* Tiểu sử:

  • Hanoi: 1943

  • Tiểu học/ Trung học: Lycée Rollandes, Chasseloup Laubat, Jean Jacques Rousseau 1962

  • Tốt nghiệp Y Khoa Bác sĩ Đại học Saigon: 1969

  • Y sĩ Đại uý Quân Lực VNCH

  • Sang Hoa Kỳ: 1975

  • Gia nhập Quân Lực Hoa Kỳ: 1979

  • Y sĩ Trưởng Sư Đoàn Một Thiết Giáp Hoa Kỳ. Tham gia Chiến tranh Vùng Vịnh (Saudi Arabia, Iraq và Kuwait).1991

  • Y sĩ Đại tá Lục Quân Hoa Kỳ 1992 

  • Về hưu hè năm 1999.

* Tác phẩm đã phát hành:

  1. HÀ NÔI TỚI HOA THỊNH ĐỐN

  2. VIỆT NAM: THE OTHER SIDE9CHALLENGING ALL OĐS)

  3. VÒNG QUANH THẾ GIỚI TRONG 19 NGÀY ( VÀ DU LỊCH NHỮNG NƠI KHÁC)

 

 

.

.

Du lịch miễn cưỡng xứ giá lạnh Alaska

Quân đội muốn được hùng mạnh thì lúc nào cũng phải ở tình trạng sẵn sàng chiến đấu (readiness). Nói cách khác thì quân đội phải được huấn luyện tập trận thường xuyên để đối phó với mọi chiến trường có thể xảy ra. Quân đội Hoa kỳ không những tập trận (và nhập trận) ở vùng sa mạc, vùng nhiệt đới mà cả ở vùng giá lạnh.

Là Quân Y thì phải bảo vệ tình trạng sức khỏe cho binh lính, nên các quân y sĩ cũng được “mời nếm” những môi trường khắc nghiệt kể trên. Với ý nghĩ là ngoài sự hiểu biết qua sách vở y khoa nếu được sống thực sự vào tình trạng nào đó thì sẽ có kinh nghiệm thực tế hơn. Cũng như y sĩ phi hành thì phải được học lái máy bay như phi công thì mới hiểu được từ sự lo âu khi cất cánh lần đầu tiên bay solo một mình cho đến khi vào phòng cao độ để thử nếm phản ứng thế nào là ở tình trạng thiếu dưỡng khí hay bị áp suất trong không khí xuống thấp. Như vậy thì y sĩ mới toàn diện hơn, có thể chữa trị và phòng ngừa bệnh cho binh lính ở trong mọi trường hợp.

nhận được lệnh đi tập trận Brim Frost ở Alaska vào tháng hai tức là tháng lạnh nhất để cho các binh lính có kinh nghiệm hành quân chiến trường vùng giá lạnh. Quân Y tất nhiên là phải lo bảo vệ sức khỏe cho binh lính nên tất nhiên N. có màn lục tài liệu quân y sẵn có về phòng ngừa và chữa trị các bệnh do nhiệt độ thấp từ độ một, độ hai và độ ba mô bao bì đông lạnh (frost bite) cho đến tình trạng giảm nhiệt (hypothermia), tình trạng mô bào bị sưng vì bị phơi bày ở môi trường nhiệt độ gần đông lạnh và ẩm thấp (chilblain), tình trạng chân bị thấm ướt nước lạnh (immersion foot), tình trạng chân bị ẩm lạnh mà không có nước như bít tất quá kín bị mồ hôi ẩm mà không khô được (trench foot). N. cũng không quên giảng dậy bảng gió lạnh (wind chill chart): gió có thể làm giảm nhiệt độ thấp nhiều hơn ở trạng thái không có gió.

Ngoài ra N. còn phải dậy phòng ngừa đông lạnh như bạn bè trông chừng cho nhau như thấy da tai trắng bệch hay ngất đi thì lo cứu cấp ngay. Quần áo thì phải để ý đến chữ C O L D: C = giữ quần áo sạch (C=clean), O = tránh quá nóng (O=overheating), L = mặc quần áo có nhiều lớp (L=layers) và D = giữ quần áo khô (D=dry). N. cũng dặn tránh đụng da hay cho ngón tay vào xăng vì độ đông lạnh của xăng rất thấp hơn nước (nước đá đông thành đá rồi nhưng xăng vẫn chưa đông) thành ra rất nguy hiểm.

 Sau khi có đủ tài liệu, N. cho in các điều dặn chống bị lạnh trên thành một tờ giấy nhỏ có thể cất trong ví để dễ có tài liệu sẵn để tham khảo khi cần dùng. Ngoài lớp học về y khoa phòng ngừa, binh lính còn được học về cách sinh sống hay tìm cách sinh sống lấy ở miền tuyết lạnh nếu bị lạc hay bị cô lập mà không có tiếp tế như cách làm bẫy bắt thú rừng cho đến cách đào dưới tuyết để tìm kiếm các cây cỏ nào mà có thể ăn được. Lẽ dĩ nhiên ở xứ đông lạnh sẽ không sợ bị thiếu nước như ở sa mạc nhưng ngược lại nếu không biết cách làm tan tuyết thành nước thì cũng sẽ trở thành nạn nhân bị giảm nhiệt dễ như không (như ngậm tuyết trong miệng). Nên tránh dùng “tuyết vàng” vì đó là do nước tiểu của người hay thú vật.

cũng được phát hai ba lô đầy quần áo vùng cực lạnh từ áo choàng parka che kín ở ngoài cho tới quần áo len lót mình (long johns), đội lên chùm kín đầu chỉ hở khe mắt giống như gián điệp trong phim James Bond 007, găng tay bốt da dày chống lạnh. Ai nấy mặc xong thì giống nhau cả không nhận diện được nhau nữa ngoài tấm dác vọng to lớn hay nhỏ mà thôi.

Khi đặt chân xuống phi trường Alaska thì lúc đó mới có ba giờ chiều mà đã tối đen như ban đêm ở thềm lục địa Hoa Kỳ. Ở Alaska mùa đông chỉ có độ bốn năm giờ là có ánh sáng mặt trời nhưng ngược lại thì mùa hè đến gần nửa đêm mới tối mà độ hai ba giờ sáng trời đã mọc rồi. Ánh đèn tỏa ra như có hào quang chung quanh, mờ mờ ảo ảo vì không khí lạnh. Lẽ dĩ nhiên tuyết và đá phủ đầy đường và hàng đống tuyết cao như đồi nhỏ được cắt đẹp hai bên lề đường.

Vì quân y phải tới trước để tổ chức đón tiếp và huấn luyện y khoa phòng ngừa cho binh lính tới tập trận nên N. có được ba ngày sửa soạn trước khi thực sự tập trận. Lẽ dĩ nhiên N. bắt liên lạc với nhà thương quân y chỗ đồn trú đó và được may mắn có quen biết từ trước với một bác sĩ quân y bạn đang làm việc ở nhà thương đó. Tay bắt mặt mừng sau mấy năm không gặp bác sĩ C. mời N. về nhà hắn ta dùng bữa cơm và hàn huyên.

Sau giờ làm việc, C. chở N. về nhà, đang trên đường về nhà (nhà ở trong trại) bỗng nhiên C. ngừng xe lại hỏi một anh lính đang đứng ở lề đường. C. hỏi anh ta có cần chở đi đâu không, anh ta trả lời không vì có bạn sắp tới. N. ngạc nhiên là sao C. lại cho “hitch hiking” dễ dãi như vậy thì C. giảng nghĩa là ở xứ cực lạnh này họ khuyến khích nên giúp chuyên chở các lính đi bộ vì nếu không thì họ sẽ thành nạn nhân đông lạnh dễ như không. Thế cũng hay nhưng không sợ bị cướp bóc hay sao? C. trả lời ở xứ cực lạnh này binh lính phải hợp tác và tùy thuộc nhau để mà sống còn.

Tới nhà C. cho xe vào ga-ra (garage) nhưng trước khi vào nhà C. lấy một sợi dây điện cắm từ xe vào một chỗ cắm điện tại tường ga-ra. C. nói là điện đó sẽ làm ấm bình ắc quy khi qua đêm, nếu không thì sáng hôm sau không nổ máy được. Nhà nào cũng có chỗ cắm điện ngay ngoài nhà để xe khách tới có chỗ cắm điện. (Tối hôm sau, C. mời N. đi ra một quán uống rượu, khi xuống xe ai nấy đều đem sợi dây điện từ xe hơi ra gắn vào tường quán giống như thói cao bồi cưỡi ngựa ngày xưa khi xuống ngựa thì lấy dây yên cương của ngựa buộc lại cột gỗ rồi mới vào quán).

mở cửa nhà và mời N. vào nhà, khi mở cửa thì hơi khói lạnh tràn vào trong nhà như khi mở tủ lạnh thì hơi lạnh bay ra nhưng bây giờ thì ngược lại khi mở cửa nhà thì hơi lạnh bay vào nhà. Oái ăm thay!

Tay bắt mặt mừng với vợ C. mà N. cũng quen thân từ trước rồi, N. được mời ăn cá salmon hấp. N. ngạc nhiên khi thấy, đem ra cả một con cá lớn dài gần nửa thước. N. hỏi có mời ai ăn nữa không. C. nói là không có chỉ có ba người ăn mà thôi. Dù cả ba đang đói nhưng ai nấy đều đầu hàng sau khi, chỉ ăn vã nổi một nửa con cá. Ăn xong thì N. thấy vợ C. vứt chỗ cá còn lại vào thùng rác. Sao mà phí phạm như vậy? N. ngạc nhiên hỏi. C. nói là ở xứ Alaska này cá salmon ê hề mùa hè đi câu cá thì có đủ cá để ăn cả năm! C. còn nói là dân chúng Alaska còn được phép săn bắn con hươu moose to khoảng một tấn, mỗi người đi săn được bắn hai con mỗi năm. Cứ thử tưởng tượng mỗi con sẽ cho độ một ngàn pounds thịt steak moose thì cả năm không cần đi chợ mua thịt bò steak! (Ngày hôm sau N. cũng được mời ăn steak moose, ăn vào thì cũng thấy giống như ăn thịt bò chỉ hơi hăng thịt rừng một tí mà thôi. C. rất tiếc không đãi ăn mũi con moose vì đã ăn hết rồi – đối với thổ dân Alaska, mũi con moose là một delicacy). Thành ra nhà nào cũng có hai hay ba cái freezer to tổ bố chất đầy đống thịt cá.

