Tưởng Nhớ Ngày  Quốc Hận 30 tháng 4 năm 1975

Thư của chủ tịch

Văn Bút Hải Ngoại Miền Đông Hoa Kỳ

 Văn thi sĩ Hồng Thuỷ

Thưa các anh chị THÁNG 4 đã về. Tháng 4 là tháng cuối cùng của chúng ta còn được sống trên QUÊ HƯƠNG THÂN YÊU.
Cuối tháng 4 là thôi, là hết. Sau 30 Tháng 4 quê hương chúng ta đã nghìn trùng xa cách cho những người phải ra đi.Những người còn kẹt lại thì dù vẫn được sống trên quê hương nhưng đã là một quê hương hoàn toàn đổi mới dưới ách thống trị của cộng sản.Những ngày tự do, êm ấm cũng không còn nữa.Tất cả chúng ta chắc chắn có ít nhiều kỷ niệm với THÁNG 4 ĐEN. CHÚNG TA HÃY HỌP MẶT TRÊN DIỄN ĐÀN NÀY kể lại cho nhau nghe NHỮNG KỶ NIỆM ĐAU BUỒN đó.
Xin các anh chị gửi các bài viết, thơ, văn, cũ,mới về THÁNG 4 ĐEN để chúng ta cùng nhau NHỚ LẠI MỘT NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN 30 THÁNG 4 NĂM 1975.Ngày TANG TÓC CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH THỂ CÔNG HOÀ.
Thân mến
Hồng Thuỷ

Kính mời quý anh chị xem phỏng vấn của nhà báo Đào Hiếu Thảo qua điện thoại với BS Đỗ Văn Hội về Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4

THVNHTĐ thực hiện Phỏng Vấn qua Điện Thọai BS Đỗ Văn Hội Cố vấn Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ về Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 2020 và  bênh dịch vi khuẩn Vũ Hán.

 

 

30 tháng 4 năm 1975 chị ở đâu?

Chị về nhà sau một ngày lang thang ngoài đồng. Con trâu đã vào chuồng ngủ yên. Chị lặn lội ra bờ ruộng cắt một gánh cỏ về sân hợp tác xã trình diện rồi đem vào chuồng trâu. Chị cũng không cần biết hôm nay mình được bao nhiêu điểm lao động. Cuộc đời chị như cái máy chạy theo những mắc xích vòng quay. Sáng trưa chiều tối, chị làm, chị sống, chị sinh hoạt như một cái xác không hồn. Chị đã mất tất cả niềm vui và nụ cười từ khi chị đặt chân lên mảnh đất này.

Chị bước vào nhà, buổi chiều đã buông. Ngoài sân mấy vồng ớt,nén, cà chờ chị cho tí nước uống. Nó cũng khao khát như chị. Nó muốn được sống, được hít thở khí trời, được ươm hoa kết nụ. Đứa con gái lớn bồng em lao ra mừng mẹ. Nhìn con, chị chỉ muốn khóc, muốn ôm nó vào lòng chở che, an ủi. Con ai đem bỏ nơi này. Tội thân con tôi. Đứa con gái có đôi mắt xanh thật đẹp, làn da trắng với những cọng lông tơ phơn phớt. Mái tóc vàng rối tung theo gió chiều. Bộ quần áo vải đã sờn vai, bạc màu. Quần ngắn ngủn để lộ ra cặp đùi trắng trái ngược với màu vải đã xám xịt xấu xí. Chị nhìn hai đứa con lòng như dao cắt. Đưa tay ra đón đứa con gái nhỏ, chị bảo con chị: 
– Đem giỏ cơm vào nhà đi con. Mệ con đâu?
 – Mệ đi qua nhà mụ Chắt. Nghe nói ngày ni bên nớ có kỵ.
 – Ờ! Con đã ăn cơm chưa? 
– Con đợi mạ về ăn luôn. 
Chị vào nhà, ôm con bé em trong tay, xiết chặt con vào lòng, những đốt xương sườn cấn vào tay chị. Hai đứa bé vừa qua cơn bệnh nên đứa nào cũng gầy nhom, xanh mướt. 
…..


Chị nhớ từ ngày chị về nơi này, vì khí hậu không quen nên mấy đứa con cứ khó chịu, nay đau mai yếu. Chồng chị đã theo lệnh triệu tập, cơm đùm gạo bới đi theo lệnh ủy ban chưa nghe tin tức gì. Con bé lớn cả tuần cứ ho. Mỗi lần cơn ho kéo tới cháu lại ói. Những thức ăn, nước dãi tuôn ra theo từng cơn ho. Nó rũ người xuống oằn oại thở không ra hơi. Nó đã trắng lại bị bệnh nên làn da trắng trở nên bạc phếch. Hai con mắt xanh lõm vào như cái hố bom. Nó cố gắng ngóc đầu nhìn chị ,đôi mắt mệt mõi, hơi thở khó khăn. Chị ôm đầu con vào lòng ứa nước mắt. Thuốc men đâu còn để lo cho nó. Làm gì có bác sĩ hay tiệm thuốc tây để mua. Con bé lớn đã vậy, con bé nhỏ lại nổi ban. Người sốt từng hồi, mặt mày đỏ bừng, hết sốt lại lạnh. Hai đứa con nằm rên hừ hừ trong sự bất lực của người mẹ. Má chồng chị dù bệnh cũng không thể nằm yên . Bảo chị phải xoa dầu cho con rồi nấu nước gạo rang cho cháu uống.
 
Buổi sáng chị cõng con lớn đi trạm xá. Con bé đã lớn lại cao, chị cõng con chân nó lòng thòng gần chạm đất. Con đường từ nhà đi lên trạm xá phải qua mấy xóm, bọc theo con đường dẫn ra ruộng tuốt mãi ở xóm Yên.Tới nơi thả con xuống cái ghế gỗ trước trạm xá là chị ngồi vật xuống thở dốc, dường như tất cả sức lực của chị đã cạn. Con bé rũ người ra như muốn té. Chị lại bật dậy đỡ con. Cô y tá mặc cái quần chẽn, áo trắng cổ bâu như dân công đi tải đạn. Cô ta bước tới rờ rờ đứa bé. Chẳng biết cô có kinh qua trường lớp gì hay không, chỉ biết cô là đồng chí hộ lý, là cán bộ y tế ngoài Bắc vào công tác. Phụ tá cô ta là con gái của lão chủ tịch xã, nghe nói đã tốt nghiệp lớp 2 trường làng ở đây. Loay hoay một hồi, cô ta ghi vào sổ tên họ chị và con bé. Mở lọ thuốc vạn năng, cấp cho chị vài viên Xuyên Tâm Liên bảo về canh chừng cho con bé uống. Thế là xong. Chị biết mấy viên thuốc đó chả tác dụng gì, nhưng vẫn nhận về. Vì chị cần giấy chứng nhận là con chị bệnh thật, để chị được tạm nghỉ lao động một ngày, không bị đem ra kiểm điểm và ghi vào sổ đen. Chị lại cõng con bé lớn về qua con đường hồi nãy đã đi. Chị lấy cái khăn trùm lên đầu con cho khỏi nắng và che luôn cho mình vì không thể đội nón lá. 
 
Buổi chiều trước giờ trạm xá đóng cửa, chị lại bồng con em đi khám và cũng nhận vài viên Xuyên Tâm Liên như con bé chị. Lần này có thêm lời dặn dò: -“O nhớ tán ra cho hén uống”. Đi đi về về, hai chân chị muốn rã rời, hai tay tê dại, lưng mỏi, người ê ẩm mà hai con bé vẫn trơ ra, bệnh  càng ngày càng nặng. Chị nuốt nước mắt, nỗi uất nghẹn dâng lên làm chị không thở được. Tức ran cả ngực, cái đầu muốn vỡ tung. Mẹ chồng chị cũng đau thương không kém. Bao nhiêu chịu đựng, dồn nén khiến bà suy nhược, đau nhức toàn thân. Bà gục xuống nằm li bì . Một mình chị chăm ba con bệnh trong hoàn cảnh lạ người lạ quê. Con gà mái mới gầy, nhảy ổ được vài ba trứng, chị lấy nấu cháo cho mẹ chồng, cho con. Chị muốn thịt luôn con gà để hầm cháo mà mẹ chồng không cho:

– Thôi con! Để nó còn đẻ lấy trứng tẩm bổ cho cháu. 
Một buổi tối. Chị ra giữa trời, nhìn lên bầu trời tối thui chị muốn hét to hết hơi sức của mình nhưng kịp thời dừng lại. Chị lấy tay quẹt nước mắt và nói với tất cả dồn nén trong lòng:
 -Ông Trời! Tui bây giờ không còn gì hết. Hai đứa con tui, Ông muốn bắt đứa nào thì bắt một đứa. Đứa kia cho nó lành bệnh. Con ruột, con nuôi tui không phân biệt. Tui quá sức chịu đựng rồi. Tui không đấu với Ông nữa, xin Ông tha cho tui. 
Chị cũng không biết sao chị lại nói những lời không đầu không đuôi, bất tôn, bất kính như vậy. Chị là Phật Tử, lúc nào cũng niệm Phật mà giờ chị lại ra sân nói chuyện với ông Trời. Buổi sáng, trời còn tờ mờ. Chị dậy sớm ra vườn hái đọt chè tươi nấu nước cho mẹ chồng. Hốt nửa lon gạo bắt cháo cho con. Ngồi khơi lửa rơm cho nồi cháo, ghế ấm nước chè bên cạnh chị nghĩ mông lung. Phải làm gì đây? Liều thôi. Sống chết có phần số. Không lẽ cứ bó tay đứng nhìn. 
Chị ra vườn, hái tất cả những loại lá, loại rau mà chị biết. Đào ít cỏ gấu, giựt ít dây tơ hồng, cỏ vườn chầu, rễ tranh, lá chanh, lá ổi. Chị hái không kể số là loại gì và bao nhiêu. Chị đem tất cả xuống sông rửa sạch. chặt nhỏ, phơi hơi héo héo, rang thủy thổ rồi nấu nước cho mọi người uống. Hai đứa bé luôn cả mẹ chồng. Chị đã tới nước liều, chị cóc sợ điều gì xảy ra. 
Thế rồi, như một phép lạ, cơn ho con bé lớn vơi dần và vài ngày hết hẳn. Con bé nhỏ dịu sốt và ban trắng từ từ lặn, để lại những mảng da đen đen. Mẹ chồng chị đã có thể dậy và ra chợ bán để kiếm cơm nuôi cả nhà. Sau cơn mưa trời lại sáng, các con chị đã có thể chăm sóc lẫn nhau, chị lại tiếp tục ra đồng hợp tác xã làm việc như bây giờ. Có lẽ ông Trời đã nghe chị kêu, đã đồng cảm với chị, cho chị một con đường để tiếp tục cuộc hành trình cam khổ.
…..


