người mà người ta còn cho nhiều tên gọi như  tuổi xanh, tuổi ngọc…rồi tuổi thiếu niên. Lớn tí nữa thì Sao Khuê thèm ăn chua – í chết! quí vị chớ có nghĩ bậy là Sao Khuê có bầu thèm ăn chua sớm,  thật  ra Sao Khuê cũng như các cô ở tuổi teen  thèm chua nhưng chắc là cần vitamine C cho sự phát triển của cơ thể nên lúc đó Sao Khuê thích ăn chanh, ăn trái cóc, trái xoài, trái bưởi, trái me… nhất là thích ô mai chua chua ngọt ngọt nên lứa tuổi này người ta gọi là lứa  tuổi ô mai. Lớn lên tí nưã là tuổi thanh niên (tuổi này thường rất lý tưởng nên hay bị dụ khị như… này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi…). Qua thanh niên thì tới tráng niên (tuổi này hay bị vào tròng,ở yên không lành mà cứ đòi sống chung với một người lạ hoắc, hình như cỡ 25-35 tuổi), sau đó thành tuồi sồn sồn rồi tuổi… bà (có cháu gọi bằng bà, đi ra đường không còn được sấp nhỏ gọi là cô hay bác mà bị các cô chú choai choai này gọi là bà)…. Bây giờ thì Sao Khuê e lệ ngập ngừng tiến vào tuổi vàng và trong tương lai  có thể tiến lên  tuổi hạc…

    Khi nào bắt đầu tuổi vàng?  Điều này là điều bí ẩn của mỗi người nhưng có lẽ là lúc mà ‘lực bất tòng tâm’. Thật vậy quí vị nhỉ, nhiều lúc chúng ta tưởng mình còn khoẻ còn trẻ nhưng mà chúng ta phải khựng lại vì sức khoẻ không cho chúng ta xông xáo như xưa. Qua rồi cái thời đi làm suốt 13 tiếng đồng hồ liên tục. Bây giờ mà làm vậy thì mệt lắm, đã vậy còn mệt lâu nữa cơ. Tuổi vàng tới rồi đấy! Vậy lúc nào là tuổi vàng?

 Có người cho rằng tuổi vàng là lúc chúng ta nghỉ hưu; mà lúc nào là lúc nghỉ hưu đây? Có người về hưu ở tuổi 50, có người đến 80 vẫn còn đi làm tuy qui định chung chung của thế giới là từ 65 tuổi trở lên là được lãnh tiền già, vậy thì tạm thời chúng ta ngầm đồng ý với nhau  xấp xỉ 65 tuổi là lúc  chập chững bước vào tuổi vàng chăng?

      Mà tại sao lại tuổi vàng thưa quí vị?  Có lẽ người ta so sánh đời người với đời lá cây: khi còn non thì lá xanh, khi tới mùa thu thì lá đổi màu vàng, sau đó úa dần và lìa cành … nên tuổi vàng lại cũng coi như mùa thu của cuộc đời chăng ?

     Có người cho mùa thu đẹp, có người cho mùa thu buồn… Sao Khuê thì thấy vừa đẹp vừa buồn. Buồn vì sau mùa thu là mùa đông, mà mùa đông của Canada, eo ơi sợ lắm. Mùa đông đời người cũng vậy, có ai thoát ra khỏi cái hệ lụy Sinh Lão Bệnh Tử của cuộc đời đâu. Í ngu sao mà  nói chuyện buồn. Sao Khuê dư biết quí vị chỉ thích Sao Khuê cà kê dê ngỗng chuyện gì tếu tếu mà thôi. Vậy thì gác cái buồn của mùa đông sắp tới qua một bên, chúng ta nói tới cái đẹp của mùa thu.

     Mùa thu nơi Sao Khuê ở đẹp lắm quí vị ơi, lá nơi này đến mùa thu thì tuyệt đẹp: vàng, xanh, cam, đỏ…

Nắng quái ửng lên vàng cả chiều, lòng ngươì ngoạn cảnh thấy phiêu diêu, vàng ơi hãy giữ dùm ta nhé, thu vơí rừng thu vẻ mỹ miều…

Cuộc đời vào mùa thu cũng tuyệt đẹp quí vị ạ. Không phải ư?

Này nhé, quí vị được về hưu, khỏi phải ngày ngày tất bật đi làm… Quí vị bảo sao – nghỉ làm thì không có tiền tiêu ấy à ? Đúng rồi, Sao Khuê cũng vẫn nghe theo tiếng gọi của nữ hoàng vì chưa có tiền trợ cấp 65 tuổi:

N hoàng tuy rt xa.Tiếng người vng đến tai ta li gn.Li tha thiết ging ân cn. Luôn luôn nhc nh đi mn đi con

Tin luơng có mua đ son. Mua qun, mua áo con còn đi chơi.Có tin con được thnh thơi.Đi ăn, đi ung; đi bơi, bin, hồ.Lúc máy bay, lúc đi đò. Tin nhiu bc lm tha h mà đi. Đi mn đi!đi mn đi. Con đng biếng nhác, mau đi mà mn….

 

Nhưng mà từ ít lâu nay sao Khuê…mần biếng nhiều hơn mần việc vì sức khoẻ không cho phép, ấy là lúc mà lực bất tòng tâm đó! Còn quí vị, để coi, 65 tuổi rồi thì ít nhất quí vị cũng có trợ cấp tiền …già nè, tiên hưu nè, tiền để giành khi còn đi làm nè. Người xưa đã bảo là ‘tri túc tiện túc hà thời túc’, biết đủ tức là đủ. Ít tiền thì xài theo ít, nhiều thì xài theo nhiều. Nhiều quá còn mất công để giành… cho nhiều hơn đâu có dám tiêu xài, rốt cục chỉ là thần giữ của đấy ai ơi.

 Xem nào, các nhu cầu chính của chúng mình là gì nhỉ: ở, ăn, mặc, thuốc men, giải trí.

Ở: nhà to, nhà nhỏ, ấp bé thì ai cũng chỉ ngủ trên một cái giường 4 chân có đủ gối mền,nệm chưa kể nhà lớn phải dọn dẹp lau chùi nhiều, không có giờ nghỉ ngơi giải trí. 

Ăn: ăn uống thì hầu như ai cũng phải ăn vừa vừa kẻo mập ú rồi sinh bệnh: Phòng bệnh hơn trị bệnh. Nhiều tiền rồi cứ tiệc tùng, ăn tiệm hoài thì  càng dễ mắc bệnh lắm đấy!