Ăn xong C. đưa N. trở về khách sạn tạm trú của N., trên đường đi C. nói là ở đây vì rất lạnh nên hơi nước trong không khí đã đông lạnh thành tuyết đã rồi nên không khí rất khô. C. nói là nếu đem một tách nước tung lên trời thì sẽ có một tiếng bụp và nước sẽ biến mất vì không khí quá khô nên nước bị hấp thụ rất nhanh. N. nửa tin nửa ngờ nhưng tiếc là mấy ngày hôm sau vì bận nên quên thí nghiệm đó.

Vì ở đây gần như là mỗi năm có từ sáu tới chín tháng tuyết và đá phủ dày đầy đường nên thay vì chạy bộ tập thể thao thì binh lính có thể chạy trong sân nhà thể thao hoặc đi trượt tuyết ở giờ ăn trưa như là đi chạy bộ buổi trưa. Đúng là thiên đường của những người thích đi trượt tuyết!

Đang đi trên đường, C. chỉ cho N. thấy trên bầu trời như là có một tấm ri-đô (drape) trắng trải đứng trên trời. N. quê mùa hỏi cái gì vậy thì C. cười nói đó là ánh sáng bắc cực (aurora borealis).

Cũng trên đường đi N. thấy một đám đông người ta đang bu chung quanh xem một trò chơi thể thao. C. ngừng xe lại, và giảng nghĩa đó là chơi broom ball, gần giống như ice hockey, mỗi bên mười người dùng một chổi cứng để đẩy một “cục” bóng bẹt vào gôn bên địch. Tới nhà ngủ, trước khi chia tay C. nói là đừng dùng tay không mà mở cửa vì chỗ mở cửa bằng kim khí nên rất lạnh, cầm vào bằng tay trần thì da tay sẽ bị dính chặt vào cửa tay vặn không rút ra được.

Alaska đáng sợ thay! Alaska là nơi dân săn bắn thích tới bắn hươu nai hay câu cá ở băng đá. Chỉ cần đục một lỗ nhỏ độ hai mươi phân, thả một dây câu cá có gắn mồi là một ít lâu là có cá cắn ngay. Mùa hè thì câu cá salmon, còn mùa đông thì câu cá trout. Còn hươu nai hay chim trĩ thì đầy rẫy. Chỉ khổ là mùa hè có rất nhiều muỗi và con nào con nấy rất lớn và cắn rất đau. Thỉnh thoảng thì có thể gặp chú gấu: dân săn bắn phải học cách tránh bị gấu cắn và ở phòng cứu cấp nhà thương sự bị gấu cắn xảy ra nhiều hơn là chó cắn.

Tiểu bang Alaska có rất nhiều đặc điểm khác xa với các tiểu bang khác: đó là tiểu bang rộng lớn nhất. Đời sống ở đây thì đắt đỏ vì cái gì cũng phải nhập cảng cả (ngoại trừ nếu đi săn bắn câu cá thì khỏi cần mua cá thịt). Nhưng ngược lại vì Alaska có nhiều mỏ dầu nên ngân quỹ tiểu bang rất dồi dào: dân chúng tiểu bang không những không phải đóng thuế lợi tức hàng năm cho chính phủ tiểu bang mà lại còn được chia tiền lời bán dầu mỗi người mỗi năm có thể được lãnh cả vài ngàn đồng. Đúng là chuyện lạ: đã không phải đóng thuế mà lại còn được hưởng tiền lời.

Ngoài lợi tức về dầu hỏa, Alaska lại còn có nhiều mỏ bạc, du khách có thể tới mua thỏi bạc (lingot) rất dễ. Tiểu bang Alaska còn có vài đặc điểm khác là không có dân homeless vì các cơ quan xã hội sẵn có nhà trú ngụ nhưng lâu lâu vẫn có vài bợm rượu chết khô lạnh, chết vùi trong đống tuyết và được khám phá ra khi mùa xuân tuyết tan.

Ngoài vụ hàng năm chạy đua chó kéo Iditarod chín ngày từ tỉnh Anchorage cho tới tỉnh Nome, dân Alaska còn đánh cá độ Nenanal Ice Classic; nổi tiếng nhất ở Nome (trên sông Yukon). Người ta đóng một cọc giữa con sông đá đông đặc và dân cá độ đoán vào ngày nào, giờ nào đó đá sẽ tan hay cọc sẽ đổ xuống, người nào đoán trúng có thể lãnh tới cả mấy chục ngàn mỹ kim. . Xứ Mỹ là xứ kỹ thuật điện tử nên dân đánh cá độ cũng dùng thống kê điện tử để bao thầu đánh cá thành ra ít khi “ngựa về ngược” mà phần nhiều là có nhiều người đoán trúng ngày giờ đến nỗi phải dùng tới đúng phút mới trúng được độc đắc.

Những bạn đồng nghiệp của N. đều nói là binh lính bị đổi tới làm việc ở Alaska đều ghét lúc đầu nhưng sau đó quen rồi thì thích ở lại. Nhưng N. sau ba tuần tập trận xong, muốn trở về xứ ấm phía nam mà không luyến tiếc Alaska gì cả. Hay là dân Việt Nam không hợp với băng giá lạnh?

 

Đứng trước một “igloo” (15/2/1984)

“Ice fishing” (12/2/1984)

Home to a foreign land

 It began with an invitation to participate in an International HIV Conference (September 1996). Attending an HIV/AIDS Conference is not unusual for me. I have done it many times but this time it would be completely different, it would be held in Hanoi, Vietnam. Being a former South Vietnamese officer who has fought against the communists and one of many military physicians who fled Saigon in the last days of the collapse of South Vietnam, I was quite hesitant. One side of my thinking was a staunch: I can’t trust the communists, they may imprison me, blackmail me or even worse, stage a fatal car accident (this happened to a former dean of the University of Saigon). They will follow me everywhere and at a slight pretext, planted or not, they can put me in jail.”

But there was another side: the invitation to participate in an HIV Conference is a noble cause. A recent estimate by the World Health Organization (WHO) predicts by the year 2000, South East Asia will be ravaged by the HIV epidemic. Unlike the U.S. which saw a decline of HIV/AIDS cases due possibly to an aggressive prevention program and a different subtype, Clade B, of HIV seen in a majority of homosexuals. With the flourishing prostitution trade in Thailand and soon in Vietnam, no wonder there will be an explosion of HIV epidemic in Vietnam. There are ten of thousands of cases now in Thailand and about four thousands in Vietnam. WHO’s figures were of 25 millions within four years with only two millions in North America and perhaps 20 millions in Africa. The center of the HIV epidemic will shift to Southeast Asia.

We also all know that HIV/AIDS is the leading cause of mortality of men in the 25-44 years age group. This will decimate the young Vietnamese generation. As a public health and preventive medicine physician, I cannot let it happen, I have to combat the disease. It is a humanitarian assistance program, I said to myself, I should help. Besides that, it will be an occasion for me to see my native land after 42 years of separation: I left Hanoi, North Vietnam, in 1954 for Saigon following the partition of Vietnam at the Geneva Conference and landed in the U.S. in 1975 when the North Vietnamese communists invaded South Vietnam.

 That was one side- the other side was I also needed a visa from the Vietnamese government. Although I applied a month in advance, I did not receive the visa until one working day before my departure. The Vietnam Embassy in Washington, D.C. could not sign my visa, they had to consult the Hanoi Central Government. I was told rumors that they were hesitant because of my past and of being a Colonel in the U.S. Army. It was quoted “I was being sent to Vietnam to overthrow the government”. I smiled to myself, it did not surprise me: the communists were always suspicious and paranoid. Knowing that the anti-communist Vietnam community in the U.S. will react violently against me for participating with the communist government complicated the picture. I reassured myself with the fact that this is noble cause, a humanitarian assistance program trying to avert the ravages of the HIV/AIDS epidemic which can decimate the young, the future of the Vietnam population.

 I arrived at Tân Sơn Nhất Airport in Saigon after two days of long grueling travel with 16 hours of transit at the Bangkok International Airport. While taxiing to the terminal I saw the airplane bomb shelters built by the U.S. during the Vietnam War. Grass was growing between the cracks and stripes of black moss covered the concrete. It was evident that it was not maintained adequately and was left to decay. It was so quiet, a flashback occurred: it was so clean and so busy and noisy when I saw it the last time. Tân Sơn Nhất was the busiest airport in the world, beating even Chicago. I still remembered vividly Mr. P. McCombs from the Washington Post helping my family getting on the bus to the runway. Now I did not see any departing airplanes as we were approaching the terminal. The plane finally stopped, a few Vietnam Airlines hostesses in their blue “áo dài” (the Vietnamese traditional dress) appeared. Then I saw the soldiers (they should be officers as I found out later). A spasm mounted from my stomach to my throat. They were my enemies before! The last time I departed it was the South Vietnam MP’s who were trying to screen deserters, whom I was. It was ironic: I had the same feeling before because I tried to get out illegally from a friendly army, now I was screened legally by former enemies!

 The customs officer looked at my papers and asked me to fill out a new visa application (with a new photo) which I did not comprehend: my visa had already been approved. I controlled my urge to argue with him. Perhaps this was happening because the communist system is always trying to catch discrepancies when you repeat the same process or maybe because I did not bribe him. Friends told me that if I put ten dollars in my passport everything would be fine. There would be no questions asked or any extra paperwork required. Being an official, I did not want to encourage the corrupt practice by offering a bribe. All military officials were officers from checking passports to luggage X-ray screening. It was like in Russia where communists seemed to distrust non commissioned officers (NCO’s) performing these functions.

