Bắc Ninh : quê hương quan họ
                                                             
 
 
 
     Bèo Dạt Mây Trôi
        
 
Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi

Anh ơi em vẫn đợi… bèo dạt.

Mây trôi chim sa tang tính tình, cá lội

Ngậm một tin trông, hai tin đợi, ba bốn tin chờ

Sao chẳng thấy đâu ?
Một mảnh trăng treo suốt canh thâu,

Anh ơi trăng đã ngả ngang đầu.

Thương nhớ… ai sương rơi đêm sắp tàn, trăng mờ.

Cành tre đưa trước gió, là gió la đà

Em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh?
Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi

Anh ơi, em vẫn đợi… bèo dạt

Mây trôi chim sa tang tính tình cá lội

Ngẫm một tin trông, hai tin đợi, ba, bốn tin chờ

Sao chẳng thấy đâu ?
Ngày ngày ra trông chốn xa xăm

Anh ơi em vẫn đợi mỏi mòn.

Ra trông sao sa tang tính tình hoa tàn,

Người đi xa có nhớ,

Là nhớ ai ngồi trông cánh chim trời,

Sao chẳng, sao chẳng thấy anh ?
 
Thưa quí vị, khi xưa đọc truyện Tiêu Sơn tráng sĩ, Sao Khuê cứ vương vấn cái tên trấn Kinh Bắc. Lúc mà chung quanh mình chỉ có tỉnh, thành phố , thị xã mà đột nhiên lại có cái tên trấn Kinh Bắc, nghe sao huyền bí lạ lùng….  rồi, nào là Phạm Thái, nào là Trương Quỳnh Như, nào là Sơ Kính Tân Trang do chính Phạm Thái viết kể chuyện tình oan trái của chính mình, truyện và thực cứ trộn lẫn vào nhau khiến người đọc không khỏi bâng khuâng vương vấn…..
Thế rồi bác sĩ NV Hoàng gợi ý nói chuyện về Quan họ. Mà đã nói đến quan họ là phải nói đến Bắc Ninh, quê hương của quan họ.
Thưa quí vị ,đây là bản đồ  Kinh Bắc , Bắc Ninh
 
 
       
 
 
          
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                     Tỉnh Bắc Ninh
 
Thưa quí vị Tỉnh Bắc Ninh là cửa ngõ của cố đô Thăng Long. Do có
các đường thuỷ, bộ chạy qua, nên vị trí quân sự của Bắc Ninh cực kỳ quan  trọng.
Đường bộ có các quốc lộ 1A, cao tốc 1B (Hà Nội – Lạng Sơn), cao tốc Hà nội – Bắc Ninh nằm trên đường quốc lộ 18 nối sân bay quốc tế Nội Bài với Thành phố Hạ Long và  hải cảng Cái Lân, Quảng Ninh và đường 38 nối Bắc Ninh với tỉnh Hải Dương.
Đường sắt: tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội- Hữu Nghị Quan.
Đường thủy: qua sông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống nối ra sông Hồng; các sông nhỏ như sông Ngũ huyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê (nay không còn), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình
Thời Bắc thuộc, Băc Ninh là trị sở của Giao Chỉ Bộ là nơi pháy huy văn hoá Lạc Việt, nơi tiếp nhận Nho giáo từ Trung quốc phương bắc truyền xuống, trạm của Phật Giáo  Ấn Độ truyền sang Trung Quốc theo đường biển, nơi khởi phát  Phật giáo tại Giao Châu mà di tích còn lại là trung tâm Phật giáo Luy Lâu thủ phủ của Lĩnh Nam còn lưu lại đền thờ tôn Sĩ Nhiếp.
 Bắc Ninh ngày xưa gọi là Kinh Bắc có lẽ vì nằm về phía Bắc của kinh đô Hà Nội? Kinh Bắc là nơi có 3 kinh đô cổ của Việt Nam: Cổ Loa, Mê Linh và Long Biên.
Theo sử, năm Canh Tuất 1490 vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước gồm 13 đạo sau gọi là xứ. Từ triều Tây Sơn tới đầu triều Nguyễn đổi sang gọi là trấn: từ Nghệ An trở ra Bắc gồm: (trấn) xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam (trấn Sơn Nam Thượng, trấn Sơn Nam Hạ), Xứ Đông (trấn Hải Dương), Xứ Đoài (trấn Sơn Tây), trấn Hưng Hóa, trấn Cao Bằng, trấn An Quảng (Yên Quảng), xứ Thái Nguyên, xứ Lạng Sơn, xứ Tuyên Quang, phủ Hoài Đức (Thăng Long), đạo Thanh Bình, nội trấn Thanh Hoa, trấn Nghệ An.
Thời vua Gia Long nhà Nguyễn, Kinh Bắc vẫn được gọi là xứ : xứ Kinh Bắc hay trấn Kinh Bắc thuộc Bắc thành tổng trấn. Trấn Kinh Bắc xưa gồm 4 phủ (20 huyện), bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh lân cận Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).
Năm 1831 trấn Kinh Bắc đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Đây là một tỉnh rất lớn bao gồm toàn bộ Bắc Ninh hiện nay, gần hết Bắc Giang, một phần Hà Nội, một phần Vĩnh Phúc và một ít của Lạng Sơn, chia thành 20 huyện: Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong, Quế Dương, Võ Giàng, Siêu Toại, Gia Bình, Lang Tài, Văn Giang, Gia Lâm, Thiên Phúc, Hiệp Hòa, Kim Anh, Phượng Nhãn, Bảo Lộc, Lục Ngạn, Yên Thế, Hữu Lũng, Yên Dũng, Việt Yên.Trấn lỵ của trấn Bắc Ninh trước kia ở xã Đáp Cầu thuộc huyện Võ Giàng. Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dời trấn lỵ đến xã Lỗi Đình thuộc huyện Tiên Du.
Lúc đầu, thành Bắc Ninh chỉ được đắp bằng đất, cho tới năm Minh Mạng thứ 6 (1825), thành được xây lại bằng đá ong và cuối cùng xây lại bằng gạch vào thời Thiệu Trị (1841). Thành xây tại chỗ giáp giới của 3 xã thuộc 3 huyện là Đỗ Xá (huyện Võ Giàng), Khúc Toại (huyện Yên Phong) và Lỗi Đình (huyện Tiên Du).
Các sắc dân sinh  ống ở Bắc Ninh gồm : Việt (Kinh), Nùng, Mường, Tày…
Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Tương,… sống  bằng nông nghiệp  và thủ công  nghệ. Hàng loạt di vật như trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp,… bằng đồng với những hoa văn độc đáo được tìm thấy ở các di tích Lăng Ngâm, Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai,… Mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tạo các đồ trang sức và làm gốm,…
Bắc Ninh không những chỉ có vị trí quân sự quan trọng mà còn là cái nôi cuả văn hoá  lịch sử  và Phật pháp  cũng như thủ công nghệ của Việt Nam.
Trên mảnh đất Bắc Ninh  này, những huyền thoại về ông Đùng, bà Đùng, về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu – Trọng Thuỷ và thành Cổ Loa. Các di tích lịch sử như lăng Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân  Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du, ,.. đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự (chùa Tổ), đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, đình làng Tam Tảo v.v…Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát sinh Phật giáo Việt Nam; nơi phát sinh vương triều Lý như   Đền Đô, Chùa Dận
 