Mặc: không ai có thể cùng lúc mặc  nhiều bộ quần áo lên người và người thon thả mặc áo nào cũng đẹp: em xinh em mặc áo nào cũng xinh (mà muốn thon thả thì phải ăn ít thôi) 

Thuốc men: Quí vị nào ở Canada thì tiêu chuẩn thuốc men đồng đều, Canada mới là xứ cộng sản chính cống về phương diện chăm sóc sức khỏe cho người dân.

Đến đây thì quí vị ..hoàn toàn đồng ý – nhất trí – với Sao Khuê rồi nhé, bây giờ tới mục giải trí:

  1. thể dục thể thao được xếp vào …giải trí lành mạnh, mỗi tháng đóng chút ít tiền là chúng ta có thể tập tài chi, tập danse en ligne, tập khí công vừa khoẻ mạnh vừa vui vẻ với bạn bè.

  2. Đọc sách, xem phim: sách báo thì mượn thư viện miễn phí chưa kể báo chợ phát không tha hồ đọc ngoài ra ít lâu nay chúng ta xem phim gần như miễn phí nhờ máy móc tối tân, vật liệu rẻ, mỗi người thâu vài bộ rồi vừa đi tập thể dục vừa trao đổi phim, xem không kịp luôn…

  3. Du hí: loại trừ những màn tứ đổ tường mà những người lành mạnh như chúng mình không bàn đến, nên du hí vơí chúng ta chỉ là nói tới chuyện du lịch mà thôi. Nhiều tiền thì quí vị đi chơi xa, Sao Khuê ít tiền thì đi gần theo các hội đoàn, đi đâu cũng là…ra khỏi nhà, ngoạn cảnh, vui với bạn bè chứ còn gì nữa.

Vậy thì quí vị cứ yên chí về hưu mà không sợ bị khủng khoảng kinh tế trầm trọng, dĩ nhiên không thoải mái so với lúc còn đi làm nhưng ở đời, liệu ăn thì no, liệu co thì ấm cái thân mình còn như cái chăn nhỏ quá lỡ không che đủ cái chân thì lạnh chút chút thôi mà (!) mí lại hổng lẽ đi cày hoài tới ngày xuống lỗ hay sao? ( noí vậy chứ Sao Khuê cũng lo thấy mồ, chả thế mà có tên là bà Cả lo ).

    Giải quyết xong một chữ T quan trọng rồi nhé (Tiền ) bây giờ tới cái T thứ nhì: Tình.

    Tình quan trọng lắm quí vị ơi. Đến tuổi vàng thì dường như nhà nào cũng chỉ còn có hai con khỉ già chưa kể có nhà lại chỉ có một, lủi thủi ra vào. Sao Khuê có ông bạn ở xa, có lần gọi điện thọai hỏi thăm thì ổng trả lời: lúc này tôi ở với hai cô – Ngon vậy ? –  Ừ hai cô đó là cô Đơn và cô Độc. Mèn ơi nghe chua sót thế nào ấy. Vậy thì ai đã lỡ ôm nhằm ‘cô Độc’ thì phải đuổi cái ‘cô Đơn’ ra khỏi cửa ngay nhé, không những thế tất cả chúng ta phải tìm đủ mọi cách mà tiêu diệt cái ‘cô Đơn’ này. Cô ta chẳng có gì đẹp đẻ cả đâu, đó là con mụ phù thủy vô cùng độc ác từ từ gặm nhắm chúng ta, làm cho ta hao mòn cả thể xác lẫn tinh thần mà chỉ có tình thương mới hóa giải được pháp thuật độc ác của mụ phù thủy này mà thôi. Mụ ta sẽ khiến chúng ta rút lại trong nghi ngờ, khổ đau,mặc cảm, ăn không ngon ngủ không yên, khó thở, căng thẳng…. Những dồn nén không nói ra với ai (cô đơn) ảnh hưởng đến tim mạch vậy  nếu quí vị sợ lên bàn mổ để mổ tim thì ngay từ bây giờ quí vị nên mở rộng con tim mình ra, trước hết là với …con khỉ già bên cạnh mình. Lâu lâu Sao Khuê cũng thấy ‘nó ’  đáng ghét thật đấy, nào là lơ đãng, bỏ đâu quên đó, hay gắt, hay cáu kỉnh nhăn nhó. Thỉnh thoảng có nhờ  việc gì thì một là hư, hai là hỏng, ba là sai bốn là sót, chưa kể còn cái tật để đến mai và còn hỏi tới hỏi lui tại sao phải làm, tại sao lại bắt  làm, lắm lúc tức điên ngươì lên…. Nhưng mà tưởng tượng đi, nếu con khỉ già này đau ốm, phải nằm nhà thương hay là …bỏ đi mất tiêu thì sao…. Thế thì quí vị ơi, nếu lỡ có điều gì đến nỗi ‘giận nhau từ muôn kiếp trước  ghét nhau đến thuở bạc đầu’ cũng  ‘hãy ngồi xuống đây, hãy ngồi với nhau, hãy nói cho nhau, hờn căm ngày nào, nỗi hận thật cao… ‘ nghe xong rồi thì ‘cùng nhau rũ sạch, ta nghe rạt rào, tình thương tràn vào, như mới thuở nào, mình mới quen nhau … ’  …sau đó mau mau ôm chặt ‘nó’ mà thương đi quí vị ơi. Thời gian còn lại ngắn lắm, rồi sẽ tới lúc nào đó không còn thể gấu ó với nhau!!! Có bao nhiêu người đã hối hận vì nhận ra sai lầm này quá trễ !…. Thương ‘khỉ già’ thì  đôi khi hơi khó nhưng thương ‘con cháu nó’ thì dễ hơn nhiều phải không quí vị. Tuy vậy đôi khi quí vị thương không… hợp thời trang thế kỷ thứ 21 thì phải. Ai đời quí vị cứ ‘áo mặc sao qua khỏi đầu’ bắt chúng phải theo ý mình, không được như vậy thì giận dỗi và đau khổ. Lạ chưa, khi xưa cha mẹ bắt ne bắt nét, bắt khoan bắt nhặt mình, mình có thích không mà bây giờ lại làm khổ con cái ? Giả tỉ chúng có sai quấy thì khuyên bảo và …thương nhiều nhiều thêm xem sao. Nói dại nếu chúng thuộc loại  …hết thuốc chữa thì ‘lấy câu vận mệnh nguôi dần khổ đau’ còn mấy cái chuyện nhỏ như chúng không đến thăm ta được thì ta đi thăm chúng, ân cần vui vẻ …tội gì mà câu nệ để tình thân lạt lẽo. Nói thật với quí vị nghe, từ bao năm nay Sao Khuê cứ phải lặn lội đi thăm con và cháu vì thông cảm chúng phải làm việc quá vất vả được ngày nghỉ lại phải công kia việc nọ, cái ngày chúa nhật của mọi người là ngày cháu nhật của Sao Khuê đấy vì bác sĩ Ornish, tác giả cuốn sách Love & Survival, nói rõ: Tách lìa tình thân gia đình và bạn bè là đầu mối cho mọi thứ bệnh từ ung thư, bệnh tim đến ung nhọt và nhiễm độc. Tình thương và tinh thần là gốc rễ làm cho chúng ta bệnh hay khỏe.