Eventually I was permitted to go. On the minivan from the airport to the hotel: Saigon streets rolled in front of me. It was so crowded. Motorbikes were everywhere, with some cars, a few bicycles and a few cyclos. The cacophony of noise filled the hot and humid atmosphere mixed with dust and fumes. Everybody honked! Contrary to the U.S. where drivers try to avoid as much as possible to make noise, here they did not hesitate to honk their horn at the slightest pretext. Traffic codes were not readily observed: drivers and pedestrians did not respect traffic lanes. It was really surprising that I only saw two minor accidents during my stay. Motorbikes were like ants. When you stopped at the traffic light, they swarmed around you as if escorting you and preventing you from driving fast. It was amazing to see the drivers negotiating through the moving mass and going in the direction they wanted. I asked my driver what the traffic codes were. He said cars had to be driven in the left lane only. They could be in the right lane when they are ready to turn right at the intersection. What would be the penalty if you drove differently, I asked him. “Policemen at most of the corners will stop you and fine you”. How much I asked? He laughed and responded “about 30 U.S. dollars or 300,000 đồng.” Touched by curiosity I asked why he laughed. He said it was also OK if you gave 100,000 đồng, the policeman will pocket the money and would not issue a ticket to you. How could the stop the violators who were on motorbikes? Policemen were at all main intersections and had a walkie talkie: they could alert the next corner policeman.

I could not recognize the streets which were very familiar to me before. I had been an Air Force officer and passed daily through these same streets to get to work. Empty open landmarks with grass were now filled by houses without any harmonic architectural planning. Street names had obviously been changed to names of communist heroes (or terrorists during the former defunct South Vietnam government) or a party celebration date.

My hotel was a two star hotel with air conditioning. I was greeted by young bellboys and taken to my room. It was a kind of Econo Lodge room (“spend a night, not a fortune”, I remembered) not luxurious but OK. The room was stocked with packaged dry food (eg. nuts, gum and an assortment of drinks, alcohol and beer but the price was three times more expensive than the outside market).

I noticed that there was a man sitting at a desk with a computer on each floor. I was told later that they were the designated helper of each floor (or guardian). It was the same practice I observed during my previous trip to Russia. The difference was there they took notes in notebooks but here they had a computer. Later I had a chance to peek at the computer screen and saw the floor plan with my room number and another highlighted. Maybe they had to watch me and the other occupant or was I just being paranoid. When I opened the door leading to the balcony, I smelled the traffic fumes readily although I was on the third floor.

That evening I was treated by the host organization at a very opulent restaurant. Waiters and greeters were dressed in old traditional costumes. Traditional foods were served in a richly decorated large room with a showstage in the center. Musicians and singers in traditional costume entertained the diners.

That night I did not sleep well although I was extremely tired. Maybe it was due to the jetlag and to the traffic noise which it did not abate till the early hours of the morning (around 2:00 a.m. and resumed about 5:00 a.m.).

The next day I went to Biên Hòa, a town of about 30 kilometers from Saigon, I could not recognize the area because how much it had changed. Back to my years, the 30 km highway from Saigon to Biên Hòa was a showcase of American road building technology. It was so large and smooth running and along the highway, the country was wide open with its rice paddy fields. Before the air was so clean because the traffic was very light. Now dilapidated shack houses were built along the highway, obstructing the wide open landscape and transformed it into a smaller, crowded road. Adding to this, a swarming traffic of motorcycles forced the automobile speed to be around 40 km per hour. Dust was everywhere. Passengers on bikes used handkerchiefs as masks to protect themselves. The cement factory, which was the only landscape that I recognized from the past, was enveloped in a cloud of dust and fumes. People were eating in the open air make-shift-along-the-highway restaurants!

We passed the former South Vietnamese Presidential Palace which was now a museum commemorating the victory of the North Vietnamese. Uniformed soldiers were practicing martial arts in the open park in front of the palace as a large number of civilian women gathered for some training purpose.

The following day I had the chance to visit a couple of friends who were practicing physicians at the Heart Institute and the Children’s Hospital. They seemed to do reasonably well. The Vietnamese population, North and South, were inclined to trust the treatment given by physicians trained by the old regime rather than the newly trained or the ones educated from the North. At least the communist recognized the value of Western medicine. The old regime medical school was following the American curriculum and was supervised by the AMA.

There were not many talks on HIV/AIDS, only a few cases (4,109 HIV positive cases with 353 AIDS patients by government officials) occurred for a population of 70 millions. I tried to contact the local AIDS committee whose director was a classmate of mine but he was not available. He was responsible for the HIV/AIDS prevention program in Saigon evidenced by a couple of billboards depicting the danger of AIDS around the Ministry of Health and at busy intersections. I was also told that he designed an outreach program: giving out education pamphlets in prostitutes gathering areas. It had to be reminded that prostitution was illegal in Vietnam but the police were looking elsewhere (they were patronizing through bribes, I was told). Consequently, prostitution was flourishing, much more open than during the former government.

We passed by the Mạc Đĩnh Chi cemetery, a high class cemetery, with tombs of high dignitaries including the former deposed President Ngô Đình Diệm. I did not recognize it: all the tombs were removed and the cemetery was transformed into a playground for children! This was not the only cemetery changed. I was told that all other cemeteries in the Saigon were cleared and became public parks. The communists were practicing the primitive and vengeful custom of the imperial past of Vietnam and China: to dig and scatter all bones of former enemies!

Open air restaurants and vendor stalls filled the sidewalks. People were everywhere, either in the traffic or on the pavement eating and drinking in the dust and fumes. No refrigeration was seen, cake, eggs, and cheese (“The Laughing Cow” brand name, well cherished by the populace) were exposed to the hot sun.

 Communist political exhortation existed: propaganda billboards extolling labor or the Party were seen on the main street corners and bus stations. Every neighborhood had Party and government headquarters displaying lots of red flags with a yellow star. These offices were filled with young men sitting idly. Young men were everywhere, all were very thin, many were seen bare-chested sitting in front of their houses doing nothing but watching the traffic. The once romantic tree lined boulevards in Saigon were barely noticed. Saigon, once called the Pearl of Extreme Orient, now became Ho Chi Minh City!

 I saw also billboards asking families to limit the number of their children to only two. I was told later that officers could have their promotion delayed for two years if they had more than two children. Condoms were distributed freely to officers only, not for sexually transmitted diseases (STD) prevention but for family planning of officers. Was it ironic that condoms should be distributed to young recruits at their sexual peak rather than officers?

The next night was very unusual, the traffic was noisier than before even though it was now approaching midnight: motorbike engines zooming in the streets below the hotel accompanied with their obligatory and ubiquitous honks. Suddenly I heard a volley of gunshots. As I opened the balcony door, engine fumes hit my face. I saw an unending heavy throng of flag waving motorbikes with their lights on. Again, another volley of gunshots (probably pistol rounds) tore the rumbling noise of the traffic. The chain of motorbikes suddenly stopped, turned and converged in the direction of the gunshots.

 I closed the door and returned to my bed. Twenty-one years ago I was escaping the war in Vietnam with the rocket explosions, terrorist bombings and gun firings. Now upon my return, I again heard the gunshots. Is it ironic?

 The next day I was told it was due to the unruly young crowd celebrating the victory of the National Vietnamese Team in an international football game tournament and the police was trying to disperse them. Ms. Hong, a worker at the Ministry of Health, even recalled with pride the hooliganism of the crowd smashing downtown merchant windows to celebrate the victory. Maybe it was part of the communist government scheme to divert people from discontent.

 I was surprised that everyone talked about corruption without any fears: from taxi drivers to hotel clerks and even government employees. In the old days, corruption existed but under the table, now it was everywhere. I was told that luxurious tourist hotels were owned by family members of high party officials. Profitable commercial organization ventures had to grease authorities. Policemen pocketed money from traffic violations and tolls and young men can even avoid mandatory 2-year military training by bribing. It seemed that the national motto was “making money not rebellion” (“The Legacy of Tiananmen, China in Disarray” by J.A.R. Miles). A new acquaintance even told me that “a rich communist is a good communist”. Was it a concerted effort by the authorities to buy people’s loyalty with better living standards? Or it was a kind of Mafia, a Yellow Mafia (Red Mafia is reserved for China, Yellow because the officials like the color yellow: all official buildings are painted yellow). The Yellow or the Red Mafia created a network of shared corruption, everybody was tainted, so nobody could denounce the other.

On September 16, 1996, I left Saigon for Hanoi through Vietnam Airlines which replaced the former Air Vietnam on a Boeing 737. The plane was fairly new (I was told the Vietnam Airlines bought or leased a sizeable fleet of Boeing 737’s). The air stewardesses were nice in their “áo dài”. You could have two choices of food: a Western one or a Vietnamese one. I chose the Vietnamese one by curiosity and had to admit that it was good. The service was excellent. The hostesses were very professional, they brushed aside unreasonable demands made by obnoxious passengers who were probably mid level government officials which I suspected from their arrogant behavior. The plane was flown by an English speaking chief pilot with a Vietnamese assistant pilot.

We landed at Nội Bài Airport in the suburb of Hanoi which was much smaller compared to Tân Sơn Nhất. No paper check was needed. It was an uneventful trip. Along the way to Hanoi hotel, I noticed a plentiful amount of soldiers, mostly officers, on motorbikes which were much different from Saigon where there were an abundance of policemen.

One inefficient practice was noted. For toll road gates, vehicles had to stop to buy a ticket at a nearby stand then to stop again to give the ticket to the toll booth guard. The readily-to-bribe driver could just bypass the ticket stand and gave the money to the guard who pocketed it quickly. This had to be repeated at the other side of the traffic.

My hotel in Hanoi was right on the famed 36 streets quarter of Hanoi, close to the Lake of the Return Sword (Hồ Hoàn Kiếm). Although it was a one star hotel with no separation between the shower, the latrine and the toilet sink, it was OK to spend the night.

Hanoi was much different from Saigon: it was more of a traditional capital than the commercial center or Saigon. Park, lakes, historic monuments and pagodas abounded in Hanoi. The traffic was a little bit lighter with more bicycles and cyclos. Waste water was running freely along the streets of Hanoi inviting mosquitoes and rats, not to mention the unsightly and ill smelling condition.

 One noticeable difference: each street and subdivision had a loud speaker which broadcasted many times each day announcing different official activities mixing with party propaganda and news. The house which had the speakers suffered the most, otherwise people did not heed attention at all, they tended to their business as if nothing occurred.