 
 
 
             Đền Đô   và thành Cổ Loa
                                                                      
          
  Tường thành Cổ Loa                                                    Chùa Bút tháp
                             
   cầu đá chùa Bút Tháp                                                           Chùa Dâu
A.   Các làng làm nghề truyền thống
Làng nghề đúc đồng truyền thống Quảng Bố-Lương Tài
Làng Gỗ mỹ nghệ Hương Mạc
Làng gò đúc đồng Đại Bái
Làng tranh dân gian Đông Hồ 
Làng dệt Tam Tảo
Làng dệt Hồi Quan
Làng gốm Phù Lãng
“Làng” Giấy Phong Khê
Làng Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ
Làng nghề sắt thép
Làng Gỗ mỹ nghệ Mai Động
Làng Gỗ mỹ nghệ Phù Khê
Làng tơ tằm Vọng Nguyệt
Làng đúc phế liệu
Làng tre Xuân Lai
 
  1. Chùa ở Bắc Ninh :
Bắc Ninh được xem như nơi khởi phát của phật Giáo Việt nam  mà chùa Pháp Vân là cổ tự lâu đời nhất ngoài ra còn rất nhiề  chùa như  Chùa Bút tháp, Cảm Ứng Tự,  Chùa Dâu, Chùa Dạm , chùa Dận , chùa Kim đài, Chùa Phúc lâm, Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Phật Tích , chùa Trăm Gian….
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 
1 . Chùa Bút Tháp
                          
 Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời   vua Trần Thánh Tông (12581278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (15901644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”. Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diện Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị
                                                                                                                                                                              Chùa có tượng Phật Quan Âm ngàn tay.
Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo kiểu “Nội Công Ngoại Quốc”.
 Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm.
Chùa Dâu,
                                   
còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân , hay Cổ  Châu, là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Duyên Ứng Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam. Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam,
Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km.
Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa Trăm Gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Hiện nay, ở tòa thượng điện, chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời nhà Trần và thời nhà Lê.
Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có bốn ngôi chùa cổ: Pháp Vân (“mây pháp), Pháp Vũ (mưa pháp), Pháp Lôi (sấm pháp) và Pháp Điện (chớp pháp). Bốn chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng.
 
 
 
Chùa Phật Tích
 
 (Phật Tích tự) còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trong chùa có tượng đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam
Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ 4 (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý nhưng ngôi chùa vào thời Lý hiện nay không còn nữa.
Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích.
Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686) ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: “Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá…”
Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích.
Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ “Bảo Hoa dư bút” dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ).
Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am – đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: “… Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao,cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng…”. Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.
  Theo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên: “…Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên.. Do tích này, trước đây chùa Phật Tích có mở hội  Hoa Mẫu đơn hàng năm

 
    
 
 
 
    Đền Đô nằm trên vùng đất “địa linh nhân kiệt”      Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh (cách Thủ đô Hà Nội gần 20 km). Từ xưa vùng đất này đã nổi tiếng là vùng văn hóa, là nơi có phong cảnh đẹp. Đền Đô được xây dựng từ thời Lý Công Uẩn (thế kỷ XI). Đền thờ 8 vị vua nhà Lý đó là: Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ (1009-1028); Lý Thái Tông (1028-1054); Lý Thánh Tông (1054-1072); Lý Nhân Tông (1072-1128); Lý Thần Tông (1128-1138); Lý Anh Tông (1138-1175); Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1224).Quê hương nhà Lý là nơi tiêu biểu cho các làng quê vùng kinh Bắc. Nơi đây có các di tích lịch sử – văn hóa như chùa Cổ Pháp, Kim Đài (một trong những trung tâm Phật giáo cực thịnh vào thế kỷ VIII); đình làng Lý Khánh Văn, nơi thờ và tưởng niệm người cha nuôi của vua Lý Thái Tổ; Thọ Lăng Thiên Đức, khu lăng mộ của 8 vua nhà Lý khiêm tốn, giản dị.
Chùa Kim Đài (còn gọi là chùa Đài, chùa Quỳnh Lâm (Quỳnh Lâm tự), chùa Lục Tổ) là một ngôi chùa tại xóm Xuân Đài, làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tương truyền, Lý Công Uẩn, người sáng lập triều Lý Việt Nam, lúc nhỏ từng là một chú tiểu tại chùa này.[1]
Chùa Thiên Tâm (Chùa Tiêu)
Chùa Thiên Tâm hay còn gọi là chùa Ba Sơn, chùa Tiêu, “Thiên Tâm tự” là tên chính của chùa vì vốn từ khi mới khởi dựng, đứng trên đỉnh núi – giữa đất trời bao la, dân cư, làng xóm thưa vắng, núi Tiêu như là nơi tụ hội, trung tâm của đất trời vậy, còn cái tên Tiêu Sơn là gọi theo tên đất, tên làng, tên núi nơi đây.