   Nhưng thương con khỉ già và cháu con chưa đủ, chúng ta còn cần đến bạn bè để tiêu diệt hết cô đơn. Con cháu còn bận làm ăn, mà chúng ta có nhiều thì giờ rảnh rỗi, nếu cú ru rú ở nhà thì lại sinh sự cãi nhau với khỉ già là uổng công tu hành sắp thành chánh quả, lại nữa nếu ở một mình mà cứ biệt lập, không ra khỏi nhà, không giao thiệp với bạn hữu thì dần dần sinh ra tủi thân, rồi trầm cảm, rồi than thân trách phận, ủ dột đi đến lo âu tuyệt vọng dẫn đến bao nhiêu là bệnh. Mau mau ra khỏi nhà đi quí vị. Gặp gỡ thường xuyên bạn bè ở những nơi công cộng như ở hồ  bơi, chỗ tập thể thao, tài chi, tập nhảy, chúng ta sẽ thấy vui vẻ và cân bằng hơn. Nếu có được một hai người bạn thân để trút bầu tâm sự lại càng tốt nữa. Những lo âu, giận hờn, buồn bực ngay cả..ganh ghét nói chung là những dồn nén mới đây hay lâu ngày mà  được nói ra (hay nếu không có ai chịu nghe thì phải được viết ra) để cho vơi nỗi sầu nếu không thì dễ mắc bệnh lắm qúi vị ơi. Nếu lại có những ngươì bạn để được  cùng nhau đi thiền, đi lễ, đi cầu nguyện thì chúng ta thật là may mắn như ngày xưa Bá Nha gặp Tử Kỳ:   

      Ch mt ln thôi, vn muôn đi.   

      Ch mt ln thôi mà mãi mãi.   

     Mt ln thôi ! ch mt ln thôi. 

    Mà dao cm ai đp v !     

   Tiếng đàn … theo nước trôi …  

   Ôi! mây trng nước xanh. 

   Xa nhau vi vi !

   Cũng vn trong nhau.  

   Vn sáng ngi !

Nhưng xích lại gần đây Sao Khuê nói nhỏ quí vị nghe: để giữ cho tình bạn được lâu dài thì ta chịu khó thu thanh, khi phát sóng cần gắn bộ phận lọc thật tốt để chỉ phát ra tin vui cho mọi người cùng nghe mà hổng có ai mích lòng và tâm niệm rằng muốn được tha thứ chúng ta cần biết tha thứ,muốn không bị chấp nhất thì chúng ta đừng chấp nhất. Sao Khuê có một bà bạn rất dễ thương vì bả cười suốt ngày và luôn luôn phán một câu xanh rờn: Uí nhằm nhò gì, chuyện nhỏ ! Đúng quá rồi còn gì, chúng mình đã làm bao nhiêu là chuyện lớn, giờ đây chỉ còn là những chuyện nhỏ không hà. Có lẽ chuyện lớn nhất còn lại bây giờ là chuyện …ra đi êm thắm, đúng không….này quí vị chớ cho là Sao Khuê lên mặt dậy đời, chẳng qua là Sao Khuê làm không được nên …thách quí vị chơi, nói dễ làm mới khó. Sao Khuê là …giám đốc xuởng chấp nhất và tới giờ này, gần vào nhà thiêu rồi vẫn còn kể tội con khỉ già bên cạnh. Chao ôi, muốn nghĩ nó là chuyện nhỏ mà nó cứ phình như quả bóng thế này !!!!Thế nên Sao Khuê phải đi Chùa. Quí vị nào không cùng tín ngưỡng với Sao Khuê thì đi đến giáo đường hay bất cứ đâu để cầu nguyện vì ngươì ta cho biết là những ngươì đi nhà thờ có huyết áp thấp hơn những người không đi nhà thờ.Trong cuốn sách nhan đề ‘God, Faith and Health’ tác giả cho biết những người có tín ngưỡng thường lành bệnh nhanh hơn, ít bị nhồi máu cơ tim, họ đối diện dễ hơn với những thăng trầm cuả cuộc sống và họ lạc quan hơn. Thật vậy, sau mấy chục năm mải mê bơi lội trong biển đời, đến lúc chúng ta cần một cái phao để tựa vào đó mà ..bơi cho…thoải mái và đỡ mệt hơn; cái phao đó chính là tôn giáo. Không biết quí vị thì sao chứ bây giờ khi đi du lịch, gặp chùa, Sao Khuê vào lạy Phật; gặp nhà thờ, Sao Khuê quỳ lạy Chúa và khi gặp hoạn nạn khó khăn, bệnh tật thì vái tứ phương! Khi nào bối rối thì Sao Khuê chuyên chú cầu nguyện để cho lòng  lắng xuống vì khoa học đã chứng minh là khi căng thẳng thì cơ thể tiết ra những hóa chất ảnh hưởng rất nhiều đến sức khoẻ, giảm đề kháng, dễ đau nhức bằng chứng là khi quí vị lo nghĩ nhiều thì bao tử bị quặn lại, lo sợ quá  thì tim thắt lại ….Sao Khuê ráng bắt chước nhỏ bạn: Úi bỏ qua!  chuyện nhỏ! Có lần Sao Khuê đang làm việc, khách vào đông mà điện thoại liên tục phải giải quyết ngay khiến cho một người khách còn trẻ người bản xứ phải chờ hơi lâu. Sao Khuê xin lỗi thì cô ấy nói là: chuyện nhỏ mà, ở đời còn biết bao nhiêu là chuyện quan trọng hơn. Thật vậy bình tâm suy nghĩ thì đời còn biết bao là chuyện lớn hơn, rồi mới đây ai đó chuyển đến cho Sao Khuê qua internet những châm ngôn trong đó có câu ‘niềm vui lớn là khi thấy mình có ích’ cho người khác và cũng lâu lắm rồi Sao Khuê được đọc một bài của một người sắp ra đi về cõi vĩnh hằng nói về Hạnh Bố thí. Thông thường khi nói đến bố thí thì chúng ta nghĩ ngay tới đem tiền ra cho. Tác giả bài này có lẽ giống quí vị đấy, bà ấy hầu như từ chối những sự giúp đỡ của người khác vì sợ phiền, sợ mắc nợ, sợ người ta coi thường v..v.. cho đến lúc gần ra đi về miền vĩnh cửu thì tác giả này mới thấy Bố thí ngoài nghiã đem cho còn có nghĩa là biết nhận. Cũng không phải chỉ có cho và nhận tiền bạc mà cho và nhận ráo trọi: niềm vui, nụ cười, thăm hỏi, ân cần, chia xẻ, giúp đỡ săn sóc, khuyên lơn v..v..  và điều quan trọng là càng cho nhiều lại càng nhận được nhiều và cho đi cái gì thì nhận lại ngay cái nấy theo thuyết lực và phản lực (action & reaction). Quí vị có lẽ cũng biết chuyện Đức Phật ngồi tu dưới cây bồ đề mà có một người Bà la Môn đến mắng nhiếc Phật không hết lời. Khi người đó mệt quá hết nói nổi nữa thì Phật hỏi:

 –  Nếu ông đem tặng người ta một món quà mà người ta không nhận ông có đem về không?

 –  Có chứ!

 –  Vậy thì ông hãy đem món quà mà ông đem đến tặng cho ta về đi.

Chúng ta cũng chẳng ai thích được bố thí kiểu này quí vị nhỉ. Lỡ có ai đem tặng thì gửi người đó đem về là  ta Tu được chữ sả đó, chữ này coi vậy chứ khó thấy mồ Sao Khuê cũng chưa tu được tí tẹo nào…Cô bạn của Sao Khuê khuyên rằng phải tập sả ngay từ khi một ý niệm xấu vừa dâng lên, đừng suy nghĩ hoài về nó để nó có cơ hội đâm chồi nẩy rễ thì khó mà sả ra  lắm lắm. 

        Ai đó đã nói cuộc đời là một tấm gương, mình cười với nó thì nó cười với mình, nhăn với nó nó nhăn vơí mình… Sao Khuê thấy đúng y chang. Sáng nào thức dậy vui vẻ chọc cười con khỉ già bên cạnh bằng cách đọc thơ  cho chàng nghe thì ngày hôm đó vui vẻ, bước chân vào chỗ làm mà cau có là y chang gặp chuyện bực mình. Quí vị không tin thì thử thí nghiệm xem sao, bảo đảm là đúng 100%.

      Quí vị thân mến của Sao Khuê ơi, những dòng chữ mà Sao Khuê viết gởi đến quí vị thật ra là những lời Sao Khuê nhắn nhủ cho chính mình, chẳng qua đi một mình thì buồn nên Sao Khuê phải tìm bạn đồng hành để mai kia mốt nọ đến khi phải làm độc hành nữ hiệp đi tuốt luốt về nơi xa xăm  thì chỉ đi một mình chứ còn rủ rê ai được nữa cơ chứ….Quí vị thực hành được thì giúp cho Sao Khuê coi như …làm phước

     Mà nè, quí vị có thấy hai chữ T thật ra không phải Tình Tiền đâu mà là Tha thứ để được Thảnh Thơi; Thành thật để được Thong Thả,Tĩnh Tâm để đạt được Thánh Thiện…..

      Xin mời quí vị cùng hát với Sao Khuê bài ca Tuổi vàng:

 

  1. Lời 1

 

Mây vẫn bay và thời gian vẫn trôi

Ngày nào bé bỏng trong nôi

Mà nay tóc bạc da mồi

Ngày nào còn khoẻ như voi

Mà nay đau nhúc tơi bời

Cuộc đời là giấc mơ thôi

Giấc mơ tuyệt đẹp người ơi

  1. Lời 2

 

 Em có hay

 Cuộc đời như lá bay

 Ngày nào tóc xõa thơ ngây

 Mà nay tàn tạ rã rời

 Ngày nào chạy nhẩy tung tăng

 Mà nay gậy chống

 Ôi chao cuộc đời

Cuộc đời là giấc mơ thôi

Giấc mơ tuyệt đẹp người ơi

 

         C.Điệp khúc

 

Sóng gió đã qua rồi

Nhục vinh đã trải hết rồi

Bây giờ là lúc nghỉ ngơi

Du lịch khắp nơi

Họp bạn vui chơi

Tâm lành thảnh thơi

Yêu con, yêu cháu, yêu ngươì, yêu đời

Ta yêu tất cả cuộc đời

Cuộc đời tuyệt vơì

Bạn ơi !

1001 ảnh cô gái mùa Thu đẹp với chút buồn (có Thơ ngắn hay) | IINI Blog

HƯƠNG ÁO THU VÀNG

Ấm lạnh buồn vui vòng dâu bể

Vòng đời chớp mắt xanh mây trôi

Gió cuốn tóc thề trăng sao thế 

Thân tình thu mộng áo vàng rồi…

 

MD.10/26/20

LuânTâm 

Thân cảm tặng “TUỔI VÀNG” 

&TG.VTS.Sao Khuê

 

Tuyển tập những bài viết tâm sự về mùa thu hay, ý nghĩa

Đa cảm tạ thi sĩ Luân Tâm , 

lúc nào cũng  chỉ bốn câu thơ mà gói ghém ý tình: áo vàng rồi!

Dạ , áo vàng rồi
Dâu bể buồn vui tình ấm lạnh
Mây trôi vòng đời chớp mắt xanh
Trăng sao gió cuốn , hề tóc trắng

Áo đã vàng rồi , kiếp mong manh 
Cảm ơn hiền huynh  . Cảm ơn chị MC và các vị đã dọc, sẽ đọc và sẽ vui…

Sao Khuê
Trăm năm trong cõi người ta
Trăm người thi sĩ một là Luân Tâm
Lời thơ gọn nhẹ tênh tênh
Bao lời thu gọn một lần bốn câu
Hay quá anh Luân Tâm, chị Sao Khuê.  Chúc mừng chị tuổi vàng chói mắt.
Thân mến,
Dương
 
“Trăm năm trong cõi người ta
Trăm người thi sĩ một là Luân Tâm
Lời thơ gọn nhẹ tênh tênh
Bao lời thu gọn một lần bốn câu
Hay quá anh Luân Tâm, chị Sao Khuê.  Chúc mừng chị tuổi vàng chói mắt.
Thân mến,
Dương”
 
Top 100+ Hình ảnh Thiên Nhiên Tuyệt đẹp Có Nhiều Lượt Xem Nhất Hiện Nay - Đề án 2020 - Tổng Hợp Chia Sẻ Hình ảnh, Tranh Vẽ, Biểu Mẫu Trong Lĩnh Vực Giáo Dục  
 
THƠ KHÓI MỘNG MÂY
 
Cảm ơn Dương Vũ kinh cầu
Buồn vui lẫn lộn thu sầu Sao Khuê
Nghinh phong các cõi đi về 
Khói mây thơ mộng trăng thề đường xưa … 
 
MD.10/26/20
LuânTâm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trang thơ của thi sĩ Sao Khuê

     Chia tay

 
Em ra về áo mỏng                         
  Em ra về phố nhỏ .
 Chiều đọng mưa buồn rơi
Hồn quyện hương muà thu
Anh ra về ngơ ngẩn
Chân bước thầm mộng du
 
Em ra về có nhớ                          
  Em ra về thơ thẩn   .
Khẽ hát khúc  nhạc thầm mưa rơi
Nhớ chuyện tình xa xưa        
Anh ra về có nhớ                       
Nhớ dỗi hờn vu vơ
Vu vơ….
 