Hanoi was poorer than Saigon. Old trucks of World War 1 vintage still ran on the streets with their tanks on top of the engine which was a real fire hazard. The populace seemed to be smaller and thinner. I did not meet a single obese person (in Saigon a few were chubby). With its many lakes and parks, hence an abundance of private spots, people readily relieved themselves because there were no public toilets. I did not see any bomb shelters on the sidewalks as I recalled seeing it in the U.S. magazines (LIFE?) showing the bombing of Hanoi.

Both Hanoi and Saigon were overpopulated: Saigon with a housing capacity for three millions now was sheltering almost seven millions persons, creating gigantic demands from waste collection to electrical shortage. During my stay in Hanoi, power cuts were common and room helpers readily turned off the air conditioner when the occupant left. One thing struck me the most: I had not seen a bird in Hanoi or Saigon. No birds chirping, no peaceful avail sight. Maybe it was due to the scarcity of foods. Now insects were left uncontrolled, damaging the crops which are a vicious cycle. Bird repopulation/reintroduction may be a worthy cause.

 A reception was given by the U.S. Chargé d’Affaires in Hanoi (the U.S. Ambassador designate is awaiting Senate confirmation) in honor of the HIV/AIDS team. I was introduced to some North Vietnamese military counterparts. It was the first time I shook hand with my former enemies. I was neither happy or angry, it was like “No Longer Enemies But Not Yet Friends” (Fred Downs’ book title).

One night we were invited to dine in a luxury hotel restaurant, the Dea Woo, built by a Korean Consortium. It was a huge modern hotel with its marbled columns and floors. Its high ceilings with well positioned chandeliers limited the echo and added to the richness of the environment. The contrast between the poor and the rich was evident: an entrée costs 28 dollars (remember the 40 cents daily food budget for the vocational student). It reminded me of the end of Generalissimo Chiang Kai-Shek’s years in China: local warlords dining and enjoying in the opulence while the populace were scraping for food in garbage piles to live by!

After a little more than a week’s stay in Hanoi, I had a strange feeling: I am a Vietnamese American (albeit former Vietnamese) in my ancestor’s land but I felt different. People in Hanoi treated me differently: maybe because I was not thin, maybe my clothing and my language were different, maybe my manners were foreign to them. Beggars or cyclo drivers or motor bikers swarmed around me demanding favors. I readily dispensed money because it was so cheap compared with the U.S. I felt also not safe at night in the streets of Hanoi: I was more at ease in the U.S. consulate compound watching football rather than strolling at night along the Lake Hoàn Kiếm. Hence, my behavior was different. Was I different?

Duong Nguyen, October 24, 1996

Thư từ ngoài mặt trận Chiến dịch Desert Shield-Desert Storm

 

Ngày 8 tháng 11 năm 1990 N. đáp máy bay về lục địa Mỹ đi công tác cho Sư đoàn 1 Thiết Giáp Hoa Kỳ. Sau khi làm thủ tục nhập khách sạn N. lên phòng ngủ. Lúc đó là 9 giờ 45 tối rồi. Sau khi tắm xong, N. vặn Tivi lên xem tin tức tí ti trước khi ngủ, đang ngái ngủ, N. giật mình khi nghe tin Phát ngôn viên báo tin rằng Tổng Thống Bush quyết định gửi thêm 200.000 quân sang Trung Đông, sau đó là danh sách các sư đoàn sẽ di chuyển ra mặt trận. N. thấy sư đoàn của N. có tên trong đó. N. nghĩ thầm vì nếu cần đánh nhau với Thiết giáp Iraq, lẽ dĩ nhiên phải cần tới Sư đoàn của N. vì Sư đoàn 1 Thiết giáp được trang bị với thiết giáp tối tân nhất của Hoa Kỳ và là Sư đoàn “nặng” (heavy division) nhất trong Quân lực Hoa Kỳ. N. tuy vậy cũng hoang mang không biết là chừng nào phải di chuyển sang Saudi Arabia (S.A.) đây?

 

Hiện tại N. đang đi công tác, đúng ra là không cần phải liên lạc với cấp trên, nhưng sáng hôm sau N. thấy cần phải điện thoại cho Đại tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn để nhận lệnh. Khi gọi, N. được tin là cứ hoàn tất công tác sự vụ lệnh không phải về ngay. N. bèn yên chí tiếp tục công tác. Sau đó, N. gọi cho gia đình biết là không phải về lại Đức ngay. N. không lo gì lắm vì bận tâm với công tác, nhưng càng hoang mang vì điện thoại vợ con, cùng gia đình anh chị em tới tấp gọi lo lắng hộ cho N. Đúng ra thì N. cho chả có gì đáng ngại cả, nhưng ngày đêm qua những cú điện thoại nên N. cũng bị ảnh hưởng lo lắng không ít thì nhiều.

 

Sau một tuần công tác, N. như chương trình đã định trước được nghỉ thêm một tuần nữa để thăm gia đình con cái. Nghĩ rằng, lúc trước đã gọi về sở nhận lệnh cứ tiếp tục công tác, N. bèn tiếp tục bay sang Gia Nã Đại thăm mộ ông cụ và bạn bè ở Montréal. Đang hàn huyên với bạn cũ, thì con gái của N. gọi từ Hoa Kỳ sang báo là Đại Tá Tham Mưu Trưởng muốn nói chuyện với N., N. bèn gọi lại thì được biết là ông muốn N. về với đơn vị càng sớm càng tốt.

 

Thế là N. bèn cắt ngắn phép nghỉ và bỏ dở mục thăm viếng bạn bè và gia đình. Cũng may lúc đó tinh thần ái quốc của dân Mỹ cũng khá cao nên khi đổi vé máy bay về Mỹ và sang Đức, N. không gặp khó khăn gì cả. Đúng ra là vì đổi ngày giờ quá ngắn hạn phải trả một số tiền phạt, nhưng sau khi N. trình bày tình cảnh phải trở về đơn vị gấp, các hãng máy bay rất vui lòng đổi vé mà không bị phạt gì cả.

 

 Về đến đơn vị ngay trưa hôm đó, N. đi vào sở trình diện ngay và được biết là có thể phải đi S.A. trong vòng hai hay ba tuần. Thường thường thì Bộ Tham Mưu chỉ họp một lần một tuần, nhưng nay vì tình hình khẩn trương, Bộ Tham Mưu họp một ngày hai lần, sáng lúc 8 giờ và chiều lúc 5 giờ. Công việc của N. là phải lo điều động quân số tăng gia, sửa soạn tài liệu y khoa phòng ngừa ngoài sa mạc, tổ chức nhóm chích ngừa bệnh, sửa soạn thuốc men cho sư đoàn và huấn luyện cấp tốc các quân nhân y tế mới bổ túc tới. Lúc hòa bình N. chỉ có bẩy bác sĩ quân y (kể cả N.) cho cả sư đoàn, nay được tăng lên tới 20 bác sĩ một cách đột ngột.

 

Ngay chuyện tăng thêm bác sĩ cũng đã rắc rối rồi. Y sĩ trưởng Quân đoàn cho danh sách và các đơn vị các tân bác sĩ, nhưng vì các vị tân bác sĩ này ở rải rác khắp Âu châu, nên liên lạc rất khó khăn. Có bác sĩ thì rất hăng hái nhận lệnh trình diện ngay, nhưng có vài ba anh chị thì cứ lờ đi như là không nhận lệnh điện thoại và kéo dài thời gian tới trình diện. Vì sau được biết, có một chị bác sĩ cố trốn tránh và gây chuyện phản đối với cấp trên, nhưng cuối cùng cũng không xong.

 

Sau đó là có màn chỉ định các vị tân bác sĩ này đi xuống đơn vị. Lẽ dĩ nhiên là bác sĩ ở Trung đoàn là khoẻ hơn và ít nhất an toàn hơn ở Tiểu đoàn, nên có một bác sĩ lên phản đối tại sao N. bắt hắn ta phải đi làm ở Tiểu đoàn. N. giữ lập trường và nhất định không thay đổi lại quyết định. Sau khi hắn ta đưa ra một vài lý do không được vững cho lắm, hắn ta bèn chịu thua rút lui trong hậm hực, không thuyết phục được những thay đổi thuyên chuyển.

 

Sau khi tập họp đủ bác sĩ, N. bèn gửi các bác sĩ này đi học khoá huấn luyện cấp tốc học cách chữa trị và chống vũ khí hoá học (Biochemical Warfare).

 

Từ ngày trở về Đức trở lại, đời sống N. quay cuồng với sư đoàn, họp lên, họp xuống, không còn ngày nghỉ cuối tuần gì cả. Lúc đó là gần lễ Giáng Sinh, nhưng ai nấy chả bận tâm ăn lễ gì hết.

 

Tuy vậy, khi gần tới ngày đáp máy bay sang S.A., sư đoàn cũng cho tất cả nhân viên nghỉ hai ngày để vui họp với gia đình. Lúc đầu, ai nấy cũng sẽ tưởng đi ngay trong vòng hai -ba tuần, nhưng thực tế, di chuyển cả Sư đoàn Thiết Giáp đâu có thể nhanh như vậy, nên phần đông sư đoàn được ở lại qua lễ Giáng Sinh mới đi.

 

Ngày 27 tháng 12, N. thực sự đáp máy bay, sau khi từ giã với vợ con. Chuyến đi ra phi trường Đức thì rất buồn thiu, trời thì tối mưa phùn ảm đạm lành lạnh, vẫn còn nhạc Giáng sinh phảng phất, đèn giáng sinh lẫn cây thông còn đó, ngoài cổng trại lính vài người biểu tình trăng biểu ngữ “Nicht Blut Fur Oil” (“Không đổ máu vì dầu xăng”).

 

Trên phi cơ binh lính hay sĩ quan cùng ở chung, phần nhiều im lặng không ai nói năng gì cả, chắc vì lo âu vì không biết tương lai sẽ ra sao. N. có gợi chuyện với một hạ sĩ quan da trắng thì anh ta nói là nước Mỹ đã đối xử với anh ta rất tốt nên khi nếu bị xui xẻo gì đó anh ta không ân hận gì cả cho là Tổ quốc trên hết, tinh thần ái quốc anh ta rất cao. N. cũng nói chuyện với luật sư trưởng của Sư Đoàn là Trung tá J.A. ông ta không lấy gì mà lo âu cả, ông ta đã từng phục vụ ở Việt nam rồi. (sau đó độ 5-6 năm sau ông ta được thăng chức Thiếu tướng). Ngược lại nữ Đại úy Y sĩ L.S. chuyên môn về thần kinh tâm lý dưới quyền của N. thì ngồi co rúm ở một góc ghế không nói năng gì cả.