Chùa Thiên Tâm được xây dựng khoảng trước thời Tiền Lê, đến thời Lý đã được tôn tạo khá khang trang và trở thành nơi tu thiền, giảng đạo của nhiều bậc cao tăng như Thiền sư Lý Vạn Hạnh – Quốc sư, người có công nuôi dưỡng và dạy dỗ Lý Công Uẩn (vị vua khai sáng Vương triều Lý) trụ trì và viên tịch…
  1. Lễ hội
Hàng năm, tỉnh Bắc Ninh có hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau:
  . Lễ hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 tháng giêng hàng năm, tổ chức thi hát quan họ.
    Lễ hội làng Tam Tảo – Phú Lâm – Tiên Du. Được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 2 hàng năm, Kỷ niệm ngày sinh của ông bà Phụ Quốc Đại Vương Trần Quý và Minh Phúc Hoàng Thái Hậu Phương Dung. Tưởng nhớ ơn hai vị tướng Đào Lại Bộ người có công giúp Thục Phán An Dương Vương đánh Triệu Đà xâm lược.
Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ – 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý.
Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.
Lễ hội Thập Đình (của mười xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công).
Lễ hội Đền Cao Lỗ Vương ngày 10 – tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình.
Lễ hội Đền Tam Phủ xã Cao Đức, huyện Gia Bình.
Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 – tháng Giêng.
Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 – tháng 4.
Lễ hội Đình Châm Khê ngày 4 – tháng tám (âm)
Có câu:
Mùng bẩy hội Khám
Mồng tám hội Dâu                          
Mồng chín hội Gióng
Mồng mười hội Bưởi
đâu đâu cũng về
                                                                          Thành Cổ loa           Đền Phù Đổng                            
      But Tháp            Chùa Lim                                                                                                    
                                          
 
 
 
 
 
 
 
   D Di tích lịch sử :
Đền thờ Nguyễn Cao
Chùa Bút Tháp
Chùa Tiêu – Trung tâm Phật giáo xưa của Việt Nam. Nơi thụ thai và nuôi dưỡng Lý Thái Tổ đến năm 15 tuổi.
Chùa Tổ – Huyền tích của một vùng Tứ Pháp
Đền Lý Bát Đế thờ tám vị vua triều Lý
Chùa Dạm
Chùa Dâu
Chùa Phật Tích
Chùa Phúc Lâm – Làng Tam Tảo – Phú Lâm – Tiên Du
Đình làng Hồi Quan
Đình làng Đình Bảng
Đình làng Hoài Trung
Đình làng Tam Tảo
Đền Phụ Quốc – Làng Tam Tảo
Đình Chùa Làng Yên Mẫn
Đền Cao Lỗ Vương
Đình Quan Đình
Đình Mẫn Xá
Đình Tiểu Than, Lăng mộ Cao Lỗ Vương
Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương – Nam Bang Thủy Tổ (Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân)
   E.Các vị trạng nguyên:
Bắc Ninh có 544 vị tiến sĩ với  15 vị trạng nguyên trong tổng số 49 trạng nguyên VN
 
Lê Văn Thịnh (1075]] – Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử
Lý Đạo Tái (1272)
Lưu Thúc Kiệm (1400)
Nguyễn Nghiêu Tư (1448)
Vũ Kiệt (1472)
Nguyễn Quang Bật (1484)
Nghiêm Hoản (1496)
Nguyễn Giản Thanh (1508)
Ngô Miễn Thiệu (1518)
Hoàng Văn Tán (1523)
Nguyễn Lượng Thái (1553)
Phạm Quang Tiến (1565)
Vũ Giới (1577)
Nguyễn Xuân Chính (1637)
Nguyễn Đăng Đạo (1683)
    F. Danh nhân
   *Cao Lỗ Vương (Tướng chế nỏ thần thời An Dương Vương)
   *Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
   *Trần Qúy (Phụ Quốc Đại Vương – Người có công cứu Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
   *Đặng Thị Phương Dung (Minh Phúc Hoàng Thái Hậu – Người có công cứu Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
   *Nguyên Phi Ỷ Lan  (Tay cầm bán nguyệt xênh xang  Một trăm thức cỏ lại hàng  tay ta)
   *Đàm Quốc Sư
   *Nguyễn Đăng Đạo (lưỡng quốc Trạng nguyên)
   *Nguyễn Văn Cừ
   *Ngô Gia Tự
   *Lê Quang Đạo
   *Nguyễn Cao
   *Hàn Thuyên  ( vơí văn tế cá sấu )
   *Lê Văn Thịnh (Thủ khoa Đại Việt đầu tiên)
      *Tuyên Phi Đặng thị Huệ  tức bà chúa Chè người làng Phù Đổng (Gióng) huyện Tiên Du
      *  Cao Bá Quát
                          Văn như Siêu Quát vô tiền Hán
                          Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường
      * Nữ sĩ Đoàn thị Điểm  ( người  làng Hiến Phạm huyện Văn Giang) vơí dịch phẩm Chinh Phụ ngâm khúc.
      * Thân mẫu của Nguyễn Du là bà Trần thị Thấn .
      * Hoàng Cầm với  lá Diêu bông
 
Lá Diêu Bông
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng 
Chị thẩn thơ đi tìm 
Đồng chiều, 
Cuống rạ.                                                       
Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
                         

Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em đi tìm thấy lá                               

Chị chau mày:
Đâu phải Lá Diêu Bông. 
Mùa Đông sau em tìm thấy lá 
Chị lắc đầu, 
Trông nắng vãn bên sông. 
Ngày cưới chị 
Em tìm thấy lá 
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim. 
Chị ba con 
Em tìm thấy lá 
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn. 
Từ thuở ấy 
Em cầm chiếc lá 
Đi đầu non cuối bể. 
Gió quê vi vút gọi. 
Diêu Bông hời… 
ới Diêu Bông!
               ( Hoàng Cầm)
 
                                        
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                    Quan họ Bắc Ninh
 
                  
 
Vào lúc 16h55 ngày 30/9/2009 tại thủ đô Abu Dhabi của Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ủy ban UNESCO đã công nhận quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa của nhân loại dựa trên các giá trị văn hóa, giá trị lưu giữ tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, phong cách ứng xử văn hóa, ca từ và trang phục. Phạm vi công nhận chính thức gồm có 49 làng quan họ phân bố như sau: tỉnh Bắc Giang có 5 làng là Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ; tỉnh Bắc Ninh có 44 làng là: Bái Uyên, Duệ Đông, Hạ Giang, Hoài Thị, Hoài Trung, Lũng Giang (Lim), Lũng Sơn, Ngang Nội, Vân Khám, Tam Sơn, Tiêu, Đông Mai, Đông Yên, Bồ Sơn, Châm Khê, Cổ Mễ, Dương Ổ, Đẩu Hàn, Điều Thôn, Đông Xá, Đỗ Xá, Hòa Đình, Hữu Chấp, Khả Lễ, Khúc Toại, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Niềm Xá, Phúc Sơn, Thanh Sơn, Thị Chung, Thị Cầu, Thọ Ninh, Thượng Đồng, Trà Xuyên, Vệ An, Viêm Xá, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Ổ, Xuân Viên, Y Na, Yên Mẫn.
 