Chị vào nhà lấy cơm cho con ăn. Lựa khoai chị gắp ra một cái dĩa để mình ăn, còn cơm trắng đơm vào chén cho con. Mấy con cá sông kho với ớt đỏ lòm bắt mắt. Ở đây, người ta ăn ớt như không hề biết cay và con bé lớn chị không biết từ lúc nào nó có thể ăn ngon lành. Còn chị thì chỉ ăn cá, gạt ớt không ăn mà còn bị cay phỏng  cháy cả lưỡi. Chị múc nước tô canh rau tập tàng chan vào chén và đút cho bé em. Tội nghiệp mẹ chồng chị đã nấu sẵn trước khi đi có việc. Ăn xong, chị bảo con bé chị chơi với em để mạ gánh nước tưới ớt kẻo tối.

Chị gánh đôi thùng ra bờ sông. Hôm nay sao bến vắng lạ lùng, không có ai xuống tắm hay giặt giũ. Chị để đôi thùng trên mấy tảng đá rồi thọc chân xuống nước,nhìn ra mông lung. Sông Ô Lâu nước trong vắt, bên kia sông thấp thoáng nhà cửa và bóng người qua lại. Những con cá lội lững lờ dưới chân chị. Thỉnh thoảng lại đụng vào chân chị nhồn nhột. Có vài con tép nhỏ bơi qua về bình an, vô tư. Chị không biết mình nên buồn hay vui, nên khóc hay cười. Hôm nay, trong sân hợp tác xã chị đã nghe tin Sài Gòn thất thủ. Mọi người vui mừng hò reo. Mấy tên Cán Bộ hét lớn: 
-“Quân ta toàn thắng, tăng ta ủi sập dinh Độc Lập rồi. Tướng Minh đã đầu hàng.
” Quân ta toàn thắng” Chị bước ra khỏi sân tập đoàn, tránh xa tiếng hò reo ồn ào. Nước mắt không chảy mà tim đập rất nhanh. Quân ta toàn thắng? Quân nào là quân ta? Quân nào là quân địch. Trong cái mớ hỗn độn đó chị nghe như có tiếng kêu gào, tiếng khóc dậy trời và những tiếng nổ kinh hồn của đạn pháo. Chị không biết cha mẹ mình ra sao? Anh em người nào còn, người nào mất. Còn thằng em út đi Hải quân có kịp về nhà, đã chết hay đã di tản theo tàu. 
Con mắt chị mờ theo ánh nắng chói chang. Sài gòn thất thủ là chị còn cơ may tìm về cha mẹ. Tất cả đều đã xong hết, đã tận cùng. Đất nước và con người đã cạn kiệt sức lực vì hai chữ hòa bình và tự do. Máu đã đổ nhiều rồi, nước mắt đã chảy thành sông. Khăn tang cô phụ, thi hài tử sĩ, tiếng khóc mẹ già, nước mắt con thơ đã vang lên từ bao nhiêu năm.Thôi thì hòa bình cũng tốt. 
Chị nghĩ như vậy và nghĩ đến con tàu Bắc Nam đem chị về nhà cha mẹ. Về mảnh vườn thân yêu quen thuộc. Chị lại được hít thở không khí tự do và đầm ấm gia đình.
Rồi chị lại lạnh cả xương sống khi nghĩ đến thực tế. Tự do ư? Rồi miền Nam cũng sẽ là Cộng Sản, cũng Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc. Cũng làm ăn tập thể, cũng hội họp thâu đêm, cũng chế độ tem phiếu, cũng bình bầu, cũng góp gạo nuôi quân, cũng nắm gạo bỏ hũ cho hội phụ nữ, cũng nắm gạo tích lũy cho đoàn Thanh Niên…
Cũng băng rôn, cờ xí trên mọi ngả đường, cũng cổng văn hóa mỗi đầu xóm nhỏ… Một miền Nam trù phú, rộng rãi, tự do phải đi vào hợp tác xã, phải quy nạp tài sản đất đai vào tập thể, phải lao động, chấm công, bình điểm. Chị không thể tưởng tượng được xã hội miền Nam sẽ đối phó như thế nào. 
Bây giờ ngồi một mình yên lặng, chị thấy mình thật mâu thuẫn. Vui hay buồn khi Sài Gòn thất thủ, cha mẹ chị phải làm sao khi cả đàn con đều mang súng Quốc Gia. Còn chồng chị bao giờ mới về. Nơi này con sông Ô Lâu vẫn lặng lẽ trôi và buồn ngơ ngác. Ở quê nhà con sông Đồng Nai của chị có nổi sóng ba đào hay im lìm chịu đựng. Con đường về Nam hy vọng mới lóe lên đã tắt ngúm khi người kiểm soát người. Khi chế độ hộ khẩu và hệ thống kiểm tra lý lịch chặt chẽ gò bó người dân. Chị làm sao có đủ chữ ký và cái mộc đỏ chói từ ông đội trưởng hợp tác xã, hội Phụ Nữ đến Ủy Ban Nhân Dân xã, theo hệ thống các Ban Ngành kéo dài tới tỉnh để được phép về nhà thăm viếng  Mẹ Cha. 
Nước mắt chị ứa ra, chị như con chim bị nhốt trong lòng không cách chi vùng vẫy.
 -Mạ ơi! răng mà lâu rứa mạ!
Có tiếng con bé lớn gọi chị. Có lẽ chờ lâu không thấy chị về, con bé chạy đi tìm vì sợ chị gánh nước lên dốc bị té hay lấy nước bị hụt chân. Chị trả lời cho con yên tâm rồi quảy đôi thùng xuống sông lấy nước.
Tháng Tư, ngày 30 sẽ là điểm mốc của lịch sử Việt Nam. Chị đã chứng kiến Đà nẵng hỗn loạn, tan tác trong ngày bỏ ngỏ. Chị biết Sài gòn sẽ còn ghê gớm tang thương hơn. Ôi thành phố hoa màu, Hòn Ngọc Viễn Đông sẽ chìm trong biển lửa. Chạy trốn nơi đâu, thoát thân cách nào. Toàn bộ VN đã nhuộm màu cờ đỏ. Thế là đã hết, đã chấm dứt thể chế Quốc gia. Nơi đây không một tin tức từ bên ngoài. Chỉ nghe vang vang tiếng loa phóng thanh từ Ủy Ban xã và tiếng nhạc rền vang cao thấp  âm hưởng lạ kỳ. Bầu trời thì cao rộng mà con người nhỏ bé lạc loài vô vọng.

Mấy chục năm đã trôi qua. Ngày 30 tháng tư năm đó anh ở đâu? Chị ở nơi nào? Tôi trả lời cho câu hỏi mà mọi người hỏi thăm nhau mỗi dịp tháng tư  đen. Ngày đó tôi ngồi bên bờ sông Ô Lâu khóc cho vận nước, khóc cho chồng, cho mình, cho con. 30 tháng tư năm nay tôi đang ở California nước Mỹ. Hai đứa con gái ngày xưa bây giờ là những phụ nữ trung niên, con cái đầy đủ. Chồng tôi đi tù hơn 8 năm đã được thả về với thân thể và tâm hồn rách nát. Anh đã hoàn toàn mất hết súng đạn với nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Hiện tại anh đã từ giả cuộc đời, ra đi yên nghỉ.  Còn tôi, người vợ lính ngày xưa chờ chồng tù tội trở về, bây giờ đã trở thành một bà già yên phận ở tuổi thất thập có dư. Tôi cũng đã hoàn thành nhiệm vụ đối với gia tộc là sinh cho anh thêm hai thằng nhóc con. Bây giờ hai thằng nhóc đó đều là hai người lính trong quân đội Hoa kỳ. Một thằng Không Quân, một thằng dưới biển.
Vâng.Tôi đã kể câu chuyện của tôi trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Còn anh, còn chị, còn các bạn. Ngày 30 tháng 4 năm đó đã làm gì? Ở đâu? 
Nguyễn thị Thêm 

 Nhân ngày Quốc hận 30-4 2020, tôi xin thân tặng quý thân hữu bài thơ dưới đây  mong quý vi thưỡng lãm. 

            CT/LMS

 

Inline image
             NGÀY QUỐC HẬN

Ba Mươi tháng Tư, đại tang Tổ quốc

Tang tóc quê hương, tang tóc muôn dân

Cộng sản Đệ Tam Quốc Tế vô thần

Nga, Tàu, và lủ ác ôn Việt cộng

Phát động chiến tranh tàn phá quê hương.