 

 N. tới phi trường Dahran vào khoảng 9 giờ sáng. Lúc rời khỏi Đức quốc, khí hậu rất lạnh, nên khi gần S.A., ai nấy đều cởi bỏ áo lạnh, và vén tay áo lên, vì nghĩ rằng ở sa mạc rất nóng. Máy bay không đáp xuống phi trường ngay được, vì có tin phi trường đang bị báo động vì hoả tiễn Scud, nên phải bay vòng ngoài xa tới hơn một giờ đồng hồ sau mới đáp xuống. Ai nấy chả bảo nhau gì cả nhưng gần như tất cả đều lấy áo jacket che đạn (gọi là flakjack) mặc vào.

 

Xuống phi trường thì có vài hạ sĩ quan tới đón tiếp, phát cho mỗi người một chai nước suối và chỉ dẫn đi ra xe buýt để tới trại đóng quân tạm ISA (Intermediate Staging Area). Trông thấy các Hạ sĩ quan đó mặc đồ ấm lạnh và không mặc áo flagjack, ai nấy đều ngạc nhiên, không hiểu tại sao. Chỉ một lúc sau đó, sau khi đứng chờ đợi đoàn xe buýt khởi hành, ai nấy đều lạnh run vì có một luồng gió lạnh thổi nhè nhẹ không ngừng. Thế là tất cả lại bèn lục ba lô ra, lấy áo lạnh ra mặc. Hỏi tại sao không mặc flakjack, thì họ trả lời đâu có đánh nhau gần đó gì đâu từ lâu rồi. 12 giờ trưa, đang chờ đợi khởi hành thì tiếng oang oang vọng từ loa phát thanh như là tiếng vọng cổ nhi nhô như của Ấn Độ hồi trước, quay nhìn chung quanh, N. thấy các tài xế xe buýt người Ả rập đang quỳ gối cúi rạp người hướng Mecca mà cúng khấn.

 

 Khoảng 1 giờ trưa thì đoàn xe di chuyển ra ISA. Trên đường xa lộ đi qua thành phố Damman nhà cửa rất khang trang. Hầu như các nhà đều là villa tường trắng, có bốn bức tường bao chung quanh kín mít. Đúng là một xã hội kín mít và khe khắt như được kể là không bao giờ đàn bà dù chưa hay có chồng không được phép ra ngoài phố một mình mà không che mặt. Còn được nghe, nếu được mời vào một gia đình Ả rập thì chỉ được tiếp xúc với đàn ông chủ nhà và các con nhỏ mà thôi. Còn các phái nữ thì ở trong cung cấm. Trông thấy kiểu cách kiến trúc nhà cửa kín mít tường bao chung quanh, N. thầm nghĩ đời sống gia đình người Ả rập như vậy rất khó khăn, khe khắt, không ai biết chuyện gì xảy ra trong gia đình họ được. Nói là sa mạc, nhưng đường phố trong tỉnh có nhiều cây cỏ dọc theo bênđường. Có tiền là có cây mọc N. nghĩ vậy. S.A. có vài hãng lọc nước biển ra nước ngọt rất lớn, thành ra nước không khan hiếm lắm và có đủ nước mà tưới cây cỏ.

 

Qua khỏi tỉnh, đường xa lộ rất tốt như xa lộ ở bên Mỹ, cũng có bảng chỉ đường xanh trắng rất rõ rệt. Bên vệ đường thỉnh thoảng thấy vài cây palm và có vài con lạc đà thản nhiên ăn những bụi cây nhỏ ở sa mạc.

 

 Độ hai tiếng đồng hồ sau, đoàn xe buýt tới ISA cách biên giới Iraq độ 300 cây số. Ngoài cổng có bảng đề “Desert Inn, Free Breakfast and Bed, Always Have Helping PPlace for a Few More”. Đó là một trại lính bao bọc chung quanh bởi dây kẽm gai.

Những vị nào lúc trước có ghé qua ở Guam thì cũng giống như vậy. Hàng hàng dẫy lều vải (tent) ngay ngắn với hai dọc nhà tắm (shower stands) gỗ và nhà vệ sinh. Bên kia sân cát -chỗ nào cũng toàn là cát cả- là vài tent dùng làm cơ sở hành chánh, chỉ huy, tent họp và field PX. Cũng có một chỗ rộng lớn có bàn ăn picnic ngoài trời mà xe vận tải đem đồ ăn nóng tới. Nữ quân nhân thì ở một tent riêng, độ 15-20 người một tent.

 

Mỗi ngày, ai nấy được phát ba chai nước suối (độ một lít rưỡi mỗi chai) và hai gói MRE (Meal Ready to Eat) để ăn sáng và ăn trưa. Tối thì xếp hàng ãn đồ nóng do nhà thầu đem tới. Ai muốn ãn hamburger thì đứng xếp hàng ra một quầy xe chờ mua hamburger và French fries đang nấu tại chỗ.

 

Ở ISA khoảng 10 ngày N. chẳng bao giờ có hơi thừa thời giờ đứng chờ cả một cho tới hai giờ để mua một miếng hamburger mà ăn. Chỗ nào cũng có hàng dài lính xếp hàng tới lượt vào PX mua đồ hay ra chỗ gọi điện thoại dã chiến.

 

Ngày ngày ở ISA, N. phải đi họp buổi chiều 5 giờ rồi sáng hôm sau đi tụ họp các bác sĩ ở Trung đoàn để ra chỉ thị sửa soạn hành quân. Ba ngày sau thì xe jeep của N. tới bến (gọi là xe CUCV), thế là N. có dịp đi cùng tài xế lái xe ra tỉnh Jubai và Damman thăm viếng các nhà thương dã chiến. Nhà thương 5th Fleet Hospital của Hải quân coi bộ là khá nhất. N. thăm bệnh của Sư đoàn bị đau ốm đang điều trị ở đó, và có trưa được mời ở lại ăn trưa khá tươm tất. N. cũng lo liên lạc với Quân y Quân đoàn về tin tức chống vũ khí sinh hoá học như nerve agent, mustard, anthrax và botulinism, sau đó N. lại phổ biến huấn luyện cho Bộ Tham Mưu và các đơn vị của Sư đoàn.

 

Sống trong cùng tent với N. có nhóm lính thuộc phòng vũ khí hoá học, nên N. cũng được chỉ dẫn thêm về cách phòng ngừa như pha chế nước rửa và quần áo mặt nạ (MOPP gear). Phần nhiều tinh thần của lính rất hăng hái, có rất ít phần tử sợ sệt. Có một anh Trung sĩ mà N. nhớ mãi tên là Badwin, da trắng, lực sĩ cao lớn, trẻ trung, mặt mũi sáng sủa. Hắn ta lúc nào cũng nói là sẵn sàng ra mặt trận. Hắn ta nói là cả họ Badwin của hắn đã sống rất đầy đủ nhiều thế hệ rồi, nên nếu có mệnh hệ gì cho hắn thì hắn thản nhiên chấp nhận hy sinh mặc dù hắn có vợ trẻ, con nhỏ. Quả là tinh thần ái quốc cao. Lại có một anh chàng da đen Mỹ nhưng theo đạo Muslim Hồi giáo, hắn ta lúc nào cũng trầm ngâm. Khi hỏi, hắn ta kể lể là hắn theo đạo Hồi giáo thì những người cùng đạo không được giết nhau, làm hắn ta rất phân vân không biết phải làm gì mặc dầu bao nhiêu lần cãi lý với Trung sĩ Badwin (như chẳng hạn, chẳng lẽ để Saddam Hussein cứ mỗi ngày lại xâm chiếm, hiếp đáp các xứ nhỏ bên cạnh, tự do hoành hành như vậy hay sao?).

 

Trong thời gian ở trại ISA, một anh chàng Đại uý Quân y sĩ bị trật khớp xương đầu gối khi tập khiêng băng ca. Hắn ta được chuyển qua Quân y viện về Đức, N. lại nhức đầu phải đi kiếm bác sĩ, nhất là về sau biết được là hắn ta có đau đầu gối lúc trước nhẹ, nhưng chạy chơi football thì bị trật khớp xương chứ có tập khiêng băng ca gì đâu? Thế là anh ta thoát khỏi phải ra mặt trận, bề ngoài mặt thì nói sorry sorry nhưng nét mặt thì mừng rỡ vì thoát khỏi chỗ hiểm nguy.

 

Ngày 5 tháng Giêng, cả sư đoàn di chuyển ra chỗ tập trung chiến thuật Tactical Assembly Area (TAA). Chỗ này cách biên giới 170 cây số, ngoài tầm tác xạ của pháo binh địch, nhưng cũng không tránh khỏi hoả tiễn Scud. Tuy vậy lệnh trên bắt buộc tất cả phải đội nón sắt (Kevlar) chứ không còn đội mũ vải như ở ISA nữa. Thành ra ai nấy có phần căng thẳng thêm không ít thì nhiều.

 

Ở TAA, đời sống hằng ngày bắt đầu khó khăn hơn, sáng 5 giờ 30 đã phải chỉnh tề quân phục tác chiến, rồi phải chia nhau ra canh gác ngoài vòng đai. Y tá và bác sĩ được miễn canh gác, còn tất cả từ đại úy trở xuống phải đứng gác tới 7 giờ sáng. Thiếu tá trở lên thì phải ra Bộ Tham Mưu dã chiến làm việc. Bộ Tham Mưu dã chiến gồm có từ phòng 1 cho tới phòng 5 và những phòng phụ thuộc như truyền tin, chiến tranh hoá học, liên lạc không quân, quân binh, phòng không, tiếp liệu v.v… những phòng này làm việc trên những xe van (5-ton expands van) sửa đổi thành phòng làm việc có máy nóng, lạnh và máy truyền tin. Quân y sư đoàn cũng có một xe van gọi là Med Ops (Medical Operation).