                          Vậy quan họ  là gì ?
 
A.Truyền thuyết :Thời vua Gia Long có hai họ quan người làng Diềm và làng Bịu kết bạn vơi nhau tổ chức ca hát sau đó lối ca hát này truyền ra ngoài nên mang tên hát quan họ.
 
 
  1. Quan họ là loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam, truyền từ đời này sang đời khác bằng cách truyền khẩu ở vùng đồng bằng miền Bắc, tập trung ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang).
Dân ca quan họ là hát đối đáp nam,nữ. Họ hát quan họ vào mùa xuân, mùa thu khi có lễ hội hay khi có bạn bè. Một cặp nữ của làng này hát với một cặp nam của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về lời ca và đối giọng. Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của hai người phải hợp thành một giọng. Họ hát những bài ca mà lời là thơ, ca dao và có từ ngữ trong sáng, mẫu mực thể hiện tình yêu lứa đôi, không có nhạc đệm kèm theo.
Khi hát hai bên hát với nhau, bên hát trước giọng nào thì bên sau phải theo giọng nấy để trả lời và phải theo cho đúng như thế mới gọi là đối chọi, không đối được là tỏ ra cái kém cỏi của mình.
 
* Có 4 giọng chính :
Giọng sổng (transitor air)
Giọng vặt (diverse air)
Giọng hãm (recitative air)
Giọng bỉ (tunes borrowed from other sources)
 
 
* Những lối hát quan họ :
 Quan họ cầu đảo ; tại làng Diềm cầu cho nhà nông khi bị  hạn hán tại đền Vua Bà  tức Tối  Linh Thượng Đẳng thần  hay Đại Vương Nam Hải tức thần Nước
Quan họ trùm đầu : tại làng Diềm  vào những tuần trăng sáng mùa thu  theo đó khi hát thì trùm đầu bằng áo hay khăn  nên được hát tự do cử chỉ cũng tự do.
  Quan họ Hiếu : tại làng Lũng Giang  (làng Lim) và Tam Sơn là hai làng kết chạ,
cầu cho luá tốt, cây xanh, nước trong  và hát khúc Nhị Thập Tứ Hiếu.
  Quan họ kết chạ  : kết chạ có ăn giải thưởng tại làng Bồ Sơn trong 3 ngày từ  10 tháng giêng đến 12 tháng giêng âm lịch
 
 
 
*  Vơí  4 kỹ thuật           : Vang, rền nền, nảy.
 * và 4 hình thức chính: Hát canh     =  hát tại nhà giữa hai nhóm quan họ
                                       Hát  hội      =   hát ở hội thi lấy giải
                                       Hát mừng   =  hát ở đám
                                       Hát cầu      =  hát ở cửa đình cửa đền
 * Tục lệ quan họ
 Hát quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọn quan họ,tục “ngủ bọn
 Đầu tiên là tập quán “kết chạ” giữa các làng quan họ. Từ tục “kết chạ”, trong các “bọn” quan họ xuất hiện một tập quán xã hội đặc biệt là tục kết bạn quan họ. Mỗi “bọn” quan họ của một làng đều kết bạn với một “bọn” quan họ ở làng khác theo nguyên tắc quan họ nam kết bạn với quan họ nữ và ngược lại. Với các làng đã “kết chạ”, trai gái trong các “bọn” quan họ đã kết bạn không được cưới nhau.
Một điểm khác biệt của quan họ Bắc Ninh so với các loại  dân ca khác ở Việt Nam là tục “ngủ bọn”. Sau một ngày làm việc ,”bọn” quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 17 tuổi thường rủ nhau “ngủ bọn” ở nhà ông / bà Trùm để tập nói năng, ứng xử, giao tiếp, học câu, luyện giọng, và nhất là phải biết bẻ giọng, ứng đối kịp thời. Yêu cầu đặt ra với tục “ngủ bọn” là “liền anh” và “liền chị” phải ghép đôi và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát.
 Muốn hát quan họ phải có “bọn”: “bọn nam” hoặc “bọn nữ”. Trong một làng quan họ thường có nhiều “bọn nam” và “bọn nữ”. Mỗi “bọn” thường có 4, 5, 6 người và được đặt tên theo thứ tự: chị Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu hoặc anh Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu. Nếu số người đông tới 7, 8 người thì đặt tên là chị Ba, chị Tư (bé) hoặc anh Ba, anh Tư (bé)… mà không đặt chị Bảy, Tám hay anh Bảy, Tám. Trong các sinh hoạt quan họ, các thành viên của “bọn” quan họ không gọi nhau bằng tên thật mà gọi theo tên đặt trong “bọn”.
C Ẩm thực quan họ.   
 
 * trầu quan họ thì phải là trầu têm cánh phượng hoặc trầu têm cánh quế, chè phải là chè Thái Nguyên.
*  Cơm quan họ dùng mâm đan nghĩa là mâm gỗ tròn sơn đỏ, còn gọi là “mâm son”, vừa trang trọng vừa thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách. Các món ăn trong bữa cơm phụ thuộc vào tập quán của từng làng nhưng phải có một đĩa thịt gà, hai đĩa giò lụa, thịt lợn nạc, đặc biệt không dùng thức ăn nhiều mỡ để tránh hỏng giọng.
 
 
 
         
    
         Mâm cơm quan họ                                                        Thi nấu cơm  quan họ
 
   D .Y phục quan họ  
    Y phục của “liền anh” và “liền chị” có sự khác biệt.
    Y phục của “liền chị” gồm nón ba tầm hoặc nón thúng quai thao, khăn vấn và khăn mỏ quạ, yếm đào xẻ con nhạn, áo tứ thân nhiễu điều nhiễu tía, váy, thắt lưng, dép.
 Chiếc nón quai thao đi kèm với bộ áo mớ ba (3 áo ), mớ bảy ( 7 áo) màu hoa đào, màu hoa hiên, màu xanh thiên lý hay màu vàng chanh của những lớp áo trong.
Phía dưới, các quý bà, quý cô thường mặc váy lưỡi trai bảy bức bằng lĩnh hay sồi đen buông chấm gót, làm nền cho những dải thắt lưng cánh sen hay mỡ gà thắt nút so le rủ xuống, đong đưa mỗi khi cơn gió thoảng qua. Các cô còn vấn khăn nhiễu tím hay đen, vắt cao lọn tóc đuôi gà dài óng ả, bên mình là bộ xà tích kèm ống vôi quả đào bằng bạc và con dao gấp xinh xinh, vừa để trang sức lại vừa để têm trầu, bổ cau… Và bộ trang phục này càng thêm hài hòa khi các cô xỏ chân vào đôi dép cong da trâu, hay đôi guốc gỗ cong sơn then quai bằng da hoặc sợi mây.
 