Người  dân Miền Nam khốn khổ khôn lường

Hàng triệu triệu người vượt biên bỏ nước

Chết trong rừng sâu, chết trôi ngoài biển

Chết trong trại tù rừng núi cao nguyên

Mối hận nầy muôn kiếp không quên.

 

Ba mươi, Tháng Tư là ngày Quốc hận

Không bao giờ nguôi trong trí người dân.

Hởi đồng bào hãy vùng lên diệt Cộng

Cứu quê hương, Tổ quôc sẽ tri ơn.

                         

                         Hoa Đô, 30-4-2020

                        Trần Gò Công/Lão Mã Sơn

Giải Phóng Gì Đây?

 

Tháng Tư Đen ngày ba mươi tủi hận

Đất Miền Nam nhuộm máu bởi dấu giày

Bộ đội áo xanh đến từ Miền Bắc

Đi giải phóng gì đây hỡi các anh?

Để mẹ già da thêm những nếp nhăn

Ngồi chết lịm bên quan tài mới nhận

Cho con thơ đầu vòng khăn tang trắng

Và vợ hiền phải góa lúc còn xuân

Anh về đây giải phóng hở anh?

Hay đẩy thanh niên lao động vào rừng

Đem máu đỏ làm mồi ngon cho muỗi

Đưa nhiều người đi vùng kinh tế mới

Kiếm khoai rừng nuôi cơ thể gầy khô

Biến phố phường thành một bãi tha ma

Bởi cái gọi là kiểm kê tài sản

Anh đến đây người dân thêm lúa chín?

Hay vét vơ vào hợp tác riêng mình

Nói chính quyền xây dựng bỡi nhân dân

Sao dân bỏ nước đi không tiếc nuối

Từ Bắc vào Nam anh gây nhiều tội

Lập chiến công cho cộng sản Nga Tàu

Giết bao người trại cải tạo rừng sâu

Hành động ấy sao cho là chân chính

 

                                   Dương Việt-Chỉnh

 

 

Thơ Buồn Tháng Tư

của

Thi Sĩ Luân Tâm

 

MẮC BẪY SỤP HẦM

“Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm “(1)
Người mắc bẫy trâu sụp hầm
Đồng hoang cỏ cháy kiến ong trở cờ


Núi xương sông máu vỡ bờ
Trại tù nở rộ trẻ thơ ăn bèo
Chó tuyệt giống chuột ăn mèo
Ròng ròng mất nước cá kèo lột da


Xác con vịt hồn mẹ gà
Đạn cười bom khóc khổ qua bị đòn
Thân tàn vượt thác trèo non
Băng rừng đói rách thăm con nuôi chồng


Tép riu nhái bén mất rong
Cùng đường tuyệt giống lấp sông kinh hoàng
Chim trời cá nước đầu hàng
Bóng chim tăm cá điêu tàn bóng đen


Miệng hùm lưỡi rắn tự khen
Độc trùng độc vật trống kèn dã nhân
Ông lò ông táo thiêu thân
Khát khao vượt biển không chân kiện trời


Vu oan hại chủ đổi đời
Ăn lông ở lỗ kiếm lời khoẻ re
Sâu đen bọ đỏ lên xe
Cò con cu đất luỹ tre chìm tàu


Không nghìn trước không nghìn sau
Đòn thù tuyệt đỉnh cỏ rau hết hồn
Sử kinh bóp méo vo tròn
Tráo bùa đổi phép dạy con rượu chè


Ngày đất khóc đêm trời đè
Lưà thầy phản bạn kết bè yêu tinh
Con thơ khát sữa cầu kinh
Tội đeo kính trắng nhục hình tha ma


Trần gian điạ ngục thương ca
Bừng con mắt dậy cướp nhà tay không…(2)

LuânTâm

 (1) Ca Dao
(2) Mượn ý câu thơ :”Bừng con mắt dậy thấy mình tay không ” của Ôn Như
Hầu Nguyễn Gia Thiều trong tác phẩm “Cung Oán Ngâm Khúc”
ĐẤT THÉT GÀO

Đã hết an bình trong mắt nhau
Đau cây lá rụng đất thét gào
Điên người không thét không gào nữa
Lấm lét vô lùm chôn cọng rau

Bão đỏ xuân đen ruộng cháy vườn
Ghe bầu tan máu đặc đại dương
Bao nhiêu con mắt chưa kịp nhắm
Trời đất chưa màu áo tha hương 

Những giấc mộng đầu cũng chết con
Những tay chưa nắm được thỏi son
Những lời chưa nói môi chưa ấm
Một chiếc hôn nào thực như ngon

Ngày cướp đêm quan no ngủ khì 
Giam cầm bao tử bắt chân qùy
Thương trâu-người kéo cày cổ tích
Trụ đèn hận chẳng có chân đi
Hang ổ nào còn được riêng tư
Mắt nào lén giữ được bóng xưa
Nước nào được uống không nhiểm độc
Người được bằng cây được trồng hư
 
Cày xới tan tành ruộng hết dưa
Trồng hoa dâm bụt gỉa hoa chùa
Dụ người non dạ khôn mê dại
Nạp mạng chằng ăn chẳng tốn bùa
 
Bỏ dép mang hài cóc nghiến răng
Phình bụng ễnh ương dọa chị hằng
Ngăn sông cấm chợ tình man rợ
Đỉnh-cao-trí-tuệ-ác ai bằng
 
Những điệu kèn tây điệu kèn ta
Kèn đưa đám cưới đưa đám ma
Chết oan chết nhục không kèn trống
Cưới chẳng xe hoa chẳng thuyền hoa
 
Lạnh nước kinh hoàng lạnh máu sôi
Vẫn ăn vẫn uống vẫn nói cười
Giữa lòng xương trắng cao hơn núi
Nuí lở sông bồi đá nước đui
 
Không giàu ba họ khó ba đời 
Quá gian quá dữ giành học bơi
Bơi nhanh bơi chậm đều không kịp
Thuyền đã vớt đầy xác mồ côi…

MD.03/24/06
LuânTâm
   

Thơ 

Những Ngày tháng Tư Đen

của

thi sĩ

 Nguyễn Văn Diệm

 

 

Sang Ngang

Thơ Trần Gò Công/ Lão Mã Sơn

 

 

Chiều Ba Mươi Tết

 



Mùa Xuân đã về rồi anh ạ
Gió mơn man tóc Má bạc màu
Em âm thầm ôm nỗi niềm đau
Thương với nhớ hư hao ngày tháng

Chiều Ba Mươi lòng em hốt hoảng
Bàn thờ Cha không một nén nhang
Con lang thang chợ trời buôn bán
Em bạn hàng sớm tối tảo tần

Hy vọng chắt chiu lần thăm đến
Mang cho anh lon ruốc dành ăn
Vài viên thuốc phòng khi cảm nặng
Với chút đường con tặng quà xuân

Nhớ xuân xưa phố xá tưng bừng
Nay xuân đến dững dưng não nuột
Lòng em đau như dao cắt ruột
Vắng anh rồi xuân vuột tầm tay

Anh ạ, em bỗng sợ… một ngày
Không còn dịp thăm nuôi lần cuối
Sức lực em giờ đây đã đuối..
Lê thân tàn chờ buổi gặp anh.

Đêm nay em khấn nguyện ơn lành
Ban cho anh niềm tin mãnh liệt
Hãy kiên cường dù đời oan nghiệt
Hãy giữ lòng dũng tiết hùng anh.

Nghe con không? Ơi hỡi cao sanh?
Lời thống thiết! Xin Ngài thương tiếc!


Kim Oanh

       