 

Vì là Y sĩ Trưởng Sư đoàn, có một Y sĩ Trung tá trưởng Med Ops lo về tản thương và tiếp liệu quân y cùng những việc lặt vặt khác. Hắn ta 5 giờ 30 sáng phải ra xe van họp và làm việc. Còn N. và hai y tá ở lại tent trở thành một trại cấp cứu khi cần.

Sau thời gian “stand to” thì quân lính được trở về tent làm vệ sinh cá nhân hay ăn sáng. N. sau đó đi họp với Bộ Chỉ Huy đóng cách xa từ 10 cây số tới 50 cây số (dĩ nhiên khoảng cách thay đổi như vậy vì Bộ Chỉ Huy phải “nhảy” (jump) đổi chỗ cắm trại cho địch không biết chỗ nào xác thực).

 

Tuy khoảng cách có vẻ gần, nhưng lái xe ở sa mạc rất khó khăn. Ai nấy đều tưởng sa mạc toàn là cát, nhưng thật ra là đất trộn với cát. Nếu mưa nhiều thì cây cỏ sẽ dễ mọc. Nói về mưa thì trong thời gian N. ở TAA, N. bị năm trận mưa lớn, hai lần lều vải của N. bị ngập lụt. Vũng nước lầy thường xảy ra sau mỗi cơn mưa, thành ra đêm tối đi trong trại dễ dẵm phải bùn. Không hiểu năm nay mùa mưa có khác thường hay không? Mà chỉ một trận mưa đầu, mức nước mưa đã đủ mực cao nước mưa của vùng N. đóng cả năm rồi. Đó là chưa kể những trận mưa nhỏ phất phơ, nhưng cái được là chỉ ba-bốn ngày sau là đất lại khô nhưng lại khổ vì cát bụi. Hai lần xe HUMVV của N. bị lầy phải nhờ xe Thiết vận xa tới kéo lên.

 

Sẽ kể sau… Lái xe trên sa mạc phải dùng địa bàn (compass), không chính xác lắm, hay Loran. Máy Loran là một máy điện tử gắn trên xe để định hướng. Khi vặn máy lên, bấm nút, máy sẽ chỉ tọa độ hiện tại của xe đậu bằng cách phát làn sóng ra ba trạm antenne gần đó. Tọa độ bằng độ Lat Long (Latitude, Longitude), sau đó bấm tọa độ chỗ mình muốn tới và máy tính cho biết hướng nào sẽ đi và cách xa bao nhiêu dặm. Lúc mới tới TAA, N. chưa được phát máy Loran, vì số máy Loran lúc ban đầu rất khan hiếm, chỉ phát cho đơn vị cần thiết nhất như Bộ Chỉ Huy đơn vị tác chiến, xe tăng, xe cứu thương, trực thăng, nên N. và ba thầy trò gồm một tài xế và một Thượng sĩ Thường vụ phải dùng địa bàn.

 

Chỗ TAA rất rộng lớn chừng 100×150 cây số và có hai con đường chính mà thôi, gọi là đường, chính ra chỉ là một đường cát bụi do công binh cắt giữa sa mạc. Sau đó vì nhiều xe cộ đi lại kể cả xe tăng nên làm hỏng có nhiều lỗ sụp lên sụp xuống. Khi đi họp N. phải băng qua nhiều rãnh mà các xe tăng đi qua. Các rãnh đó vì là đất bùn trộn với cát nên khá cứng, đi ngang qua mà lái nhanh là sập bàn toạ là thường. Có vài lần đi họp chiều tối, khi tan họp lúc 6 giờ chiều, trời đã xẩm tối mà lệnh trên chỉ được dùng đèn mờ parking xe nên rất khó đi. Có hai lần, ba thầy trò N. bị lạc loanh quanh có 20 cây số mà không kiếm ra được trại N. ở. Lái một lúc là phải xuống xe ngắm lại địa bàn, nhưng cũng không xong vì ở sa mạc đâu có điểm cao để nhận diện đâu như nhà, cây cối chẳng hạn.

 

Ban đêm ở sa mạc, bốn phía đều giống nhau cả. Có lúc thấy một trại, nhưng khi dừng lại hỏi rất nguy hiểm vì không được dùng đèn sáng, chỉ được dùng đèn pin có kính lọc đỏ hay tím mà thôi. Lính gác nếu không cẩn thận hay hoảng hốt bất ngờ có thể bắn lầm lắm. Cứ tưởng tượng đang đứng canh gác tự nhiên có bóng đen từ từ đi tới giật mình thì có thể hoảng hốt bóp cò súng dễ như chơi, hóa ra là không phải trại N. đóng, hỏi hướng nào để đi, thì lính gác thường thường cấp kém nhất, đâu có biết gì đâu. Hỏi trưởng trại thì hắn cũng không biết gì luôn vì thường thường mỗi đại đội đóng một chỗ riêng và một sư đoàn thì có cả trăm đại đội nên ai cũng lắc đầu. Hỏi có thể nhờ điện thoại được không, thì hắn trả lời là tối đêm có lệnh cấm sử dụng truyền tin (signal silence) tuyệt đối.

 

Thành ra xe N. lại loanh quanh một hồi tới khi gặp được Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn, may quá ở đó N. có quen với Tiểu đoàn trưởng, nên hắn biết hướng và tọa độ N. ở nên chỉ một chút sau là N. về đến trại được. Khoảng cách có 15 cây số mà đi mất bốn tiếng đồng hồ, thật là hú vía, vì nếu kiếm không ra, phải đậu xe ở ngoài sa mạc chờ đến sáng hẳn đi. Chứ cứ lái xe đi mãi có thể đi lạc sang đất địch, như chuyện hai anh lính Lê Dương Pháp lái xe làm sao đi lạc sang đất Iraq bị bắt làm tù binh, đã thế ngủ trên xe sẽ bị lạnh cóng. Khoảng lúc N. đóng ở TAA là mùa đông bên Saudi Arabia. Ban ngày thì mát nhưng ban tối thì rất lạnh, có lúc gần 0 độ Celsius, sáng ra ngoài đều thấy sương đóng đá trên xe.

 

 Ngoài những trận mưa thì còn có những trận bão cát gọi là shamal. Các trận bão cát này thường xảy vào tháng Giêng và tháng hai, lâu lâu mới có một trận kéo dài độ một ngày thì hết. Nhưng từ tháng ba tới tháng bẩy thì thường xảy ra hơn cứ vài ba ngày lại có và có thể kéo dài cả tuần khi đến tháng bẩy. N. rất ghét những trận bão cát này, nếu đang lái xe thì cát mù mịt, buổi trưa lái xe mà lại không trông thấy năm thước đằng trước. Rồi bụi cát bay vào mắt làm cay, đau mắt, hít thở vào nguy hiểm cho sức khoẻ và quần áo, ghế bố, đồ vật rất bẩn vì bụi đóng cả đống. Lều vải không cách chi nào mà làm kín mít cho cát khỏi vào được. Lại còn nếu không mắc đóng lều vững chắc thì lều vãi bị sập tiệm bay đi dễ như không. N. tội nghiệp nhất là đang bão cát như vậy mà lính lại đang đứng gác mà không có khăn che mặt mũi thấy mà thương hại. Có vài lần N. dừng xe lại và phát cho lính gác khăn che mặt mà N. lấy từ trong túi cấp cứu (gọi là cravate dùng để làm sling khi trật tay hay cùi chỏ).

 

 Nói về cát bụi bay vào mắt, năm ngày hôm sau khi tới TAA, N. đi thăm các nhà thương dã chiến chung quanh. Khi tới thăm bệnh viện tản thương số 12 (12th Evacuation Hospital) thì được biết một Đại úy Phòng 5 bị đau mắt, khi khám ra hắn ta bị trứng con ruồi của cừu nở ra thành larvae trên mắt hắn ta. Hắn kể là vài ngày hôm trước, hắn bị bụi cát vào mắt, sau đó khó chịu nên đi khám. N. được nhân viên phòng thí nghiệm cho xem con larvae đó ở kính hiển vi (sheep botfly). Cách chữa trị bệnh đó thì chỉ là gắp các con đó ra thì khỏi (đếm được gần 30 con).

 

Ở TAA thì đời sống không khá hơn ở ISA, vì ăn uống ở đây không còn có thầu khoán nấu đồ ăn nóng cho buổi sáng và buổi tối. Tuy vậy, thường thường (trừ những ngày không “jump” thì phải ăn đồ MRE) thì có một bữa ăn nóng do đầu bếp dã chiến nấu, ăn cũng tạm được. Bữa ăn nóng đó thì có thể là bữa ăn trưa hay tối (5-6 giờ chiều). Tắm thì tắm nhà tắm gỗ xây ba cái gộp một và đi vệ sinh cá nhân cũng vậy, chỉ có cái bất tiện là hơi xa chỗ ngủ (độ 300-500 thước), quần áo thì giặt lấy. Chủ nhật thì các Cha tuyên uý giảng đạo tại mỗi trại.

 

Về tinh thần quân lính thì sau khi mừng hụt là Saddam Hussein chịu cho Tổng trưởng Ngoại Giao Aziz họp với Tổng trưởng Ngoại Giao Baker ở Geneve, ai nấy đều thất vọng khi hay tin điều đình thất bại hoàn toàn. Tới ngày 15 tháng Giêng thì được biết chiến tranh sẽ xảy ra. Tin đồn là nếu nghe được trên đài phát thanh hay bất cứ đài vô tuyến nào có mật hiệu “Cow boy” thì là chiến tranh bắt đầu. Đêm 17 rạng 18 tháng Giêng, ai nấy đi ngủ, phập phồng chờ đợi. Nhưng sau đó tất cả đều ngủ đến sáng thức dậy mới biết là khoảng 2 giờ sáng, không quân Đồng minh đã thả bom rầm rộ khắp Iraq. Cả ngày hôm sau phần đông quân lính chú ý lắng nghe tin tức từng giờ một. Ai nấy đều vui mừng vì cả ngàn phi vụ mà không có máy bay đồng minh nào bị bắn rơi và kết quả oanh tạc rất tốt.