  
 
Y phục của “liền anh” gồm khăn xếp, ô lục soạn, áo cánh bên trong và áo dài 5 thân bên ngoài, quần, dép.
Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh…gọi là áo kép. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu, hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện.
Trong các lễ hội quan họ có cả những cuộc thi trang phục quan họ.

       
                  
 
  E .Lời ca quan họ
Dân ca quan họ chủ yếu là nghệ thuật phổ lời ca dao và thơ. Nghệ thuật này đòi hỏi phải sử dụng những tiếng phụ, lời phụ bên cạnh những tiếng chính, lời chính nhằm làm cho tiếng hát trôi chảy, bổ sung ý nghĩa cho lời ca chính, làm cho lời ca thêm phong phú, linh hoạt, tăng nhạc tính của bài ca, phát triển giai điệu, làm cho âm nhạc của bài ca trở nên sinh động, bố cục trở nên hợp lý. Không dùng tiếng phụ, lời phụ, lời ca dễ đơn điệu, mất cân đối.
 
Chuyển điệu thức là hiện tượng đặc biệt của Dân ca quan họ với 2 hình thức: cách biệt và nối liền. Nghệ nhân ghép hai, ba âm giai ngũ cung trong một bài hát, đã khéo vận dụng nhiều dạng điệu thức khác nhau. Duy trì ở một mức độ nhất định lối cấu trúc mở, họ đã kết hợp một số mô hình cấu trúc tương phản và những thủ pháp đan điệu, chuyển điệu trong cùng một hệ thống ngũ cung hoặc chuyển hệ để phá vỡ sự đơn điệu trong một bài.
Khi hát họ sử dụng những thể thơ và ca dao nhất định của người Việt, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp. Lời các bài ca quan họ đều là những câu thơ, ca dao được trau chuốt, từ ngữ trong sang, mẫu mực. Những bài ca quan họ cũng được sáng tạo ngẫu hứng trong các kỳ hội làng, hoặc ứng tác ngay trong một cuộc thi tranh giải của làng. Nội dung các bài ca thể hiện các trạng thái tình cảm của con người: nhớ nhung, buồn bã khi chia xa, sự vui mừng khi gặp lại của những người yêu nhau, mà không được cưới nhau theo quy định của những tập quán xã hội bằng một ngôn ngữ giàu tính ẩn dụ.
 
Dân ca quan họ có 213 giọng khác nhau, với trên 500 bài ca.
Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ. Lời chính là thể thơ và ca dao của Việt Nam, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp với từ ngữ giàu tính ẩn dụ, trong sáng, mẫu mực. Đây là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca là thể hiện tình yêu lứa đôi. Lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi,ư hư, a ha v.v…
Lời cũng được lấy từ những tác phẩm văn học như   Tống Trân Cúc Hoa, Lục Vân tiên, Nhị Độ Mai , Nữ Tú tài, Sơ Kính tân trang … và nhất là Truyện Kiều.
  #  Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
     Đố anh kể được hai câu năm chữ “này” (1) hay năm người (2) 
hoặc   Truyện Kiều anh đã thuộc lòng
           Đố anh kể được hai dòng toàn nôm
Thì câu trả lời đều là:
        * Này chồng, này mẹ này cha
          Này là em ruột này là em dâu
#     Truyện Kiều anh   đã thuộc thông
        Đố anh kể được hai dòng toà nho    
Câu trả lời là 
        Hồ công quyết kề thừa cơ
        Lễ tiên binh hậu, khắc cờ lập công
#   Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
     Đố anh kể được một câu mười người
       Hai bên mười vị tướng quân
       Đặt gươm cơỉ giáp trước sân khấu đầu
#  Truyện Kiền anh thuộc đã lâu
   Đố anh đọc được hai câu hết Kiều
   Trăm năm trong cõi người ta
   Mua vui cũng được một và trống canh
  # Truyện Kiền anh thuộc từng vần
      Đố anh kể được ba lần trăm năm
     Trăm năm trong coĩ người ta
     Chữ tài chữ mệng khéo là ghét nhau
    Rằng trăm năm cũng từ đây
     Của tin gọi một chút này làm ghi
     Người đâu gặp gỡ làm chi
     Trăm năm biết có duyên gì hay không
#   Truyện Kiều anh thuộc đã nhiều
      Đố anh kể được câu Kiều mười cho
       Làm cho cho mệt cho mê
       Làm cho đau đớn ê chề cho coi
       Đã cho lấy chữ hồng nhan
       Làm cho cho hại cho tàn cho cân!
# Thấy em hay đọc truyện Kiều
 Cho nên anh hỏi mấy điều xem sao
 Kiều, Vân em chị thế nào
 Tuổi ai hơn kém, má đào giỏi giang
             Hỏi chi ngoắt nghéo hỡi chàng
             Thúy Kiều là chị rõ ràng hẳn hoi
              Hai người cùng đẻ sinh đôi
              Chàng xem trong truyện chàng thời hiểu ra
              Đầu lòng hai ả Tố Nga
             Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân
              Hai người một tuổi một năm
              Lấy đâu hơn kém mà thăm hỏi dò
              Kiều càng sắc sảo mặn mà
              Cho nên bạc mệnh ai mà chẳng hay
  Truyện  Lục Vân Tiên  
              Trai thì trung hiếu làm đầu
               Gái thời tiết hạnh là câu trau mình
Sơ Kính tân trang
  Bốn chúng tôi quyến bạn yên hà
 Say sưa đồng quyến la đà xuân phong…..
 