HỆ LỤY CỦA NGÀY 30-4 TRONG THƠ LÃM THÚY


Lãm Thúy

“ Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ  lai chinh chiến kỷ nhân hồi ! 
Câu thơ bất hủ ấy, chinh phụ nào không biết, ngay cả nhà thơ Hữu Loan cũng còn viết:
Lấy chồng đời chiến binh
Mấy người đi trở lại ?
Bởi vậy, khi chấp nhận làm người  chinh phụ, Lãm Thuý đã chuẩn bị sẵn cho mình những tình huống’ đau thương:
Nếu Anh chết khi chúng mình chưa cưới
Em mang thân đi phục vụ cho đời
Dạy học trò: “Quê hương mình lửa khói
Các em lớn lên nối lại tình người .”
Nếu Anh chết khi chúng mình mới cưới
Cho em xin một viên đạn chung tình
Dù với Mẹ Cha – Em thành trọng tội
Với đàn em – Không trọn nợ gia đình !
Nếu Anh chết khi con chưa chào đời
Em sẽ nén lòng  nuốt lệ làm vui
Nói với con thơ còn trong bụng mẹ:
“Chưa biết Cha – Con đã mất cha rồi !
Nếú Anh chết khi con còn  trong nôi
Em sẽ buồn đau đê’n suốt kiê’p người
Nhưng còn có con, là còn lẽ sống
Nó như hiện thân của kẻ qua đời
Chiến trường giết dần những người tuổi trẻ
Súng đạn còn hơn định mệnh khắt khe
Nếu phải bỏ lại một phần thân thể
Em vẫn thiết tha mong đón Anh về .
Vậy mà Lãm Thuý đã lầm, những người chiến sĩ ấy không chết giữa sa trường mà bị đày đoạ trong chốn ngục tù đói lạnh, để người vợ trẻ mòn mỏi trong nỗi nhớ thương, đau xót:
Từ ta thôi mặc áo len
Để cơn lạnh nhắc đừng quên có người:
Aó không đủ ấm đêm dài
Cơm không no dạ những ngày lao lung …
Những người đàn bà trẻ ấy mới hơn hai mươi tuổi, lòng đầy mộng mơ, cơn quốc biến cuốn người chồng đi vào nơi rừng sâu núi thẳm, tù ngục đoạ đày, để lại đám con thơ. Nàng vừa nuôi con, vừa nuôi chồng, vừa chịu đựng nỗi cô đơn, vừa chống chọi với những nỗi cám dỗ. Đêm đêm nằm nghe thanh xuân trôi đi …:
Dẫu không thể chờ nhau mà hoá đá
Thì mười năm đâu phải chỉ vài đêm
Bao nhan sắc cùng thanh xuân tàn tạ
Lòng xót xa từng buổi nắng qua thềm !
Thời gian nào mà chẳng vô tình với nhan sắc của phụ nữ, cho nên:
Dẫu chưa bạc tóc thề xưa óng mượt
Nhưng thời gian đâu phải chẳng vô tình
Những năm tháng cách xa và chờ đợi
                      Chắt cạn đời ta trọn vẹn xuân xanh !
Chờ đợi, chờ đợi trong vô vọng, không mong có ngày về, không mong còn tương phùng, thế nhưng vẫn chờ vì dù thân phận đàn  bà, chẳng biết gì về chính kiến, nhưng có một điều những “NGỤC PHỤ” ấy không bao giờ quên. Đó là chồng nàng chiến đấu cho lý tưởng  QUỐC GIA và nàng đứng cùng chồng trên một chiến tuyến.
Cũng chính lý do đó, khi đang dạy học dưới mái trường “Xã hội chủ nghĩa”, Lãm Thuý_dù sức yếu thế cô, bị tru` dập phũ phàng vì lý lịch, cũng đã đứng lên hùng dũng đính chính rằng: “Chồng tôi bị bắt ngoài mặt trận, chồng tôi là TÙ BINH  chứ không phải HÀNG BINH !”
Và người cô phụ ấy luôn luôn nghĩ về nỗi đói’ lạnh, nỗi đoạ đày cuả chồng mình:
Chăn  chiếu vô tình không đủ ấm
Làm sao chia bớt lạnh phương Người ?
Thay chồng để nuôi dạy con thơ,  người đàn bà nhiều lúc quá yêú mềm, không đủ uy dũng để làm cho con nghe lời, đã phải giả lời nhắn nhủ cuả chồng để dạy con ngoan hơn:
Con ơi ! Con ở lại nhà
Nghe lời Mẹ dạy, cho Cha vui lòng
Cha đi cách núi, xa sông
Nói con Thuý Trúc nó không có lỳ
Cha đi, mai mốt Cha vê`
Mua bánh, aó đẹp đủ đầy cho con.
Vậy mà có kết quả mới hay chư’ !
Rồi thì “Cách Mạng”  cũng “Khoan hồng”, trả ngưi về. Nhưng đó hoàn toàn là một người mới. Con ngươi` mới này nếu không bệ rạc về thân xác thì cũng chán chường về tinh thần, không yếu đau bênh tật thì cũng ngơ ngẩn, yếm thế và  ngườìvợ sau bao nhiêu năm daì thăm nuôi, chơ` đợi đã phải thất vọng mà than rằng:
Có những lúc gặp nhau ta phải đổi
Nghìn gian nan đường dịu vợi, sơn trường
Hơn ai hết, ta tưởng mình sẽ hiểu
Thế nào là giá trị của trùng hoan
Nhưng cuộc sống những con người thất chí
Sự moỉ mòn chai san. với đau thương
Đã biến chúng ta thành người ích kỷ
Và đánh mất đi những nỗi dịu dàng
Chính cuộc sống chung đầy ngỡ ngàng ấy đã khiến ngươì vợ tự hỏi :
Có thật lòng vẫn yêu như ngày  cũ ?
Rất ngọt ngào từng tiếng nói, bàn tay
Hay ta đã tặng nhau nghìn thác lũ
Những đắng cay, hằn học của cuộc đời
 ?
Và rồi nàng chợt hiểu: Hệ lụy cuả ngày 30-4, hệ luỵ của cuộc đổi đời là trùng trùng đổ nát, tang thương. Đổ vỡ tận tâm hồn !
Rồi đến cuộc tái định cư sang Hoa Kỳ, thêm một cuộc đổi đời nữa, lần này thì xa lắc, xa lơ. Nỗi hệ lụy  vươn dài cánh tay bi đát.
Người Anh hùng xưa, với tháng năm đoạ đày.với niềm đau tủi khôn nguôi của kẻ chiến bại, với lòng ngao ngán, chán chường, dường như không thể nào thích ứng được với cuộc sống mới, người vợ, thay vi` là người được bảo bọc, che chở, lại phải cố gắng biến mình thành vững mạnh, một sức mạnh mà mình không hề có, để nâng đỡ cho chồng, nương nhau mà sống qua những năm tháng khó  khăn, lạ lẫm giữa xứ người bơ vơ:
Em biết Anh nhiều đêm không ngủ
Giấc mơ còn đói lạnh, gian nguy
Em biết Anh xứ người thua thiệt
Sống như người câm điếc mà đi !
Em biết Anh một đời bất toại
Anh hùng mạt lộ đứng chôn chân
Công danh, lý tưởng thành mây khói
Tâm sầu bạch phát, hận muôn năm
Chính sự cảm thông sâu sắc ấy làm trái tim người vợ xót xa vô hạn :
Em nghĩ trên đời này nếu có
Một người cảm hiểu được hồn Anh
Thì em chắc hẳn là người đó
Thương Anh đến xót cả tim mình !
Em muốn làm sao bù đắp lại
Những gì Anh để mất trong đờì
(Mười năm cô phụ sầu tê tái
Trái tim em cũng héo khô rồi ! )
Nhưng cái hệ lụy đau thương ấy bi thảm ở chỗ nó làm cho mọi thứ trở thành khô héo, lạnh lùng, chai sạn:
Mà khổ nỗi lòng em nguội tắt
Tấm thân khô giờ cũng mỏi mòn
Ngọn lửa cũ đã không còn thắp
Trái tim buồn nhịp đập héo hon !
Em nói đây thay lời tạ lỗi
Đã vô tình làm tủi buồn Anh
Biết làm sao khi lòng đã nguội
Đêm xuân tàn đã lạnh gối chăn !
Sống với những đa đoan hệ lụy, những cay đắng ngậm ngùi như vậy, nơi mà:
Quanh đi quẩn lại bốn bề người dưng
thực cuộc sống cũng chẳng biết lấy chi gọi bằng thú vị.
Xa quê hương, như đàn chim thiên di, bỏ lại quê nhà có cha mẹ già mong đợi, có bầy em nhỏ ngóng trông:
Ta bỏ đời giông bão
Bay tìm trời tự do
Bỏ quê nghèo nương náu
Khói lam vương giọng hò
Cha mẹ già mong đợi
Đàn em thơ mong chờ
Chán đời ra nông nổi
Bỏ thâm tình bơ vơ
Nỗi đau xót, nhớ thương ấy biết làm sao nói hết. Đó là nỗi ước mơ:
Cuối một đời luân lạc
Ta lại về quê xưa
Như thuở còn ấu thơ
Vùi trong lòng từ mẫu
Hay đó là niềm lo sợ khôn nguôi:
Tưởng tượng một ngày con trở lại
Không còn Mẹ đợi bến sông xưa
Trước ngõ, bùi ngùi con đứng mãi
Nghe lạnh trường giang tiếng gió lùa
Hay là sự ám ảnh thường xuyên:
Tưởng tượng con quì bên mộ vắng
Lòng đau khôn tả, lệ như mưa
Mơ hồ nghe lá âm thầm rụng
Lặng người con tưởng bước chân xưa
Cũng chính bởi sống cuộc đời lưu lạc tha hương, nên niềm hướng vọng quê  nghèo thật quá đổi thiết tha, nồng ấm:
Xin gửi qua giùm chút nắng Xuân
Bên này đã lạnh thuở thu phân
Bây giờ trời đất tràn băng giá
Không biết làm sao để ấm lòng?…
Và có lẽ nỗi nhớ quê quá mãnh liệt, nên lòng có sự bất công chăng?
Gió Bấc quê mình – Lạnh dễ thương
Có đâu tàn nhẫn – Sắc như gươm 
Hay là ta vốn luôn thiên vị
Bạc lòng nguyền rủa gió tha hương?
Không biết nữa, chỉ biết nhớ quá, nhớ đến quặn lòng:
Nhớ gửi giùm qua: Âm vang Xuân
Tiếng Mẹ cười rung tối cuối năm
Nghìn phương thực chẳng hề mơ ước
Quê nghèo một hướng nhớ rưng rưng.
Nói làm sao cho hết niềm nhớ thương. Ca dao có câu:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê Mẹ, ruột đau chin chiều
Lãm Thuý, sống xứ người, nhà không có ngõ sau, nên:
Quê hương ngàn dặm còn xa
Ngõ sau không thấy, nhớ nhà đứng đâu?
Đỗ Quyên khản giọng kêu sầu
Những hồn ứa máu còn thâu đêm chờ
Và dù không có ngõ sau, nỗi nhớ cũng chin chiều đau tủi:
Chín chiều đau khúc phân ly
Bờ  sông, cố quận, trời chia nghìn trùng …
Như thế, niềm hệ lụy vẫn rộng khắp, khôn cùng:
Vẫn là  ta – với riêng ta
Nói – Hay không nói – Cũng là vậy thôi
Đành thôi. Xứ lạ, quê người
Xót thân lưu lạc, lệ ngùi  đêm Xuân !
Nỗi nhớ âý không đo, không lường, không biên giới:
Vô cùng, vô tận, vô biên
Nỗi thương nhớ gửi về em, quê nhà
Nhớ quá, cả những điều rất nhỏ nhặt, rất tầm thường :
Còn xanh lá những con đường
Hoa cau, hoa bưởi sau vườn còn thơm?
Con đò neo bến chiều hôm 
Còn nghe tiếng gọi bên vàm sông  xưa?
Vậy đó, nhớ cả những điều không đáng nhớ, có khi chỉ là tiếng gió lùa :
Người có nghe buồn tiếng gió qua?
Chốn đây phòng kín, gió không luà
Vậy mà đôi lúc ta nghe rõ
Tiếng gió reo buồn vọng cõi xưa !
Trong cõi nhớ mênh mông đó, có ngươì cha già bên vườn Cam hoa nở trắng :
Ta nhớ vườn xưa hoa nở trắng
Chiều thơm ngây ngất dịu hương Cam
Cha ta thơ thẩn qua từng nhánh
Gõ nhẹ cho rơi những cánh  tàn
Sống giữa đời bon chen, vật chất, nhiều khi thèm một chút hương quê :
Dẫu về không kịp mùa hoa nở
Vườn xưa còn trắng đến thiên thu