 

Khi đi họp hằng ngày vào buổi sáng thì được biết là tất cả phải đề cao cảnh giác vì khủng bố địch. Có tin là tụi khủng bố dùng xe Toyota 4 Wheels mầu vàng đi bắn vào các trại. Lính căn gác được lệnh bắn chỉ thiên trước rồi nếu xe nào không dừng lại thì bắn ngay.

 

Trong khoảng thời gian đó thì sư đoàn cho thầu được một trạm điện thoại ATT. Trạm này được dựng ngay giữa sa mạc gồm có một disc radar lớn để nhận làn sóng điện thoại và có từ 100 đến 150 cái điện thoại. Vì thư từ rất chậm, độ ba bốn tuần một chuyến mới là thường, nên điện thoại rất đắt hàng. Ban ngày mỗi người không được nói quá 15 phút, ban đêm thì tự do muốn nói bao lâu cũng được, điện thoại đó nhấc lên thì có operator hỏi gọi số nào và họ sẽ liên lạc với số đó và cho trả bằng ATT credit card (giá độ chừng $16.50 cho mười phút đầu tiên). Không thể gọi thẳng được hay người nhà không thể gọi tới chỗ đóng quân được. Giá khá mắc, nhưng ai nấy đều không quản ngại trả tiền vì khó mà có dịp gọi điện thoại vì tùy trại, có trại phải bay trực thăng mới tới nói được mà vì phải chờ đợi tới lượt gọi xếp hàng nhiều khi ba-bốn tiếng đồng hồ chờ đợi là thường. Được biết là mỗi ngày có chừng 5000 cú điện thoại thành ra N. thầm nghĩ ai mà có stock trong ATT lúc này là trúng số đỏ. Vì giá khá mắc nên thời gian sau trên đài phát thanh quân đội họ cảnh cáo lính đừng có lạm dụng điện thoại vì có người phải trả cả ngàn đồng điện thoại hết sạch tiền lương.

 

 Vì thư từ chậm trễ khó khăn, N. cũng dùng điện thoại để cho gia đình biết tin cho đỡ lo âu. Về tin tức, ngoài thư từ, điện thoại, binh lính được phát báo Stars and Stripes mà đọc. Báo này thường trễ, sớm nhất là cũ ba ngày nhưng rất có giá trị vì có rất ít, phân phát không đều, nên ai nấy khi có là ngấu nghiến đọc lấy đọc để. Như đã nói ở trên, thêm vào đó, muốn biết tin tức phải chịu khó mở radio mà nghe. Phải mua shortway radio thì mới bắt đài BBC được, máy thường chỉ nghe được đài quân đội mà thôi. N. thì còn biết khá hơn vì phải đi họp với Bộ Tham Mưu hàng ngày nên biết tình hình cập nhật do Phòng Nhì và Phòng Ba báo cáo.

Khoảng lúc đó là vì có thể là thời tiết thay đổi có dịch cảm cúm, ho, nghẹt mũi và khan tiếng. Có thể nói một cách tổng quát là hơn nửa số quân lính ai nấy đều bị không nhiều thì ít các triệu chứng trên. N. sau khi chữa trị cho Tướng Chỉ huy trưởng một tuần sau cũng bị lây.

 

Nói về thư thì do Quốc Hội Mỹ chấp thuận thì gửi thư về Mỹ hay Đức thì miễn phí. Ngược trở lại Mỹ gửi sang S.A. chỉ trả giá bằng nội địa. Còn gửi đồ thì gửi về gia đình bên Đức hay ngược lại thì miễn phí. Nếu gửi về Mỹ thì phải trả giá như giá nội địa.

Sau khi hân hoan về các tin oanh tạc thành công do Không quân Đồng minh vào ngày đầu tiên thành công, thì có tin Iraq nào là bắn hoả tiễn Scud, lẫn đột kích qua đất Saudi Arabia, quân tình bắt đầu hơi nản chí vì ai nấy đều đếm ngày trở về với gia đình, mà nay thấy chiến dịch thả bom có lẽ sẽ kéo dài rất lâu mới thắng.

 

 Ngoài những buổi họp hằng này với Bộ Chỉ Huy, N. phải lo điều động tiếp liệu y khoa tranh dành với xe cộ chuyên chở vũ khí, xăng nhớt và bom đạn, N. phải nhắc khéo cho Tướng chỉ huy chú ý thì mới khả quan. Cũng may là chiến dịch thả bom kéo dài hơn cả tháng nên tiếp liệu quân y gần như được đầy đủ khi tới ngày đánh bộ (Ground Day) N. cũng phải đi tiếp xúc với Quân y Quân đoàn, lo kế hoạch tản thương và liên lạc với các nhà thương MASH và CSH (Combat Support Hospital). Sư đoàn của N. cấp số được hai MASH và hai CSH hỗ trợ và một-hai Evacuation Hospital phụ thêm MASH có 60 giường bệnh và có thể di chuyển 100% với sư đoàn. CSH có 200 giường bệnh, to hơn nên khó di chuyển hơn. Còn Evacuation Hospital thì quá lớn 400 giường nên gần như hoàn toàn không di chuyển theo sư đoàn được.

 

MASH có hai phòng mổ và có độ 16 bác sĩ chuyên môn giải phẫu từ tổng quát cho tới chuyên về lồng ngực hay não khoa. MASH tuy di chuyển được, nhưng cũng mất phải ít nhất một-hai ngày mới dọn đi được, nên với tình thế chiến tranh tạm thời hiện nay của Mỹ (AirLand battle) MASH cũng khó mà đáp ứng nhanh chóng được. (Sau ngày tấn công trên bộ, Sư đoàn chiến xa của N. tràn qua Iraq như thế chẻ tre, đoàn xe MASH không kịp chạy theo, dựng lên chữa trị, lại chạy theo tiếp được).

 

Vì có tin là lính Iraq có thể dùng chất Thallium đầu độc vào nước do tin của phòng 2 Hành Quân Sư Đoàn (Tình báo do Trung tá K.A. chỉ huy –về sau được thăng chức Đại Tướng làm Giám Đốc Nha Quốc Gia An Ninh), N. cũng đi bắt liên lạc và tổ chức các buổi học thêm về chữa trị và phòng ngừa các bịnh sinh hoá như nerve agents, chất phóng xạ, anthrax, và bolulism.

 

Các nhà thương MASH và CSH (gọi nhanh là CASH) và Evac Hospital phần đông là các đơn vị trừ bị và National Guard. N. đi liên lạc thăm viếng các đơn vị đó và được biết các bác sĩ trừ bị đó đa số đều có phòng mạch tư đang làm ăn khá giả nay bị động viên bất ngờ. Có ông Trung tá bác sĩ than thở với N. là ông ta phải khai bankrupcy vì tiền sở phí overhead quá tốn vì mới trang bị phòng mạch tối tân. Ông bác sĩ nào, ông bác sĩ nấy đều than như bọng, nhưng lỡ ký hợp đồng với nhà binh rồi đành chịu vậy. Đâu có ông nào ngờ bị trưng tập phải sang đóng ở vùng sa mạc này đâu. Phần đông các bác sĩ trưng tập đó đều có làm cho nhà binh một số năm hiện dịch rồi xin ra khỏi nhà binh, nhưng vẫn muốn giữ cấp bậc và mong làm đủ năm cho có hưu trí về sau. Mấy ông lý lẽ là sau Việt Nam đâu còn đánh nhau to nữa, hoà bình cả đến 15-16 năm rồi, mà nếu có đánh nhau to là đánh với Nga sô thì ai nấy đều khủng hoảng hết mà các ông ấy có sẵn trong trừ bị thì khi bị trưng tập sẽ nhẩy lên lon cao ngồi trên, ngồi chốc ở mấy chỗ đỡ bị nguy hiểm hơn những bác sĩ tò te mới bị động viên.

 

Trong lúc đó, tình hình chiến sự thay đổi không ngừng. Đại tướng Schawarzkopf đã bí mật dàn trận đánh làm Iraq trở tay không kịp. Trước khi chiến dịch oanh tạc, Tướng S., bày mưu cho Iraq biết là ông ta tập trung cả bốn Quân đoàn: Quân đoàn XVIII gồm có Sư đoàn Nhảy Dù Hoa kỳ và Sư đoàn Lê Dương Pháp, Quân đoàn VII gồm có ba sư đoàn thiết giáp, trong đó có Sư đoàn 1 và 3 Thiết Giáp Hoa Kỳ, và một sư đoàn thiết giáp Anh quốc, Quân đoàn Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và Quân đoàn Ả rập gồm có lính của Ai cập, Saudi Syria, Kuwait v.v… Tướng S. bầy trận như là Quân đoàn XVIII và Quân đoàn Thuỷ quân lục chiến sẽ đánh thẳng tràn từ Saudi sang Kuwait, Quân đoàn VII Thiết giáp và Quân đoàn Ả rập sẽ đánh ngay ở ngã ba biên giới Saudi Arabia, Iraq và Kuwait.

 

Tướng S. cũng làm như sẽ dùng Thủy quân lục chiến đổ bộ xung phong lên bờ biển trên tỉnh Kuwait city vào hậu cần địch. Ông ta quảng cáo Thủy quân lục chiến tập trận đổ bộ thành ra Iraq tập trung quân lính thật kiên cố ở ngã ba biên giới và biên giới giữa Kuwait và Saudi Arabia và ở bờ biển phía Bắc Kuwait. Iraq xây nhiều hàng rào kẽm gai chằng chịt với hố sâu cộng với mìn (nghe nói Iraq đã rải 10 triệu mìn trên biên giới ba nước). Đã thế còn có những rãnh sâu đổ đầy dầu để đốt lên ngăn cản chiến xa và có chiến xa Iraq nằm sẵn để bắn vào quân đội đồng minh (killing field). Chỗ đó Iraq cho là chỗ hướng tấn công của đồng minh khi đồng minh tưởng chỗ đó là chỗ yếu-soft spot-không có mìn hay hố sâu.