Văn thể của Hát Quan họ tuy là lối lục bát, nhưng khi hát, vì những chỗ lên xuống trầm bổng, vì những nhu cầu của sự chuyển giọng, chuyển lời nên loại dân ca này có mang vài đặc tính là bài hát bao giờ cũng có thêm vào nhiều tiếng không có trong nguyên văn. Đó là những tiếng vô nghĩa, hoặc những chữ hát chệch hẳn đi, những tiếng dùng để đưa hơi như; y, a, ư, ô, ơ, ha, ối, ý, này , a, i, ì.v.v.v…Nhờ những tiếng đệm, tiếng láy lập lại như thế mà tính chất nhịp điệu của tiết tấu câu thơ lục bát được thay đổi luôn, trở nên phong phú vô cùng.
Ví dụ bài trống cơm:
“Trống cơm khéo vỗ nên bồng,
Một bầy con nít lội sông đi tìm.
Thương ai con mắt lim dim
Một bầy con nhện giăng tơ đi tìm .
Thương ai duyên nợ tang bồng”
Khi trở thành bài hát Quan họ Bắc Ninh là :
1.(Tình bằng có cái) trống cơm (khen ai) khéo vỗ (ố mấy bông) nên bồng.
2.Một bầy (tang tình) con nít (ố mấy lội) lội sông (ố mấy) đi tìm.
3.(em nhớ ) thương ai (đôi) con mắt (ô mấy) lim dim
4.Một bầy(tang tình) con nhện (ớ ớ ớ ố mấy) giăng tơ (giăng tơ ố mấy) đi tìm.
5.(em nhớ ) thương ai duyên nợ (khách) tang bồng.
Đó là chưa kể đến chỗ hát lại hai lần như phần đầu câu 2 và ở cuối câu 1,2,3,5.
Ngoài ra những tiếng đưa hơi, tiếng đệm, tiếng láy, có khi trong bài hát có cả những tiếng dùng để ghi hệ thống âm giai của cổ nhạc là : Hò, xàng, xư, xê, cống.
Ví dụ như bài “Xe chỉ luồn kim”
“May quần tình chung là vuông nhiễu tím (í a, í a)
Gởi ra (gởi ra chồng) cho chồng.
Ứ xàng, ừ xàng u cái liu
 
   F. Đặc thù của quan họ
** Hát chia làm từng bên. Mỗi bên, trai hay gái phải có ít nhất 4 người để thay phiên nhau hát vì hát rất hao hơi. Quan họ phải hát giọng đôi, nghĩa là hai người hát cùng một lúc, một người “dẫn” (chính) và một người luồn (phụ). Mỗi bên Quan họ có một người đứng đầu đại diện và được tôn làm Chị hai, Anh hai. Những người khác cứ theo thứ tự hát hay, hát kém mà lấy tên anh ba, anh tư, chị ba, chị tư. Chỉ cần bốn người hát được, còn bao nhiêu dựa vào cho đông cũng không sao.
 ** Trai gái hát Quan họ không phải sống nghề về hát, không thể gọi là những người hát chuyên nghiệp nhưng không phải bất cứ ai ai cũng có thể hát được Quan họ. Muốn hát Quan họ phải có nhiều điều kiện, phải có giọng tốt, phải chịu khó luyện tập, phải có trí nhớ và ít nhiều thông minh, nghĩa là có ít nhiều tài đối đáp, biết bình tĩnh để trả lời người đối diện không những trong ‎ý câu hát mà nhất là trong giọng bài hát.
Tình bạn hữu, tình anh em giữa những người cùng chung “gia đình” Quan họ thật thân thiết . Họ coi cha mẹ của nhau như cha mẹ của mình. Những dịp hiếu hỉ, buồn vui, họ đều đến thăm hỏi, cha mẹ bạn có yếu đau họ tìm đến chăm sóc an ủi.
Cũng như hầu hết các loại dân ca trữ tình ở Việt nam, hát Quan họ vay mượn nhiều ở phong dao. Hầu hết các bài Quan họ đều theo thể lục bát biến thể. Đó là những bài tình ca do nam nữ thanh niên Bắc Ninh hát lên để ca tụng tình yêu, nói lên những oán trách, hờn ghen và giận tủi về yêu đương hoặc biểu lộ những tâm tình sôi sục yêu đương.
 ** Hát quan họ là hình thức hát đôi đồng giọng: người hát dẫn, người hát luồn, hát đối đáp dẫn giọng, luồn giọng một cách điêu luyện. Giọng của hai người hát cặp với nhau phải tương hợp đến mức hai giọng trở thành một để tạo ra một âm thanh thống nhất. Có 4 kỹ thuật hát quan họ là: nền, rền, vang, nảy nhưng hát quan họ không chỉ đòi hỏi hát tròn vành, rõ chữ, mượt mà, duyên dáng mà còn  bằng nhiều kỹ thuật như: rung, ngân, luyến, láy mà còn phải hát nảy hạt. Kỹ thuật nảy hạt của các nghệ nhân quan họ tuy có nét chung với lối hát chèo và ca trù nhưng lại rất riêng, khó lẫn. Tùy theo theo cảm hứng và thị hiếu của người hát, những hạt nảy có thể lớn nhỏ về cường độ.
** Khác biệt của Dân ca quan họ Bắc Ninh so với các loại hình dân ca ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục ngủ bọn. Sau một ngày lao động, đêm đến, bọn quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 16, 17 tuổi thường rủ nhau ngủ bọn nhà ông/bà Trùm để học câu, luyện giọng: phải học đủ lối, đủ câu, luyện giọng sao cho vang, rền, nền, nảy, tập nói năng, ứng xử, giao tiếp và phải biết đặt câu, bẻ giọng, ứng đối kịp thời. Yêu cầu đặt với tục ngủ bọn là liền anh/liền chị phải ghép và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau để đi hát.
Tính chất trữ tình của các điệu hát ấy có thể chia thành nhiều loại. Loại có tính chất nhẹ nhàng, chân thật vui tươi, cởi mở, hoạt bát, thoải mái. Có loại bài có tính chất bày tỏ, tin tưởng lạc quan, yêu đời, trìu mến. Có loại tình tứ, duyên dáng, thắm thiết say sưa. Có loại mang tính chất vui tươi nửa trào phúng, nửa tình tứ một cách ý nhị. Có loại đượm nỗi nhớ nhung, trách móc. Trong các bài Quan họ nhiều nhất là những bài để tỏ tình. Rất ít bài nói lên sự thất tình. Nhưng trong sự tỏ tình có nhiều hình thức : khi thổ lộ tâm tình, khi thăm dò lòng bạn, khi hy vọng, mong mỏi nhớ nhung người tình, khi trách hờn giận, ghen tuông người tình; nhưng rút cuộc những câu thổ lộ tâm sự cũng là để thăm dò tình bạn là nhiều hơn cả.
Ví dụ:
“Anh như cây gỗ xoan đào,
Em như câu đối dán vào nên chăng?”
“Em như cây cảnh trên chùa,
Anh như con bướm đậu nhờ nên chăng?”
 