Ở đây đời sống bon chen quá
Ta thèm về lại góc vườn xưa
Năm tháng đã qua đi, bỗng giật mình nhớ lại :
Thương cha tuổi bảy mươi rồi,
Hiểu câu tóc bạc, da mồi mà đau …
Nhớ, thèm,…dù chỉ là một tiếng gáy gà trưa, dù chỉ là một câu Mẹ hát, dù chỉ là một lời vu vơ cha nói:
Thèm nghe  tiếng gáy gà trưa
Thèm nghe Mẹ hát ầu-ơ ví dầu
Thèm nghe cha nói vài câu …
Nỗi mơ ước thường xuyên đeo đuổi, làm mình tưởng như mọi thứ vẫn còn nguyên đó :
Những bông hoa tím trong vườn cũ
Nở từ dạo đó đến nay chăng?
Ở giữa hôm nay và quá khứ
Dường như chẳng có mấy mươi năm
Và thương nhớ những đoá hoa tím trong vườn xưa, là thương nhớ nhà cũ, bờ sông, là nhớ Mẹ, nhớ Cha, nhớ em …
Vẫn tưởng như ta còn ở đó
Sông chiều ráng nhuộm tím hoàng hôn
Và:
Dường như ta chẳng hề đi khỏi
Vẫn ở nhà xưa mái lá nghèo
Mẹ quét sân chiều vang tiếng chổi
Đàn em cười nói điệu vui reo
Cứ tưởng chỉ cần ta gọi khẽ
Vẫn tiếng thân yêu Mẹ đáp lời
Chao ôi ! Cách biệt nhau là thế
Nhớ xót xa lòng quá, Mẹ ơi !
Xa xôi quá, xa đến nỗi đứa em gái qua đời cũng không kịp về vuốt mắt :
Chị không về bởi mịt mù
Mà em đi vội không từ tạ nhau
Để rồi lòng cứ hôí tiếc mãi :
Cái giờ chị gọi nửa đêm
Biết tin đất lạnh vùi em đời đời
Lửa từ đâu dậy lửa ơi !
Tim ta cháy bỏng một trời đớn đau !
Cứ hối tiếc, cứ đớn đau như vậy và rồi đành phải tự an ủi mình :
Cứ hối tiếc, cứ  “Giá như …”
Cũng không gọi được em về từ mộ sâu
Vậy mà vẫn tiếc làm sao
Giá như còn được với nhau một lần !
Nỗi hệ lụy của ngày 30 tháng 4 trải dài khắp quê hương đất nước, trên bao số phận con người, số phận của hàng triệu đồng bào bỏ xác ngoài biển Đông, trong đó có những chiến sĩ can trường, những giai nhân trinh liệt, những trẻ thơ  vô tội,…:
Hỡi ơi ! Chiến sĩ đời ngang dọc
Tiếc chẳng phơi thây giữa chiến trường
Máu chẳng nhuộm màu cờ tổ quốc
Mà lại  pha hồng sóng đại dương
Đâu những hồn ngây thơ non dại
Tay
 bạo tàn cũng đẩy ra khơi
Những linh hồn nhỏ hồn nhiên ấy 
Đã bặt thiên thu những giọng cười !
Xương trắng đã vùi sâu lớp lớp
Mà trang chiến sử máu còn hoen
Ai nghe biển động ngoài sông nước
Còn rền trong gió tiếng oan khiên !
Những cái chết đau thương oan khuất ấy, đã biến biển Đông thành một ngôi mộ khổng lồ, thành một THỦỶ MỘ QUAN , như tên gọi của nhà thơ Viên Linh :
Ngậm ngùi trong Thủy Mộ Quan
Có muôn dòng lệ chảy ngàn năm xưa
Ở đó;
Mơ hồ trong Thuỷ Mộ Quan
Trùng trùng máu lệ mang mang hải tần
Và :
Những hồn ma dậy biển đông
Trăng tàn thuỷ huyệt ngậm dòng thơ đau …
Xưa người nát ngọc trầm châu
Giờ kinh thiên địa nhịp cầu máu xương .
Nói lên tất cả những hệ lụy ấy là bao tâm huyết đã đổ ra, là bao đớn đau đã trải, bao ngậm ngùi đã mang, Lãm Thuý thành tâm gửi đến quí thân hữu như một tiếng than ai oán khi nhớ về những kỷ niệm đau buồn chung của thân phận lưu vong.
Xin chân thành đa tạ ông anh Dương Quân kính mến đã gợi ý cho Lãm Thúy viết bài này.
LÃM THÚY

Lại Một Tháng Tư Đen

Thơ Hoàng Song Liêm

Băm chín năm dài một tháng Tư
Lòng ta vời vợi bóng quê xưa
Hồn ta vẫn một hồn ly khách
Biển Thái trông sông núi mịt mờ …

Cuộc chiến đã đi qua
Lòng ta rền hậu chấn
Hỡi ơi! Trời biển rộng
Thăm thẳm núi sông ta

Lại một tháng Tư đen
Theo ta miền đất lạ
Rừng bao mùa thay lá
Sầu hóa đá trong tim.

Lại một tháng Tư đen
Hồn ta còn đau tấy
Phương trời xa khuất ấy
Đêm dài sầu mắt em…

Lại một tháng Tư đen
Ta ôm sầu viễn xứ
Bước chân mòn lữ thứ
Nỗi nhớ thuở nào quên?

Lại một tháng Tư đen
Mắt trông vời đất mẹ
Hơn phần tư thế kỷ
Quê cũ bóng xưa chìm

Lại một tháng Tư đen
Hỏi ai còn,ai mất?
Ta nghe lòng quặn thắt
Ngàn trùng dương nhớ thêm.

Lại một tháng Tư đen
Trải bao mùa Đông tuyết
Đã phai màu mắt biếc
Đôi bờ xa cách Em.

Lại một tháng Tư đen
Đường chiều thân lưu lạc
Tóc xanh giờ điểm bạc
Xa khuất bóng Em chìm.

Lại một tháng Tư đen
Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?

Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu.

                           Hoàng Song Liêm

           

 

 

Bài thơ Lại Một Tháng Tư Đen của thi sĩ Hoàng Song Liêm đã được nhạc sĩ  Anh Bằng  phổ nhạc năm 2009

 

 

Trường hận tháng tư

 
Em hỏi chị:
Tháng tư về chị có buồn không?
Riêng em,
lòng chợt thấy bâng khuâng khó tả!
Tháng tư năm đó,
Kể sao cho siết
Những nỗi bàng hoàng:
Lệnh rút quân
ban hành ra vội vã:
Dân quân mình
chưa đánh đã tan hàng
Dân và quân tơi tả từng đàn,
Tầm tã dưới đạn rơi,
Thây người
vương vãi khắp nơi,
Nằm rải rác
theo rừng xanh biển cả…
Thế rồi từ các ngả,
Họ tiến đến Sàigòn
Mỹ đang bỏ chạy…
Tiếng trực thăng
vần vũ trên đầu,
Mỹ  kéo nhau về nước…
Còn dân mình, biết chạy đi đâu?
Người ra bến Bạch Đằng,
Kẻ vào toà Đại sứ,
Kẻ đi tìm thuyền nhỏ
Khánh Hội, kho Năm…
Mọi người ùn ùn bỏ chạy
Bỏ của chạy lấy người…
Chạy! Chạy! Chạy !
Ra biển… ra biển..đi .. chạy đi!
Hãy tìm đường ra biển
Dân mình chạy
như những người điên…
Có người bảo: Ở yên!
rồi sẽ đâu vào đấy
quân ta sẽ thu hồi
như Tết Mậu Thân…
Nhưng chúng ta lầm!
Chúng ta đã lầm:
Dương Văn Minh
ra lệnh đầu hàng.
Nước mất? Mất rồi sao ?               
Mất thật rồi sao ?
Ô kìa, ta mất nước hay sao?
Hay chỉ là giấc chiêm bao?
Lẽ nào? Lẽ nào?
Có lẽ nào ta thua trận ?
Có lẽ nào thua trận hay sao…
Thua trận thật sao?
Coi kìa ! Coi kìa !
Họ tiến vào như lũ rận
Quần áo bèo nhèo
Nón tai bèo
Chân dép râu
Mặt non choẹt
Như một lũ mán về thành
Trời ơi! Sao  nỡ đành
Sao nỡ đành
Để nước mất
về tay những người như thế?
Đài phát thanh,
tiếng gì kêu the thé
Tiếng Tầu, tiếng Mọi?
Tiếng An Nam?
Chẳng hiểu cô ta nói gì?
Tiếng nhạc cũng rất kỳ
Chỉ có một bài nghe được
“Nối vòng tay lớn”
đệm tiếng guitare
Hừ! Không còn chối cãi!
Mọi người hớt hải:
Trước quốc hội,
vị sĩ quan già tuẫn tiết
Cầu xa lộ,
anh lính trẻ tự xiết cò
….
Vung vãi khắp nẻo đường
Quần áo lính           
Quần áo của tàn binh
Của lính mình
Nay thua trận, thành hàng binh.
Bị lùa vào trại
Họ bảo là học tập   
Nhưng hơn cả tù đầy
Và không có ngày ra
Hùa theo lũ mán vào thành
Những kẻ ba mươi, chỉ điểm
trong bọc chui ra
ba hoa,
mù lòa cuồng dại
Băng đỏ trên tay,
hách xì xằng phách lối
Làm càn làm đại
 
 
Màu đỏ, màu máu khắp nơi
Băng đờ rôn màu đỏ
Bảng hiệu, cửa hàng
Từ lúc họ vào
cũng vội vàng sơn đỏ
Đỏ, đỏ, đỏ, cờ đỏ, máu đỏ
…..
 