Mùa thu nào gặp gỡ
Mùa hè nào đôi ta
Mùa đông nào phôi pha
Rồi thu về,chia xa…
Chia xa….
 
Con mắt nào đong đưa
Con mắt nào biết thưa
Tình yêu nào thầm kín
Thành chuyện tình xa xưa
Xa xưa…

                    Sao Khuê

                        2008-11-17

  Khối tình Trương Chi

Nhớ, nhớ, dâng như sóng thủy triều

Trương Chi bờ vắng đêm cô liêu

Ngàn sao lấp lánh ngoài vô tận

Có thấu cho lòng ..đau đớn yêu?

Vừa thoáng gặp đây mới lúc nào

Mặt chưa nhìn kỹ đã xa nhau

Tình hận bừng lên, hồng ngọn lửa

Nên đành đáy nước khối tình đau…

Thấp thoáng đáy ly,  bóng với hình

Thuyền tình theo tiếng sáo lung linh

Ly ngọc, nước trôi, thuyền, ảo ảnh

Mỵ Nương chớp mắt – một giọt xinh

Có tiếng canh gà theo gió sương

Thuyền trôi, người vào cõi vô thường

Nghẹn ngào lau nốt dòng dư lệ

Chén ngọc tan rồi! Thôi vấn vương.

                Sao Khuê .năm 2000

Tuyết Rơi

 



Tuyết rơi thì mặc tuyết rơi
Ngồi bên cửa sổ, ngắm thôi, ấm lòng
Mênh mông tuyết trắng mênh mông
Cành khô trĩu tuyết chùm bông trắng oà
Thương cho những kẻ không nhà
Đói ăn, thiếu mặc thật là trầm luân
Cầu cho người bớt phong trần
Có ăn có mặc bớt phần gian nan

Sao Khuê

   Khôn  khuây  

Ngày xưa ngày xưa

Khi còn con gái

Trót yêu một người

Thương nhớ đầy vơi

Rồi thuyền ra khơi

Không cùng một lối      

Tình chưa kịp ngỏ

Tình chẳng một lời

Sao cả một đời

Nhớ quá một người

Tình ơi! Tình ơi !

Tâm sự vơi đầy

Của người con gái

Chẳng được xum vầy

Thương nhớ khôn khuây.

                    Sao Khuê

    Nhờ

                       Sao Khuê

Em nhờ gió thì thầm

Lời em nhớ anh….

Em nhờ mây,

Đi dạo cùng với anh….

Và kìa nắng! hãy quấn quít bước chân anh…

Những con chim hoàng anh kia nữa

Hãy cất lên bài ca buổi sáng để mừng anh!

Riêng ly cà phê được quyền hôn nhẹ môi anh,

Còn những dòng chữ của tờ báo buổi sáng

Hãy nhìn anh để…

Anh không nhìn thấy ai khác

Mà anh chỉ nhìn thấy em

Giữa hai hàng chữ

Đang mỉm cươì

Đưa tay

Vuốt làn tóc rối

Bẽn lẽn thì tthầm

Em… em…

Áo Vàng

 



Về ngang bến cũ
Nhớ chuyện ngày xưa
Bên dòng sông nhỏ
Thảm cỏ trăng vàng
Bên khung cửa nhỏ
Bướm trắng hoa vàng
Chia tay vội vàng
Dư âm còn lại
Hoa vàng còn đó
Áo vàng nay đâu?


Sao Khuê

     Không có anh

 

Mùa xuân không có anh
Lá vẫn xanh
Chim vẫn hót trên cành
Nhưng em nghe lành lạnh
Như thể mùa đông
Vẫn còn đâu đó….
 
Mùa hạ không có anh
Hoa impatient
Không còn kiên nhẫn
Đã nở đầy bông
Những đóa hoa hồng
Tỏa hương thơm ngát
Mà em nghe như mất mát
Một chút gì…
 
Mùa thu không có anh
Thung lũng buồn ngơ ngác
Đón những chiếc lá vàng
Hoa thược dược hé nụ
Nhớ mùa thu cũ
Có anh…
 
Mùa đông không có anh
Trời rất lạnh
Nhìn qua cửa sổ
Chỉ thấy trắng xóa
Màu sương
Màu tuyết
Hồn vỡ ra
Từng mành
Sao quá mong manh
               1-2008

       Sao Khuê

Người Tình
 
Mỗi tối, trước khi ngủ
Mỗi sáng vừa thức dậy
Nằm trên giường
Ta ôm ấp
Em
Người tình
Khuôn mặt chữ điền,
Thật hiền.
Em nhỏ bé
Mà thông minh đáo để
Em lặng thinh
Mà kiến thức bao la
Em mang tin bạn từ xa
Đến với ta…
Em còn biết nói, biết hỏi,
Biết trả lời
Điều người ta mong mỏi…
Nhiều chuyện nay, xưa
Chuyện nắng chuyện mưa
Chuyện trưa chuyện tối
Chính trị rối bời
Thơ văn, âm nhạc
Tin tức nóng hổi
Sao cái gì em cũng rành
Cái gì em cũng biết…
Nên
Xuân sang hoa nở
Nắng hè rự rỡ
Đông qua tuyết đổ
Tình thu bồi hồi…
Bốn mùa em vẫn cùng ta
Chia sẻ mặn mà
Ân cần niềm nở
Khiến ta không nỡ
Rời em!
I Pad!

Sao Khuê

Kính mời quý vị thưởng thức các thi phẩm

của Sao Khuê

do Hồng Vân  diễn ngâm

Nhờ

 

Khôn Khuây

 

Không Có Anh

 

 

Khối Tình Trương Chi

 

 

Chia Tay

Hương Bưởi

 

 

Quỳnh Hoa

Mộng Với Hoa 

Hương bưởi  

                                  Sao Khuê

 

Có ai đã leo lên cành Bưởi

Nhỏ lệ rưng rưng, mắt đỏ au.