  1. Hát quan họ lúc nào? ở đâu
 
Ngày xưa trai gái vùng Bắc ninh có thể hát bài quan họ quanh năm. Mỗi khi có dịp lễ là họ mời nhau đến hát, ban đêm không có việc gì, họ cũng rủ nhau đến một làng nào đó trong vùng để cùng nhau vui hát.. Nhưng hát Quan họ đặc biệt thịnh hành vào mùa thu tháng tám, và nhất là vào tiết mùa xuân trong ba tháng giêng, hai, ba…
Dịp hát quan trọng nhất là những dịp đám cưới, đám khao, đám giỗ, đám hội.
Hát Quan họ là lối hát không dính dáng đến lao động, trái với nhiều loại dân ca khác như hò hát, ví, vì thế không hát ở ngoài đồng trong khi làm lụng mà có thể hát tại nhà trong các dịp cưới hỏi, giỗ, khao… hay sau khi hát ở hội đình, hội chùa rồi mời nhau về nhà. Tại nhà có khi liền chị ngồi trong nhà hát ra, và liền anh trên bờ hát vọng xuống. Có khi họ cùng ngồi trong thuyền trên mặt hồ để vui hát trong một đêm hè hay một chiều thu. Có đến 100 bài ca nói đến thuyền bè bến nước trong 500 bài dân ca quan họ:
              Thuyền ơi có nhớ bến không
               Bến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền
hay
     Ngồi tựa mạn thuyền
     Trăng in mặt nước
     Càng nhìn non nước càng xinh
      Sơn thủy hữu tình
      Thơ ngâm ngoài lái
      Rượu bình giải trí trong khoang
 
Tại hội đình trai gái hát trước bàn thờ Thành hoàng. Lắm khi các bài hát, lúc đầu chỉ có tính chất tôn giáo một ít, còn về sau đều có tính chất tình tứ. Tại hội chùa, họ hát trước cửa chùa, giữa sân chùa, có khi cả trong chùa. Nhưng thường hát ở các sườn đồi hay giữa các đám ruộng hoặc trên những bờ đê bên cạnh chùa.
 
 
 
 
 
 
 
  1. Hội quan họ
   
 
 
Hội hát Quan họ thường gắn với hội chùa. Cho nên chùa là nơi tụ hội và đón nhận khách Quan họ. Có tới 49 làng hát quan họ, phân bố trong bốn huyện, xã phía nam tỉnh Bắc Ninh. Nhưng nói tới Quan họ, người ta nghĩ ngay đến hội Lim. Lim là tên nôm của xã Lũng Giang xưa. Hội mở trên đồi, nơi có chùa Lim (chùa Hồng Ân). Hội Lim đông vui và nổi tiếng nhất trong các hội Quan họ. Hội mở vào ngày 13 tháng giêng, đúng phiên đầu năm của chợ Lim.Đến hội Lim, khách du xuân được xem và nghe hát trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền và hát trong các tư gia (hát trong nhà); lại có thể nghe hát đối từng cặp (đôi nam, đôi nữ), hoặc “bọn” nam, nữ.
Hội Lim chính là hội chùa làng Lim và đôi bờ sông Tiêu Tương  huyện Tiên Du . Hội Lim trở thành hội hàng tổng (hội vùng) vào thế kỷ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc, có nhiều công lao với triều đình, được phong thưởng nhiều bổng lộc, đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục. Ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộ của mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim. Do có nhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ở chùa Hồng ân, nên khi ông mất nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân có tên Hồng Vân từ bi ký niên đại Cảnh Hưng 30 (1769) hiện giữ ở đình thôn Đình Cả đã cho biết khá rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng hậu hàng tổng Nguyễn Đình Diễn mỗi năm hai dịp vào “ngày sinh” và “ngày hóa” của ông tại lăng Hồng Vân và chùa Hồng Ân trên núi Lim.
Hội Lim được mở từ ngày 12 đến 14 tháng giêng Âm lịch hàng năm, trong đó ngày 13 là chính hội, thường được kéo dài trong khoảng thời gian 3-5 ngày (11/1 – 15/1 Âm lịch).
 
Hội Lim bao giờ cũng gồm 2 phần tách bạch: Lễ và Hội. Các làng Duệ Khánh, Đình Cả, Lộ Bao, Lũng Giang hội tụ thành một đoàn rước từ từ tiến vào trung tâm hội thu hút sự chú ý, quan tâm đặc biệt của hội. Đây là tâm điểm của phần Lễ, hoạt động tế lễ của các đoàn rước chính là chương trình khai hội.
 
Ngày 13 mới là chính hội. Nhưng từ sớm ngày 12, đồi Lim – trung tâm lễ hội đã tưng bừng với các lán hát Quan họ và các trò chơi dân gian  như: Thi tổ tôm điếm, đu tiên, vật, đập niêu, thi cờ người, dệt cửi hội, trò bịt mắt bắt dê và kéo co.
 Lúc 8giờ sáng ngày 13/1 Âm lịch, Hội Lim được mở đầu bằng lễ rước. Đoàn rước với đông đảo người dân tham gia trong những bộ lễ phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt kéo dài tới cả gần km. Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễ và tục trò dân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờ hậu. Toàn thể quan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ phải tề tựu đầy đủ tại lăng Hồng Vân để tế lễ hậu thần. Trong khi tế có nghi thức hát quan họ thờ thần.
 
Để hát thờ, các liền anh,liền chị quan họ nam và nữ của tổng Nội Duệ đứng thành hàng trước cửa lăng hát vọng vào. Trong khi hát, họ chỉ được hát những giọng lề lối để ca ngợi công lao của thần.
 