Tư sản mại bản
Họ đánh cho tiêu tán
Rồi tư sản dân tộc
Mà nhiều người trước kia
từng nuôi Việt Cộng
Cũng bị giộng cho tiêu tùng
Họ đánh theo chỉ tiêu
Nên xóm nghèo có hai ba hàng tạp hoá
Cũng bị xoá sổ
Tịch thu nhà, xô đi kinh tế mới
Họ đào đào xới xới
Để tìm vàng
Ngụy quân, ngụy quyền               
Mau đi trình diện
Hành trang 1 tuần hay 1 tháng
Nhưng … nhưng…
Chẳng thấy ai về…
 ….
Văn nghệ sĩ dẫu đã đầu hàng
Vẫn bị lùng bắt và bỏ tù, tra tấn
Phan đăng Lưu, khám Chí Hòa
Vào là chẳng biết ngày ra…
 …
 
Em, là cô  giáo,
em xin đi dạy học
Học chính trị!
Mọi người phải học chính trị!
Ba dòng thác cách mạng
Là quái quỷ gì đây?
Đảng ủy hay đảng “quỷ”
Người miền Nam chỉ có một âm
Ủy hay Quỷ, cũng là một thứ
Quận “quỷ”, thành “quỷ”
Chung quanh toàn quỷ đỏ
Dạy mình điều quái quỷ
Mọi người nghe , “tiếp thu”
Làm “Thâu hoạch” 
Rồi “phê bình”, “tự kiểm”
Vách cũng có tai
Mình rình người ta
Người ta rình mình
Chúng bầy ra, kiểm tra
 Để moi suy nghĩ người ta
Học trò thì vẫn như ma
“Phản động”, sửa lời ca
Sửa cả khẩu hiệu :
“Nhà nước quản lý nhân dân,
Làm chủ tập thể!”
Sự nghiệp của “bác Hồ vĩ đại”
“Sống mãi trong quần chúng ta”
Ha ha ha!
Đến tên đường phố,
dân cũng không tha
Từ khi con đường
mang tên mới:
“Nam kỳ khởi nghĩa”:
tiêu “Công Lý”
“Đồng Khởi” lên rồi:
mất  “Tự Do”…
Họ, họ gây xáo trộn liên miên
Họp tổ, lao động , đổi tiền
Không để dân yên
Ngày 6 tháng 6 , 1975
Chính phủ cách mạng lâm thời
Ra lệnh 
năm trăm đổi lấy một đồng
Mỗi “hộ” hai trăm.
Mỗi gia đình có tờ hộ khẩu
Để mua nhu yếu phẩm
9 kí lô gạo mục một đầu người
Nửa ký thịt bầy nhầy
mỗi gia đình
cho cả tháng…
Đó là Chủ nghĩa xã hội CNXH
Là cả nước xếp hàng
Xã hội chủ nghĩa XHCN
Là xuống hố cả nước để
Ăn khoai hà thay gạo mục
….
Ba bước nhảy vọt
Đảng lọt tọt chui ra,
Mặt trận giải phóng
Cách mạng lâm thời
Đi chỗ khác chơi…
Bây giờ mới thật tơi bời
Bây giờ mới thật tả tơi
Ôi! ba mươi tháng tư
Cả nước vào tù…
Chị ơi!
 

     Sao Khuê – Tháng tư 

Hai bài Thơ 

Xướng và Họa

của hai thi sĩ

Minh Thuý 

và 

Nhất Hùng

Nhớ Tháng Tư Đen 

 

Ký ức se lòng nhớ cố hương 

Người dân xứ Việt khổ canh trường 

Non sông nắng giận gieo hầm tối 

Đất nước mưa sầu thả ngõ sương 

“Vị quốc vong thân “người nuối tiếc 

Vì làng bỏ mạng kẻ buồn thương 

Căm hờn cảnh tháng tư năm cũ 

Lịch sử mong cầu sẽ đổi chương 

                     Minh Thuý 

                 Tháng 4/2/2020

Tưởng Niệm anh hùng

Nguyễn Khoa Nam

Thiếu tướng hiên ngang ở lại thành

Quân hoài quý mến lớp đàn anh

Giờ cùng ước nguyện  còn thơm tiếng

Phút chót câu thề mãi sáng danh

Nước mất buồn đau tìm lối tử

Nhà lìa khổ nhục thoát đdường sanh

Can trường súng nổ ngàn thu biệt

Họ Nguyễn Khoa Nam sử sách dành

                                           Minh Thuý

Thơ  của  Thanh Song Kim Phú  và   Minh Thuý

Văn thi sĩ 

 

Nguyễn Phương Thuý

 

tưởng niệm 

 

 

ngày 30 tháng 4 

 

 

Tháng Tư Bất Tận

 

 

Tháng tư trời đất đổi thay
Việt Nam bỗng chịu đọa  đày vì đâu
Tháng Tư dân khóc thảm sầu
Trần gian khổ ải giải dầu lầm  than
Tháng Tư xã hội tang hoang
Tự do, dân chủ cũng mang cái gồng
Tháng Tư túa chạy biển Đông
Vượt biên, vượt biển chết chồng lên nhau
Tháng Tư gợi mãi niềm đau
Tấm thân lưu lạc vẫn sầu ly hương
Tháng Tư chưa hết đoạn trường
Chưa vơi nỗi nhục, mối hờn chiến tranh
Tháng Tư đoàn kết em, anh
Tháng Tư thắp lửa đấu tranh kiên cường
Tháng Tư mộng ước còn ươm
Ngày về cố lý, cờ giương vàng trời

 

                            Nguyễn Phương Thuý

Thơ tặng

 Người “Tù Cải tạo” và Vợ Người “Tù Cải tạo”

của

Thi Sĩ  Nhất Hùng

 

Thơ họa của thi sĩ Minh Thuý

Người Vợ Tù Cải Tạo ( y đề ) 

 

Thương người phụ nữ kiếp tằm dâu 

Vận nước tang thương khóc nguyện cầu 

Vợ họp “ tuyên truyền “buồn loạn óc 

Chồng lôi “cải tạo “ nhục điên đầu 

Dầm mưa vượt suối qua rừng thẳm 

Dãi nắng băng đường đến núi sâu 

Bán nhẫn mua hàng thăm vạn lý 

Từng đêm gối lẻ lệ tuôn sầu 

 

Từng đêm gối lẻ lệ tuôn sầu 

Cuộc sống trăm điều nếm khổ đau 

Giọng ái đầu môi nhưng dạ vững 

Câu nồng chót lưỡi chẳng lòng chao 

Căm thù lũ giặc gây chinh chiến 

Uất hận loài tà tạo nghiệp đao 

Lết chợ nuôi con cùng Mẹ yếu

Ngời ca xứng đáng những danh hào 

                          Minh Thuý 

                      Tháng 5/1/2020

Thơ họa của thi sĩ Thanh Song Kim Phú

Thơ họa của thi sĩ Phương Hoa

Vợ Tù Cải Tạo: Nữ Anh Hào

(Kính họa bài Viết Tặng Những Người Vợ Tù Cải Tạo của huynh Nhất Hùng)

Bảy Lăm, đất nước biển thành dâu

Người khóc kẻ than rúng địa cầu

Anh kiệt bị đày nơi nắng lửa

Quần thoa phải đoạ chốn mưa dầu

Chồng tù, thương nhớ môi phai thắm

Con đói, nhói lòng mắt trũng sâu

Lặn lội thăm nuôi dò dẫm bước 

Lệ loang quang gánh đẫm u sầu

Lệ loang quang gánh đẫm u sầu

Dạ ngọc bời bời nỗi khổ đau

Liễu yếu gió lay nào gục ngã

Bạo quyền mồi nhử chẳng nghiêng chao

Kiên gan đối mặt cùng ma chướng   

Vững chí so mình với kiếm đao

Đằng đẵng đến ngày châu hiệp phố 

Vợ tù danh xứng “Nữ Anh Hào!”