Ðâu biết bên kia khung cửa sổ

Có người đứng ngắm mà lòng đau .

Sau thân cổ thụ, tôi hàng ngắm

Ai tan học về để mộng mơ …

Tối đến đi qua còn đi lại…

Phải chi mà mình biết làm thơ …

Uớc gì sát vách, ta: hàng xóm,

Lùa vào khe cửa một tờ thư …

Thì cũng do mình hay mắc cở

Chỉ dám theo xa , Em chẳng chờ.

Ví thử hai nhà chung hàng giậu

Rồi con bướm trắng sẽ bay sang…

Tôi sẽ ngắm Em đi qua lại

Phất phới tung bay áo lụa vàng

Hay là… tôi ước thành Thi Sĩ

Mái tóc bềnh bồng, hai vai gầỵ

Không còn lưỡng lự, tôi sẽ đến

Trao tặng cho Em tập thơ dày …

Dáng Em đem khắc vào tâm tưởng

Khổ tôi đêm nhớ với ngày thương

Thu ba, Em nghiêng làn sóng nhỏ

Lòng tôi lảo đảo, sóng đại dương.

 

Tôi viết, viết ra rất nhiều lời

Nhưng rồi lại xé nát tả tơi.

Hương thừa trong gió còn thoang thoảng

Mà gót sen kia đã cách rời …

 

Trần gian, một thuở tôi đi lạc

Nhưng chẳng quên đường xanh lá me.

Sau gốc me già thân to lớn

Tôi vẫn chờ Em tan học về

 

Phải chi tôi có nhiều can đảm

Sẽ  chận Em về để hỏi thăm.

Lá thư sẽ nối liền…khoảng cách

Tôi, Em hôn ước kết trăm năm.

 

Em đã về đâu, cánh hoa rơi…

Thư tôi chưa gửi đã tả tơi.

Quăng bút từ nay thư không viết

Và cũng từ nay … bặt tiếng cười.

 Sao Khuê

     Tình Già

   Sao Khuê họa nguyên vận bài Tự Tình Dưới Hoa của Đinh Hùng 

Thân tặng anh chị  Lương & Thu  nhân ngày kỷ niệm 45 năm chung sống.

 

   Anh muốn cho em hiểu được rằng 

 Tình ta  vẫn  cứ  sáng  như     trăng

 Đôi   lúc  trăng  mờ   ta   đã      dại

 Đã  lỡ giận nhau  chẳng nói năng…

 

                     &  

         Từ phút ban đầu tay trao tay

         Trải bao trôi nổi đến nơi này

         Anh vẫn yêu em như ngày cũ

         Chẳng phải bồ đào anh mới say!

 

                              &

Trong bấy nhiêu năm có thời kỳ

Lệ em ướt đẫm đọng bờ mi

   Anh muốn đến gần nâng tay áo

Em giận anh gì –  em nói đi!

 

                               &

           Em còn muốn anh phải thế nào

           Ta từng đêm vắng đếm trăng sao

           Thơm ngát hương tình dàn thiên lý

            Rực rỡ mưa  xuân, dưới rặng đào

 

                             &

 

Đời sống, em ơi! chẳng phải thơ

Hoa thơm, gió mát, dạo bên hồ

Anh – Em, đã bao lần tình tự

Bao lần – em nhớ – vẫn như xưa…

                             &

 

              Dù có giận anh, chớ xưng tôi!

              Ta sẽ bên nhau suốt cả đời,

              Từ thuở Thu-Lương  se dây Nguyệt

              Sướng – khổ – bên nhau vẫn mỉm cười.

                          

                                         Sao Khuê 

   

 

Đến thăm

Anh đã đến,

Sao không cầm tay em vuốt nhẹ,

Dìu em đi

Giữa dải lụa trăng vàng.

Ngồi bên em

Trên đồi gió mênh mang.

Nghe, nghe thấy

Tiếng lòng em dấu kín.

Anh đã đến,

Sao không quàng vai lạnh.

Vuốt tóc em,

Thêm một cái hôn nhanh.

Nỡ lòng nào câm nín

Với lạnh tanh.

Để không gian

Như bao đầy băng giá.

Anh ra về,

Bặt bóng chim tăm cá.

Trời đổ mưa

Tầm tã tiễn anh đi;

Em nhìn theo

Chôn hết tuổi xuân thì.

Thêm lần nữa

Tình ơi!

Tình vất vả…

      Sao Khuê

       12-2007


ĐOẠN TRƯỜNG

                      Sao Khuê

                       Ta đã tìm Em khắp trời mơ;

                    Ơ hay, sao lạnh ngắt như tờ,

                    Chỉ nghe tiềm thức vang âm điệu

                    Và thấy quanh mình những hoang sơ.

                           Ta đến tìm Em tận biển sâu

                           Nhưng mà nào có thấy Em đâu

                           Chỉ nghe sóng vỗ tan hy vọng

                           Và thấy mênh mang nỗi hận sầu.

                  Sa mạc hoang vu đến tìm Em

                  Nhưng mà chỉ thấy có ai đem

                  Gió tung cát trắng lên cuồn cuộn

                  Và nghe khô mặn lệ đắng tuôn.

                        

                  Ta tung cánh nhạn khắp mười phương : 

                      Vẫn chẳng tin Em-Vẫn mù sương

                       Em ở xa gần? Chim bặt bóng!

                      Hay chính trong ta? Nỗi Đoạn trường!

            Sao Khuê


.

           Giọt buồn

 
Em gói giọt buồn vào chéo khăn
Biệt nhau ngày ấy, ánh trăng rằm
Mây bay theo bước đường lữ thứ
Trăng chiếu bên song, lẻ gối nằm .
                     &
Em thả giọt buồn rơi xuống ly,
Mong tìm đáy cốc bóng Trương Chi,
Lung linh đáy nước mờ nhân ảnh,
Ai gõ mạn thuyền: khúc biệt ly.
                  
                       & 
Em để giọt buồn lăn trên môi,
Thương tiếc tình ta đã một thời,
Cách chia, xum họp, nay tan vỡ,
Ly sầu em uống mãi không vơi.
 