Hội Lim đi vào lịch sử và tồn tại và phát triển cho đến ngày nay được hàng tổng chuẩn bị tập rượt rất chu đáo từ ngày 9 và 10, rồi được diễn ra từ ngày 11 đến hết ngày 14 tháng giêng. Chính hội là ngày 13, với các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng các làng, các danh thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy. Trong các nhà thờ họ Nguyễn, họ Đỗ ở làng Đình Cả, dâng hương cúng Phật, cúng bà mụ Ả ở chùa Hồng Ân.
Đặc sắc hơn cả là phần hát hội  và là phần căn bản và đặc trưng nhất của hội Lim. Từ hát mời trầu, hát gọi đò đến con sáo sang sông, con nhện giăng mùng…
Hội thi hát diễn ra khoảng gần trưa, được tổ chức theo hình thức du thuyền hát quan họ. Tại một hồ nước nhỏ sát bên cánh đồng làng Lim, chiếc thuyền hình rồng được sơn son thiếp vàng rời bến trong những câu hát đậm đà nghĩa tình. Một bên thuyền là các liền chị, đối diện là những em nhỏ súng sính trong những tà áo tứ thân. Các liền anh thì đứng hoặc ngồi sát hai phía đầu và cuối thuyền.
Tối ngày 12 sẽ là đêm hội hát thi quan họ giữa các làng quan họ. Mỗi làng quan họ có được dựng một trại tại phần sân rộng của đồi Lim. Đây là phần hội hay nhất của cả lễ hội Hội Lim.
Về với Hội Lim là về với một trời âm thanh, thơ và nhạc náo nức không gian đến xao xuyến lòng người. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm… như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con người và tạo vật. Cách chơi hội của người quan họ vùng Lim cũng là cách chơi độc đáo, mỗi cử chỉ giao tiếp đã mang trong nó một sắc thái văn hoá cao.
Lễ hội diễn ra khắp các làng xã trong tổng Nội Duệ, trung tâm là núi Hồng Vân, với nghi thức tế lễ rước xách uy nghiêm, hùng tráng và nhiều trò vui, đặc sắc mà hấp dẫn nhất là đánh cờ người, tổ tôm điếm, thi dệt vải, thi làm cỗ và đón bạn, ca hát Quan họ.
Là lễ hội lớn của vùng Kinh Bắc, với những hoạt động phong phú của lễ và hội đã có nội dung và tầm cỡ lễ hội văn hóa dân gian Kinh Bắc, gần như hội đủ những hoạt động văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của các lễ hội trên vùng quê Bắc Ninh – mảnh đất có nhiều lễ hội dân gian.
 Đến hội Lim, du khách được xem và nghe hát trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền và hát trong các tư gia (hát trong nhà); lại có thể nghe hát đối từng cặp (đôi nam, đôi nữ), hoặc “bọn” nam, nữ.
 
                    Mời trầu
Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền nan i,
có về là về với hội có gái ngoan gái ngoan tầm (tìm) chồng
N :Ô mấy dẫu tình rằng anh
Nam :cô cả cô hai nay đấy ơi.
N :Anh cả anh hai nay đấy ơi.
Nam: Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền rồng
Có về là về với hội có cái công cái công đi tìm
N :Ô mấy dẫu tình rằng
 
Nam:cô cả cô hai có biết ko?
N:Anh cả anh hai vẫn còn không?
Nam:Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền không
Có về là về với hội có bến sông bến sông bãi bồi
N :Ô mấy dẫu tình rằng,
Nam :Cô cả cô hai ớ làng Đôi
N :anh cả anh hai ớ làng Chanh.
Nam:Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền mành i,
Có về là về với hội có cái danh cái danh với đời
N: Ô mấy dẫu tình mời,
Nam:cô cả cô hai ra hát chơi,
N: anh cả anh hai ra hát chơi
Nam:Ba quan i một chiếc là chiếc thuyền không,
Có về là về với với hội (có) bến sông (có a) con thuyền
N: Ô mấy dẫu tình rằng anh cả anh hai nay có duyên,
Nam:cô cả cô hai nay có duyên.
cả 2:Ô mấy dẫu tình rằng .ô mấy dẫu tình ơi!….
 
Nam:Trên trời – có đám mây xanh
Có con ngựa bạch chạy quanh i gầm í trời
N:Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi
 
Nam:Đôi ta – muốn lấy nhau chơi
Nhưng cái duyên ko định thì trời ko xe
N:Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi.
Nam:Những nơi tít tắp bờ tre (ô mấy dẫu tình ơi)
Nhưng cái duyên cứ định, trời xe anh vào (Ô mấy dẫu tình rằng,ô mấy dẫu tình ơi)
Nam:Ba đồng (Ba đồng) một sợi chỉ đào (một sợi chỉ đào)
Áo vóc không vá, vá vào áo tơi
N:ô mấy dẫu tình ơi
Tủi lòng ì thiếp lắm chàng ơi, dẫu rằng lên ngược xuống xuôi lỡ làng.
cả 2:Ô mấy dẫu tình rằng ô mấy dẫu tình ơi, Ô mấy đãu tình rằng ô mấy dẫu tình ơi
 
Nói tự do:
 
Gặp chàng dưới ánh trăng thanh,
Xin mời ăn miếng trầu xanh thắm nồng.
Trầu xanh, cau trắng, tranh hồng.
Đẹp duyên phải phận tơ hồng trời xe…
 
Dạ! Xin mời anh Cả, anh Hai ăn với em miếng trầu…
 
Nam:Ăn một miếng trầu gặp đây ăn một miếng trầu,không ăn ơ cầm lấy í, không ăn ơ cầm lấy í cho nhau bằng lòng,
Trầu này trầu tính ớ trầu tình, trầu này trầu tính i trầu tình.
Ăn vào cho đỏ ăn vào cho đỏ môi mình môi ta, miếng trầu là miếng trầu vàng.
N:Đứng ở đằng xa yêu nhau i đứng ở đằng xa,
con mắt liếc lại í con mắt liếc lại í bằng ba đứng gần.
Nam:Anh còn son,
N:em cũng còn son. Anh còn son i, em i cũng ư còn son i
cả 2:Ước gì ta được ước a gì ta được í làm con một nhà.
N:Em về thưa với me cha
Nam: Anh về thưa với mẹ cha
cả 2:ta về thưa với mẹ cha
…………….
Trong một nội san của Edmonton Canada có nói về một vị linh mục đã soạn những bài thánh ca quan họ nhưng Sao Khuê chưa tìm ra được để viết cho quí vị đọc , vị nào tình cờ biết được xin cho góp ý.
Thưa quí độc giả nội dung của bài viết trên đây hoàn toàn tìm thấy trên mạng,Sao Khuê chỉ là ngươì sắp xếp lại cho có thứ tự mạch lạc bằng cách copy rồi paste mà thôi  !!!!!!. 
 
Hội làng Phù Đổng