Phương Hoa – May 2nd 2020

45 năm trôi qua

Phương Hoa

 

 

45 năm trôi qua

Nền Cộng Hòa gãy đổ

     Dân miền Nam đau khổ

Vì chủ nghĩa Tàu Nga

Ngập trời bão táp phong ba

Nhìn non nước Việt xót xa trong lòng

             ***

45 năm trôi qua

Nơi “thiên đường” Cộng Sản

Chữ nhân quyền nhân bản

Là từ ngữ xa hoa

Biết bao trí thức ra tòa

Biết bao Chức Sắc, Thầy, Cha vô tù

           ***

45 năm trôi qua

Đời nông phu nghiệt ngã

Vì thiên tai nhân họa

Đang rình rập từng ngày

Nông gia mất hết ruộng cày

Dân oan khiếu kiện đọa đày thảm thương

                ***

45 năm trôi qua

Dân Việt Nam uất hận

Anh qua Tàu bán thận

Em xuất khẩu “bán hoa”

Cái nghèo hại chết dân ta

Làm cho văn hóa nước nhà tiêu tan

                ***

45 năm trôi qua

Đoàn “cháu ngoan” lỗi lạc

Kẻ buôn sừng tê giác

Người đi bán ngà voi

Tiếp viên qua Nhật “móc moi”

“Thằng cu, cái hĩm” nổi trôi chợ đời

 

45 năm trôi qua

Nhiều tham quan khoác lác

Tiền phủ phê đánh bạc

Tình chẳng ngại trẻ thơ

Học đường thầy chú làm ngơ

Tha hồ dâm tặc phỉnh phờ nữ sinh

          ***

45 năm trôi qua

Biển Việt Nam dậy sóng

Đường lưỡi bò – lật lọng

Tàu Trung Quốc rập rình

Toàn dân phẩn nộ biểu tình

“Người ta” đàn áp “người mình” thẳng tay

           ***

45 năm trôi qua

Từng lớp người say ngủ

Vì lợi danh bao phủ

Vì quyền thế thênh thang

Mãi mê “mười-sáu-chữ-vàng”

Mặc cho Tàu cộng xé tan cơ đồ

            ***

45 Năm trôi qua

Khắp nẻo đường đất nước

Trong lớp người bạc nhược

Bừng nở những bông hoa

Rừng gươm mũi giáo xông pha

Cưu mang hoài bão sơn hà điểm tô

             ***

45 năm trôi qua

Từ những người vượt biển

Nhiều nhân tài xuất hiện

Mong khôi phục giang san

Người ơi vững chí bền gan

Lật dòng sử Việt sang trang thái hòa

             ***

45 năm trôi qua

Phải nay đà đến lúc

Ta đứng lên rửa nhục

Đuổi bọn giặc Bắc phương

Hỡi người con cháu Trưng Vương

Cùng nhau hợp sức lên đường cứu nguy.

Phương Hoa

Tướng Nguyễn Khoa Nam

 

Khoa Nam khí tiết tuẩn theo thành

Nước mất hận tràn dạ liệt oanh

Một phát nghiệt oan vong mệnh bạc

Nghìn đời uy dũng rạng thanh danh

Giặc hèn mong thấy câu hàn phục

Kẻ sĩ đâu màng chuyện tử sanh

Binh lính đớn đau, dân tưởng niệm

Lòng yêu kiệt tướng mãi riêng dành

Phương Hoa – Apr 20th 2019

Niềm Đau Tháng Tư

 

Tưởng niệm Tháng Tư sắp đến này

Nhớ về thuở ấy buổi chia tay

Người đi thoát cảnh chim lồng chậu

Kẻ ở dìm thân chốn đọa đày

Quốc phá điêu linh sầu ngập biển

Gia vong tan tác hận tràn mây

Sống nhìn quê mẹ thù dày xéo

Viễn xứ ngày thêm vẻ úa gầy

 

Gầy úa nhìn quê dạ não buồn

Nhớ thương khắc khoải quyện vào hồn

Ly hương mang cả tình dân tộc

Viễn xứ gánh quằn nghĩa xóm thôn

Ái quốc nào cam chờ biển cạn

Vi gia há phải đợi sông mòn

Hỡi người Hồng Lạc mau xông tới

Giành lấy sơn hà cứu nước non

                                Phương Hoa – Apr 26th 2019

NGÀN DẶM RA ĐI

 

 Nước non ngàn dặm ra đi

  Quê hương đâu nỗi biệt ly thuở giờ

Giang sơn dải núi mịt mờ

Giòng thơ suối nhạc lặng lờ nơi nao

Một mùa âm hưởng lên cao

Xa đưa tiếng quốc gọi vào đêm sương

Tình nào tấu khúc ly hương

Hồn hoa chia biệt còn vương cõi lòng

Bên đèn một bóng mông lung

Chông gai sờn gấu áo hồng tiểu thơ

Gót son rạn nứt niềm mơ

Bôn ba lệ nhỏ xót bờ bến xưa

 

                             Lê Mỹ Hoàn

Nỗi lòng Mẹ tháng Tư

 

Mẹ ngồi đốt mớ bòng bong
Mong con mong mãi vẫn không thấy về
Xa xôi muôn dặm sơn khê
Con đi từ dạo giặc về lầm than
 
Tháng Tư gẵy súng tan hàng
Nước non lâm cảnh điêu tàn vì ai?
Xứ xa con có đêm ngày
Quyết tâm quang phục một mai trở về?
 
Con ơi hãy nhớ lời thề
Chắp tay Mẹ nguyện ngày về không xa
Tháng Tư đã đến lại qua
Còn bao lâu nữa nước nhà an vui?
 

phamphanlang

22/4/2014

 
Bài thơ Nỗi Lòng Mẹ Tháng Tư được Ns Mai Hoài Thu phổ nhạc, Đông Nguyễn Music Studio hòa âm và ca sĩ Đông Nguyễn trình bày.
 
Xin mời nghe.
https://www.youtube.com/watch?v=-zANIfUyeBc 
 

Ba Mươi Tháng Tư

Lê Thị ý
Đường em đi có súng trường nón sắt,
Từng đám tàn quân cởi  áo quy hàng.
Trời Sài gòn u ám một màu tang,
Và tiếng hú như có bầy quạ đói.
 
Đường cũ tình ta nột thời sôi nổi,
Thuở nhạc vàng ru ngủ cặp tình si.
Khắp nẻo bây giờ tấp nập người đi,
Lời vang vọng tiếng hát ca từ Bắc.
 
Khu phố ngày xưa như người xuân sắc,
Hôi hám bây giờ khu chợ lộ thiên.
Trang sách nhòe tác giả chẳng còn tên,
Và tư tưởng như một lời buộc tội.
 
Hòn ngọc Viễn Đông giới nghiêm buổi tối,
Hiu hắt đèn mờ Công Lý Tự Do.
Anh là ai, lý lịch rất mơ hồ,
Trong thế đứng con thò lò sáu mặt.
 
Thời gian qua vùng trời xanh có thật,
Mộng ước vào đời tuổi trẻ thần tiên.
Rồi đôn quân, súng đạn réo vang rền.
Rồi sao rụng, hồn ai lìa trần thế.
Rồi trại tập trung cầm tù thế hệ,
Biển lớn chôn người vượt thoát quê hương.
 
Đường em đi như tất cả vô thường,
Và tất cả theo vòng xe luân chuyển.
Từ bỏ Việt Nam lòng buồn xao xuyến,
Em lạc loài trong xã hội văn minh.
Một buổi nào đây thế giới chuyển mình,
Về quê cũ vòng tay đầy hạnh phúc.

Lê Thị Ý

 Trong mùa Quốc Hận, xin mời nghe ca khúc do Ns Mộc Thiêng phổ nhạc từ hai bài thơ Niềm Mơ Quét Lá của PhamPhanLang và Thôi Em của GS Ngô Đức Diễm (cảm tác từ bài Niềm Mơ Quét Lá), Ns Quang Đạt hòa âm và hai ca sĩ Diệu Hiền & Duy Cao trịnh bày.
      Xin mời nghe
 
NIỀM MƠ QUÉT LÁ
Chiều chiều tôi quét lá vàng
Hốt mùa Thu rụng lòng mang nỗi sầu
Nước non giờ đã chìm sâu
Trong tay quỷ dữ còn đâu mà về
 
Nghẹn ngào trong nỗi tái tê
Lá vàng quét mãi ngày về còn xa
Dù cho đất nước phong ba
Lòng tin quang phục không nhòa trong tim
 
Ngày ngày quét lá tôi tìm
Dư âm ngày cũ nỗi niềm đầy vơi
Cầu xin khấn nguyện với Trời
Một mai non nước rạng ngời ánh quang
 

PhamPhanLang

 

 

THÔI EM

 

Thôi! Em đừng quét lá vàng

Để hồn thu đọng trên hàng mi cong

Thương đời hận nước nhớ chồng

Lỡ làng ôi ! Vết thương lòng cũng vơi

Vàng thôi quét lá thôi rơi

Ngưng cơn bão nổi bời bời gió đông

Ngày về ai chẳng ngóng trông

Quê hương còn đó tang bồng còn đây

Đêm đêm đốt nến chấp tay

Nguyện cầu qủy dữ tới ngày diệt vong

Dư âm ngày cũ còn nồng

Gót em nhẹ lướt nối vòng tay thương

 

Ngô Đức Diễm  

Tháng Tư Bỏ Lại Quê Hương
 
Hôm nay ngày Quốc Hân
Ngày bốn mươi lăm năm xa xứ
Ngày bỏ lại quê hương
 
 Ngày ra đi tìm đường
Tự do ở phương trời vô định
 
Đêm tối trời năm ấy
Hỏa châu rực sáng súng rền vang
Theo đoàn người bỏ chạy
 
Bế con thơ lệ đẫm
Mẹ hiền ơi ở lại con đi
 
Chốn viễn xứ lòng đau
Nhớ quê thương Mẹ miên man sầu
Ôi lòng đau đứt đoạn
 
Nhìn cây tưởng tre nhà
Nhìn mây tưởng như là Mẹ yêu
 
Mơ mai về cố quận
Nhìn dáng Mẹ thấp thoáng vườn trầu
Ăn bát canh Mẹ nấu
 
Mơ vẫn chỉ là mơ
Bốn lăm năm đợi chờ mòn mỏi
 
Cờ vàng ba sọc đỏ
Ôm vào lòng tim đau lệ nhỏ
Ôi quê hương dấu yêu
 
Bao giờ được trở lại
Nằm trong lòng mảnh đất tự do
 
phamphanlang
Đất Hạ 30-4-2020

Thơ tưởng niệm ngày 30 tháng 4

của

văn thi sĩ

Nguyễn Phan Ngọc An

 