                      Sao Khuê

                     10-2004

        Mộng với hoa

Từ lúc đôi mươi anh gặp em
Nhưng em còn mải sách với đèn
Đâu dám tỏ tình e hương vị
Làm bận lòng em lúc mới quen
Đôi khi có dịp gặp giữa đường
Chỉ dám nhìn thôi, ngát yêu thương
Anh vẫn cứ hằng ôm hy vọng
Mai này duyên nợ kết tơ vương
Anh ước cùng em một kiếp này
Thêm ngàn sau nữa tay nắm tay
Ta sẽ cùng nhau hòa mộng tưởng
Của  ngày mai và của hôm nay
Nhưng rồi một sáng thuyền ra khơi
Ô hay! sao chẳng thấy em cười
Anh đã theo em toan giữ lại
Nhưng rồi anh lại chẳng hở môi!
Anh vẫn nhớ hoài đôi mắt em
Ôi chao, anh nhớ quá hàng đêm
Nhớ những ngày tàn sương khói phủ
Quyền quyện chiều lên nhạt dáng xiêm
Bên khung cửa sổ em tỳ tay
Đôi khi còn nhíu cặp chân mày
Cong như vòng nguyệt trên vầng trán
Khiến lời chưa tỏ đã vụt bay.
Em ơi! Em có thấu nỗi niềm
Vì em kín cổng chốn thâm nghiêm
Em chẳng bao giờ nghe anh nói
Trăm ngàn lần:  ‘anh rất yêu em’
Thương thay em đã bước lạc đường
Xốn xang trong dạ anh tiếc thương
Tiếc thương rơi xuống ngàn giọt lệ
Quyện lại lòng anh nỗi vấn vương
Hai đứa chúng mình nay rất xa
Nếu em dạo bước dưới trăng ngà
Thì hãy nhớ rằng trần gian có
Có ta một thuở, mộng với hoa.

                Sao Khuê

 QUỲNH  HOA                                                  

                                          Ôi ! Quỳnh hoa, Em đến về đêm

                                         Không gian chào đón, lặng như chìm

                                        Cánh trắng hé  ra, trăng huyền hoặc

                                          Em đã đến rồi….       đời lãng quên …

                                     Em đến thăm, đêm đầu là đêm cuối

                                     Thoảng hương trinh, tiên nữ bị đày

                                     Chỉ một lần thôi gây thương nhớ

                                       Rồi Em trở gót, nhẹ như mây…

                                       Nhụy vàng một cặp, đôi hài nhỏ

                                      Áo em tà trắng, mỏng, lụa sa

                                      Mỗi độ xuân về, đêm Em đến,

                                      Sáng đã đi rồi, ta xót xa!

                                            Em đã đi rồi! đâu hình bóng

                                            Thoảng chút hương thừa theo gió bay 

                                            Ta chờ Em nhiều đêm thanh vắng

                                            Và thấy Em tàn buổi sáng nay!

                                          Em vô tình quá! Chẳng tiếc thương

                                          Sao mau trở lại chốn thiên đường

                                          Em đến, như là cơn  ảo mộng

                                          Hương quyện trong hồn ta vấn vương …

                                            Nhờ ai nối dài cho giấc mộng

                                         Nhớ nối  giùm ta chút tơ vương…

         

     Sao Khuê


Kính mời quý vị nhấn vào link dưới đây để thưởng thức

bài thơ Quỳnh Hoa của thi sĩ Sao Khuê

qua giọng ngâm của Hồng Vân

https://youtu.be/NsbHDfrCBvs

 

 

 

 

Trường hận tháng tư

 
Em hỏi chị:
Tháng tư về chị có buồn không?
Riêng em,
lòng chợt thấy bâng khuâng khó tả!
Tháng tư năm đó,
Kể sao cho siết
Những nỗi bàng hoàng:
Lệnh rút quân
ban hành ra vội vã:
Dân quân mình
chưa đánh đã tan hàng
Dân và quân tơi tả từng đàn,
Tầm tã dưới đạn rơi,
Thây người
vương vãi khắp nơi,
Nằm rải rác
theo rừng xanh biển cả…
Thế rồi từ các ngả,
Họ tiến đến Sàigòn
Mỹ đang bỏ chạy…
Tiếng trực thăng
vần vũ trên đầu,
Mỹ  kéo nhau về nước…
Còn dân mình, biết chạy đi đâu?
Người ra bến Bạch Đằng,
Kẻ vào toà Đại sứ,
Kẻ đi tìm thuyền nhỏ
Khánh Hội, kho Năm…
Mọi người ùn ùn bỏ chạy
Bỏ của chạy lấy người…
Chạy! Chạy! Chạy !
Ra biển… ra biển..đi .. chạy đi!
Hãy tìm đường ra biển
Dân mình chạy
như những người điên…
Có người bảo: Ở yên!
rồi sẽ đâu vào đấy
quân ta sẽ thu hồi
như Tết Mậu Thân…
Nhưng chúng ta lầm!
Chúng ta đã lầm:
Dương Văn Minh
ra lệnh đầu hàng.
Nước mất? Mất rồi sao ?               
Mất thật rồi sao ?
Ô kìa, ta mất nước hay sao?
Hay chỉ là giấc chiêm bao?
Lẽ nào? Lẽ nào?
Có lẽ nào ta thua trận ?
Có lẽ nào thua trận hay sao…
Thua trận thật sao?
Coi kìa ! Coi kìa !
Họ tiến vào như lũ rận
Quần áo bèo nhèo
Nón tai bèo
Chân dép râu
Mặt non choẹt
Như một lũ mán về thành
Trời ơi! Sao  nỡ đành
Sao nỡ đành
Để nước mất
về tay những người như thế?
Đài phát thanh,
tiếng gì kêu the thé
Tiếng Tầu, tiếng Mọi?
Tiếng An Nam?
Chẳng hiểu cô ta nói gì?
Tiếng nhạc cũng rất kỳ
Chỉ có một bài nghe được
“Nối vòng tay lớn”
đệm tiếng guitare
Hừ! Không còn chối cãi!
Mọi người hớt hải:
Trước quốc hội,
vị sĩ quan già tuẫn tiết
Cầu xa lộ,
anh lính trẻ tự xiết cò
….
Vung vãi khắp nẻo đường
Quần áo lính           
Quần áo của tàn binh
Của lính mình
Nay thua trận, thành hàng binh.
Bị lùa vào trại
Họ bảo là học tập   
Nhưng hơn cả tù đầy
Và không có ngày ra
Hùa theo lũ mán vào thành
Những kẻ ba mươi, chỉ điểm
trong bọc chui ra
ba hoa,
mù lòa cuồng dại
Băng đỏ trên tay,
hách xì xằng phách lối
Làm càn làm đại
 
 
Màu đỏ, màu máu khắp nơi
Băng đờ rôn màu đỏ
Bảng hiệu, cửa hàng
Từ lúc họ vào
cũng vội vàng sơn đỏ
Đỏ, đỏ, đỏ, cờ đỏ, máu đỏ
…..
 