 

TRƯỜNG CA LY HƯƠNG

Bốn mươi lăm năm tròn, thân ly xứ
Mất quê hương mất cả những thâm tình
Ðồng bào tôi người đau khổ điêu linh
Kẻ lang bạt tìm miếng cơm manh áo

Bốn mươi lăm năm dài trong gió bão
Triệu hình hài trôi dạt dưới đại dương
Vạn sanh linh tan tác giữa sa trường
Bao anh dũng nêu cao gương khí tiết

Bốn mươi lăm năm buồn chào tiễn biệt
Lớp lớp ra đi như những áng mây mù
Tan biến vào nơi cõi mộng phù du
Danh tài tuấn kiệt cũng thành sương khói

Bốn mươi lăm năm bao điều muốn nói
Thốt chẳng ra lời từ ngục tối âm u
Có còn đâu thời vàng son xa cũ
Mở mắt nhìn mà nghẹn đắng môi khô

Vì chữ tự do, đi tìm đường tị nạn
Người chiến binh phải lìa bỏ quê hương
Mang trong tâm lời thề tròn sứ mạng
Cùng nhau trở về xây dựng lại giang san

Bốn mươi lăm năm nơi phương trời lận đận
Tóc bạc da nhăn cay đắng dặm trường
Ðêm từng đêm lòng riêng mãi tơ vương
Bao giờ hoa nở trên đường hồi hương …

nguyễn phan ngọc an

NỬA

Nửa kiếp gian truân bạc mái đầu
Nửa đời lưu lạc khắp năm châu
Nửa hồn thi tứ dâng trời đất
Nửa khối tình chung gửi địa cầu

Nửa cuộc đời trôi theo vận nước
Nửa giang san thăm thẳm ngàn dâu
Nửa đêm thức trắng canh thâu
Nửa mơ về bến giang đầu xa xăm

Nửa nhân loại âm thầm ly tán
Nửa đất bằng ngao ngán bể dâu
Nửa vầng trăng khuyết đổi mầu
Nửa thân chiến sĩ dãi dầu gió sương

Nửa theo tiếng gọi lên đường
Nửa chìm đáy nước trùng dương mịt mờ
Nửa bỏ xác rừng thiêng nước độc
Nửa anh hùng khí tiết hy sinh

Nửa chờ đợi ánh bình minh
Nửa mang xiềng xích rục thân lao tù
Nửa thân đơn tủi hờn qoá phụ
Nửa thân già lạc lối tìm con

Nửa trên đầu chít khăn tang
Nửa nằm yên dưới suối vàng nghìn thu
Nửa cơ đồ phù du tan tác
Nửa nhân sinh mất mát tình thân

Nửa mê danh lợi phù vân
Nửa tham tiền của chẳng cần lương tri
Nửa nhân ái tìm chân thiện mỹ
Nửa quên mình cho lý tưởng chung

Nửa bàng hoàng nửa ung dung
Nửa người nửa ngợm tận cùng xót xa
Nửa mai mĩa nhân tình thế thái
Nửa thành công gặt hái nghiệp vinh

Nửa mang tiền của mua danh
Nửa giành cơ hội thành dân giang hồ
Nửa phụ nữ bán thân xứ lạ
Nửa em thơ bỏ cả sách đèn

Nửa ham vật chất bon chen
Nửa mê danh vọng đê hèn xác thân
Nửa thế giới chìm trong biển loạn
Nửa nhân gian ly tán đảo điên

Nửa đau thương, nửa ưu phiền
Nửa trời đất cũng … là miền phong ba !

nguyễn phan ngọc an –

Miền Nam Việt Nam Trước Và Sau Năm 1975

Cuộc sống vội vã, tự do và đầy đủ nơi quê hương thứ hai đã khiến đôi khi tôi quên đi những kỷ niệm tuyệt vời của miền Nam Việt Nam cũng như những sự băng hoại của xã hội Việt Nam, trước và sau biến cố  ngày 30  tháng Tư năm 1975, mà những người dân miền Nam thường gọi là Ngày Quốc Hận!

Hận quá đi chứ! Hận Cộng Sản đã xua quân chiếm miền Nam! Hận bị đồng minh bỏ rơi! Hận không giữ được miền Nam! Hận  không giải phóng được miền Bắc!

Người dân miền Bắc, đa số, cũng hận vì bị Cộng sản lừa bịp! Họ đã “Sáng mắt, sáng lòng”, khi vào miền Nam, thấy đời sống người dân miền Nam sung túc và êm ấm dưới sự “kìm kẹp” của Mỹ Ngụy!

Tôi chỉ nói là “đôi khi tôi quên” thôi, chứ thật ra, làm sao mà tôi quên được, khi hàng ngày, hàng đêm, tôi vẫn ”ôm” cái iPad để say mê ngắm những hình ảnh đẹp của một thời êm đềm xưa cũ cũng như những hiện trạng đang ngày càng băng hoại trên quê hương!

Những thành phố ở miến Nam mà tôi đã sống, đã đi qua, nơi nào cũng đẹp! Những nơi ấy, không chỉ đẹp ở phong cảnh mà còn đẹp về nếp sống. Nếp sống có văn hóa, tràn đầy tình người, có tự do tư tưởng, tự do sáng tác! Bởi thế cho nên, các tác phẩm về văn học nghệ thuật của miền Nam khi xưa, ngày nay, đã trở thành món ăn tinh thần cho người dân miền Bắc.

Tôi còn nhớ thời gian đầu, lòng tôi đã quặn đau khi thấy sách, báo, nhạc, của miền Nam bị  gán cho cái nhãn hiệu “Văn hóa đồi trụy!”,  bị tịch thu và đem đốt! Tôi phát khóc khi nghe các ca sĩ Hà Nội hát những bản nhạc của các nhạc sĩ miền Bắc! Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý với bài hát Dư Âm thiết tha, nồng nàn khi xưa, bây giờ tôi phải nghe bản nhạc Dáng Đứng Bến Tre của ông!  Nhạc sĩ Văn Cao, Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn… mà tôi hằng ngưỡng mộ, hình như trong suốt thời gian các ông sống dưới chế độ Cộng sản, các ông cũng chỉ sáng tác được những nhạc phẩm “theo toa đặt hàng!”.  Những sách báo của miền Bắc, mà tôi cố đọc,  tôi  “nuốt” cũng  không trôi!

Tôi cũng bắt đầu biết sợ! Sợ bạn bè, bà con lối xóm! Sợ Công An, Bộ Đội! Sợ  bị đuổi đi Kinh Tế Mới! Tôi sợ và tôi sợ!

Tôi tự hỏi, không lẽ suốt đời tôi sẽ phải sống như vậy sao?  Không, không, bằng mọi giá, tôi sẽ trốn chạy khỏi cái “thiên đàng xã hội chủ nghĩa” này!

 Chuẩn bị đi vượt biển từ sớm và đi rất nhiều lần, nhưng tôi cũng bị sống  trong “ độc lập, tự do, hạnh phúc” trong khoảng thời gian là năm năm!

Những kỷ niệm kinh hoàng của năm năm sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa cùng những tháng ngày nằm dài ôm cái iPad trên đất Mỹ,  theo dõi hiện tình quê nhà đã khiến nhiều đêm tôi mất ngủ!

 Nhìn vào toàn cảnh của Việt Nam ngày nay, những người thiếu suy nghĩ, dường như cũng hài lòng lắm!  Những nhà cao tầng, những khu du lịch sang trọng, những đô thị mới…mọc lên như nấm!  Nhiều tỷ phú đô la có nếp sống Đế Vương như những ông vua dầu hỏa ở Trung Đông!

Nhưng, trông vậy mà không phải vậy! Nhữngg mảnh đời lầm than, cơ cực, những tệ nạn mua bán chức, quyền,  bằng cấp, việc làm… bằng tiền, bằng gái, xảy ra nhan nhản khắp nơi, khắp chốn! Có những bà mẹ bán con từ khi còn ở trong bụng mẹ hay khi con đã trưởng thành, có thể đi làm lao động, làm vợ, làm điếm cho người nước ngoài! Có những cô gái, chịu đi làm gái bao cho các đại gia, chỉ để lấy tiền mua son, phấn, áo quần, giầy, ví… hàng hiệu!

Những đặc khu kinh tế, những thành phố lớn nhỏ, những người có chức, có quyền, đã công khai hoặc âm thầm, bán nhượng cho người Tàu! Đi đâu cũng thấy Tàu và Tàu! Mấy ngàn trẻ em Việt lai Tàu ở vùng Cao nguyên trong vòng mấy năm người Tàu khai thác Bauxit cũng đủ cho ta thấy, rồi đây, người Tàu sẽ nuốt trọn Việt Nam không cần súng đạn mà bằng tiền, bằng thật nhiều tiền!…

Có còn kịp không, nếu có một sự thay đổi trong tư duy, trong hành động, của mọi người dân việt ở cả trong và ngoài nước? Nước Việt Nam có thể tồn tại không, nếu người trong nước chỉ biết quên đời trong các quán nhậu! Nếu người Việt ở hải ngoại chỉ biết nhớ về quá khứ êm đềm của những ngày xa xưa như những kỷ niệm đẹp trong đời?

Lê Thị Nhị

Thơ Xướng Họa của

của

hai thi sĩ

Nhất Hùng và Thanh Song Kim Phú

Thơ Nhạc về 30 tháng tư : “Nước Mắt Quê Hương”  của Trần văn Thế 

Nhạc Phẩm:  Nước Mắt Yêu Thương

Ý Thơ Trịnh Tây Ninh

 Nhạc Trần Văn Thế

Tiếng hát của ca sĩ KK Duy Hân