Tư sản mại bản
Họ đánh cho tiêu tán
Rồi tư sản dân tộc
Mà nhiều người trước kia
từng nuôi Việt Cộng
Cũng bị giộng cho tiêu tùng
Họ đánh theo chỉ tiêu
Nên xóm nghèo có hai ba hàng tạp hoá
Cũng bị xoá sổ
Tịch thu nhà, xô đi kinh tế mới
Họ đào đào xới xới
Để tìm vàng
Ngụy quân, ngụy quyền               
Mau đi trình diện
Hành trang 1 tuần hay 1 tháng
Nhưng … nhưng…
Chẳng thấy ai về…
 ….
Văn nghệ sĩ dẫu đã đầu hàng
Vẫn bị lùng bắt và bỏ tù, tra tấn
Phan đăng Lưu, khám Chí Hòa
Vào là chẳng biết ngày ra…
 …
 
Em, là cô  giáo,
em xin đi dạy học
Học chính trị!
Mọi người phải học chính trị!
Ba dòng thác cách mạng
Là quái quỷ gì đây?
Đảng ủy hay đảng “quỷ”
Người miền Nam chỉ có một âm
Ủy hay Quỷ, cũng là một thứ
Quận “quỷ”, thành “quỷ”
Chung quanh toàn quỷ đỏ
Dạy mình điều quái quỷ
Mọi người nghe , “tiếp thu”
Làm “Thâu hoạch” 
Rồi “phê bình”, “tự kiểm”
Vách cũng có tai
Mình rình người ta
Người ta rình mình
Chúng bầy ra, kiểm tra
 Để moi suy nghĩ người ta
Học trò thì vẫn như ma
“Phản động”, sửa lời ca
Sửa cả khẩu hiệu :
“Nhà nước quản lý nhân dân,
Làm chủ tập thể!”
Sự nghiệp của “bác Hồ vĩ đại”
“Sống mãi trong quần chúng ta”
Ha ha ha!
Đến tên đường phố,
dân cũng không tha
Từ khi con đường
mang tên mới:
“Nam kỳ khởi nghĩa”:
tiêu “Công Lý”
“Đồng Khởi” lên rồi:
mất  “Tự Do”…
Họ, họ gây xáo trộn liên miên
Họp tổ, lao động , đổi tiền
Không để dân yên
Ngày 6 tháng 6 , 1975
Chính phủ cách mạng lâm thời
Ra lệnh 
năm trăm đổi lấy một đồng
Mỗi “hộ” hai trăm.
Mỗi gia đình có tờ hộ khẩu
Để mua nhu yếu phẩm
9 kí lô gạo mục một đầu người
Nửa ký thịt bầy nhầy
mỗi gia đình
cho cả tháng…
Đó là Chủ nghĩa xã hội CNXH
Là cả nước xếp hàng
Xã hội chủ nghĩa XHCN
Là xuống hố cả nước để
Ăn khoai hà thay gạo mục
….
Ba bước nhảy vọt
Đảng lọt tọt chui ra,
Mặt trận giải phóng
Cách mạng lâm thời
Đi chỗ khác chơi…
Bây giờ mới thật tơi bời
Bây giờ mới thật tả tơi
Ôi! ba mươi tháng tư
Cả nước vào tù…
Chị ơi!
 

     Sao Khuê – Tháng tư 

         HÀNH  PHƯƠNG BẮC

Họa bài Hành phương Nam của  Nguyễn Bính

Chúng ta lưu lạc đến chốn này

Quá nửa đời người, tuyết lạnh bay

Xuân đến  mà không mai vàng nở

Rượu bánh ê hề – chẳng thể thay!

                                &

Đối ẩm một mình lưng ly rượu

Bạn hiền vắng bóng, chẳng hề say.

Nhớ lại bẩy lăm, người qua Mỹ

Ta thì kẹt lại, phận không may!

                    &

Từ đó quẩn quanh vòng cơm áo

Thừa phút giây nào, vơ vẩn mây.

Người đã ra đi từ buổi trước

Có nhớ tình ta trong phút giây

                          &

Nợ ta – ai vẫn còn một món.

Tình – tiền – ta trắng cả hai tay!

Quê người xa lắc xa lơ đó,

Còn nhớ chăng người, áo trắng bay…

                  &

Thế rồi di tản qua phương Bắc

Nhìn lại quê xưa, khổ thế này!

Nhiều đêm ta muốn ôm mặt khóc

Mà lệ không đong đủ giọt đầy

                  &

Đi không trở lại – thôi là hết!

Mẹ già, em dại, phận nào hay

Ngoảnh lại, chỉ thấy hờn non nước

Biệt ly – xa cách  – từ buổi nay!

                 &

Áo cơm, đèn sách, quên son phấn

Muốn ngã, nhưng rồi đứng dậy ngay

Gió đông se lạnh, tê cả mặt

Bão tuyết, bão đời, vẫn toàn thây         

                &

Nam nhi vơi nỗi sầu cạn chén,

Còn ta  –  ai là kẻ dìu tay

Bạn cùng sách vở – kinh vô tự

Hữu với thiên nhiên, dạo đó đây

            &

Quê nhà  – nên  trở  về  thăm chứ

Sầu  hận dâng lên … ngút tận trời

Bạn ta – có  kẻ  ngồi  giữa  chợ

Gõ bồn mà  gọi: Việt nam ơi!

               &

Nhưng tiền vẫn trắng như ngân nhũ

Gái, rượu , ăn chơi, rộn tiếng cười

Việt Nam ơi! Hỡi – Việt nam ơi!

Xứ nóng nhưng tình sao lại lạnh

Ta đứng trông về – lạnh mấy mươi!

                         Sao Khuê

                       15-10-2004

 Thơ Hành Phương Nam

của Nguyễn Bính

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà ta với ngươi buồn vậy thay

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu chưa ai may

Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trói thân vào nợ nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ tình chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi hẵng hay
Ngày mai xán lạn màu non nước
Cốt nhất cười vui trọn tối nay

Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi biết tỉnh say
Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.

Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi.

 Nguyễn Bính

CHO MÌNH TA KHEN 

 

Thèm ghen thèm giận quá thương thèm

Đi đâu cho anh mãi cõng em

Bể dâu kinh kệ bồng kỷ niệm

Tuyệt chiêu dỗ ngọt mình ta khen …

 

MD.07/24/20

LuânTâm

Thân cảm tặng “TÔI MÀ THÈM GHEN”& tác giả Sao Khuê 

Cung Thi Lan created April 09  ,2020 / updated April 22, 23, 27 2020 and July 23,2020