 

Đó là chưa kể chuyện mà tất cả quân đồng minh đều e sợ là vũ khí hoá học. Iraq lại có tụi Vệ binh cộng hoà (Republican Guards) gồm các đơn vị tinh tú nhất được trang bị với chiến xa và các vũ khí tối tân nhất gồm chừng 150.000 quân. Saddam Hussein dùng tụi Vệ binh cộng hoà này làm Tổng trừ bị đóng ở ngay biên giới Bắc Iraq và Kuwait để sẵn sàng đánh xuống thẳng chỗ biên giới nào bị chọc thủng.

 

Trong lúc không quân đồng minh oanh tạc ngày đêm không ngừng cắt đứt các trục lộ giao thông, tiếp tế cho các sư đoàn Iraq vùng Kuwait và tàn phá các não truyền tin cộng với sự “neutralize” không quân Iraq đó thì Tướng S. ra lệnh cho Quân đoàn XVIII Nhảy dù và Lê Dương Pháp thay đổi chỗ đóng quân đi về phía Tây rất xa khỏi biên giới ba nước. Quân đoàn VII Thiết giáp cũng đổi chỗ ra phía Tây ngoài khoảng biên giới được phòng vệ kiên cố. Quân đoàn Ả rập thay thế chỗ Quân đoàn Nhảy dù.

 

Trong khoảng thời gian từ ngày 17 tháng Giêng cho đến ngày tràn đánh bộ 27 tháng Hai, đường quốc lộ Tap Line song song với biên giới lúc nào cũng rầm rộ xe cộ di chuyển cả ngàn xe tăng lẫn đại bác cộng với xe vận tải chở bom đạn và xăng nước. Vì Iraq không có không quân và vệ tinh dọ thám nên quân địch không biết chiến trận mới. Đã thế, dù biết Iraq cũng trở tay không kịp, không thể nào đào hầm hố và gắn mìn thêm hai biên giới hơn vì không quân đồng minh tàn phá bất cứ xe cộ nào di chuyển cả ngày lẫn đêm.

 

 Ngày ngày nghe thuyết trình tình hình đồng minh và địch, N. thấy tội nghiệp cho lính Iraq. Các lính biên giới phần đông ít học và bị miễn cưỡng phục vụ trong quân đội. Ăn uống thì thiếu thốn và chỉ được phát một bữa ăn rất thanh đạm, và ngày đêm lúc nào cũng mang máng sợ bom rớt ngay trên đầu. Tuy vậy, số lính Iraq trốn đầu hàng sang Quân đoàn VII của N. tương đối ít, vài trăm… Sở dĩ như vậy là vì chiến tranh tâm lý của Iraq rất tàn bạo và có tin có toán công an đi tới các đơn vị ngoài biên giới và xét trong túi ai có khăn trắng thì bị xử tử ngay.

 

Thêm nữa, cũng như hồi ở Việt Nam, không quân Mỹ dùng B52 thả bom truyền đơn xuống vùng địch rải rác các tờ chiêu hồi viết bằng tiếng Ả rập bảo là cầm các tờ chiêu hồi đó ra đầu hàng sẽ được đón tiếp tử tế. Các toán công an đó cũng sẽ giết ngay những người nào mà trong túi có những tờ chiêu hồi đó. Thêm vào đó khi B52 rải bom truyền đơn chiêu hồi, các sĩ quan Iraq cấm binh lính ra khỏi hầm hố mà chia nhau ra nhặt và thủ tiêu tất cả các truyền đơn đó. Rất đắc lực là địch quân nhồi sọ khá tốt vào các toán quân Iraq ít học là nếu bị bắt hay đầu hàng với Hoa Kỳ thì sẽ bị giết ngay (vì lính Hoa Kỳ không có đạo Hồi giáo). Thành ra, tin tình báo cho biết, nhiều lính Iraq đào ngũ không xuống phía Nam đầu hàng quân đội đồng minh mà trốn ngược lên phía Bắc về với gia đình ẩn nấp.

 

Có một lần, quân đoàn VII có bắt được một lính Iraq sang đầu quân. Khi tra vấn thì được biết, hắn ta là một bác sĩ bị động viên bổ xung đi lái chiến xa. Thảo nào khi đánh tràn đường bộ sang Iraq, lính địch đầu hàng nhanh chóng và tan rã khá nhanh.

 

Ngày 21 Febuary 1991 (hay Ground day minus 3), Sư đoàn 1 Thiếp giáp Hoa Kỳ 1st Armored Division (1AD), đóng ở Forward Assembly Area (FAA) Garcia gần biên giới Iraq bắt đầu bắn pháo binh sang đất địch hai ngày liền.

 

Ngày 23 Feb (G-1), Trung đoàn 4 Trực thăng thuộc 1AD, sai một Đại đội trực thăng Apache AH-64 tấn công thám thính sang Iraq trong vùng hành quân của 1AD.

 

Ngày hôm sau, 24 Feb. (G-Day), Tiểu đoàn 19 Công binh của 1AD chọc thủng 250 chỗ rộng tám thước qua mô đất phòng tuyết địch ở biên giới để sửa soạn cho 1AD tràn qua. Lúc 12 giờ trưa, Quân đoàn VII báo động cho 1AD biết là sửa soạn tấn công 18 giờ trước kế hoạch định trước. Đúng ra là ngày G-Day chỉ có Sư đoàn 1 Bộ binh (1ID) và Sư đoàn Thiết giáp Anh quốc (1AD-UK) tràn đánh sang mà thôi, để địch tin tưởng mà dồn quân vào chỗ ngã ba biên giới Kuwait, Iraq và Saudi Arabia. Sau đó ngày G+1, Sư đoàn 1AD và Sư đoàn 3 Thiết giáp Hoa Kỳ (3AD) mới đánh bọc hông sang Iraq. Nhưng vì thấy địch tan rã nhanh chóng ở mọi tuyến, nên Quân đoàn VII ra lệnh cho 1AD đánh sớm hơn 18 tiếng dự định, cũng vì vậy mà N. hỏng kế hoạch định trước nên bị cắt đứt liên lạc với Tổng Hành Dinh Tướng Sư đoàn trưởng 1AD. 1AD quá mạnh thế đánh như chẻ tre đi đến đâu thì địch (vì địch quân ở biên giới là đơn vị yếu, phần đông là tân binh quân dịch) mới bắn vài phút đã đầu hàng ngay.

 

 Cơn hăng say chiến thắng làm quân Mỹ lăn xả tấn công luôn vào đơn vị thiện chiến Republican Guard của Iraq một cách hùng hổ, nên địch quân chỉ chống cự một chút lát rồi cũng bỏ chạy luôn.

 

 1AD tiến quá nhanh đến nỗi các xe tăng và trực thăng sáng này G+3 thì hết nhiên liệu, phải cho tiếp tế mới đánh tiếp được.

Lúc 5 giờ chiều ngày G+3, có tin là sẽ ngưng chiến, Tướng Sư đoàn trưởng 1AD, Thiếu Tướng R. G. (về sau thăng chức Đại Tướng Tham Mưu Phó Lục Quân) bèn ra lệnh tập trung tất cả pháo binh, trực thăng Apache và chiến xe, dồn đánh mạnh mẽ để tiêu diệt tàn quân của Iraq Republican Guard càng nhiều càng tốt trước khi lệnh ngưng chiến được ban hành vào 8 giờ sáng ngày 28 Feb 1991. Đêm đó, suốt cả đêm, súng đạn, rockets bay ngợp trời như pháo bông thi đua tàn phá.

 

Chiều hôm đó, N. bay đi thăm trạm cứu thương của Tiểu đoàn 2-1 trực thăng tấn công Apache, khi đáp xuống thì y tá báo tin ngay cho N. biết coi chừng đáp nhầm phải các bom cluster chưa nổ mà Không quân Hoa Kỳ rải đầy rẫy vào chỗ địch quân đóng lúc trước. N. cũng được tin là xe của Đại tá Tham Mưu Trưởng cán phải bom bị nổ tung, nhưng hên là ông ta không bị sao cả, chỉ bị một cơn hú vía mà thôi.

 

Khi bay trên đất địch, N. trông thấy đằng xa ở giữa sa mạc lố nhố một đám đông lính đứng ngồi lổm xổm, bay lại gần thì hoá ra đó là lính tù binh Iraq đầu hàng. Thật là một cảnh tượng lạ, cả đến hơn trăm lính tù binh, người thì buộc khăn trắng trên cánh tay hay trên đầu, người thì cầm khăn trắng, mà chỉ có hai xe HMVV (jeep kiểu mới) với vài lính Quân cảnh Mỹ đứng gác mà thôi, chả có hàng rào kẽm gai gì cả. Trông thấy họ có vẻ sung sướng mà đầu hàng. Hỏi ra thì được biết, đám tù binh đó mới đầu hàng, đang được tập họp ở sa mạc để được di chuyển đến trại tập trung tù binh.

Vào gặp Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Apache, Trung tá W. kể lại là 36 giờ đầu khi bắt đầu tấn công, ông ta không được nghỉ gì cả, lúc thì bay tấn công, lúc thì ở bộ chỉ huy lo điều động tấn công. Ông ta kể rằng có lúc ông ta bay tới gần chỗ có địch quân trú đóng, mới có bắn một vài tràng chỉ thiên thì bất thình lình cờ trắng bay phất phới tùm lum cả lên. Ông ta bèn ra lệnh cho các trực thăng dưới quyền ngưng bắn (on hold), ông ta chỉ sợ các trực thăng của các đơn vị khác hay pháo binh yểm trợ phía sau không biết là địch quân đã đầu hàng rồi mà vẫn bắn diệt thì đám quân đã đầu hàng rồi sẽ bị tàn sát một cách quá đáng. Trong một lúc tâm tình chân thật, ông ta kể là từ trước tới nay, ông ta rất hăng say chiến đấu bắn phá, nhưng lúc này, ông ta thấy chán nản vì sự phá hoại, khổ sở, tàn khốc của chiến tranh. Thêm vào đó, Trung đoàn 2 Thiết giáp Hoa kỳ có tiếng là rất hăng say tận diệt quân Iraq sẽ tiến tới sau máy bay trực thăng, ông ta không biết họ có nới tay cho đám tàn binh đã đầu hàng rồi hay không?

 

Được Trung tá W. sai lính dẫn đi xem hầm trú ẩn của quân Iraq gần đó. Lúc đó, gió bão cát (shamal) đã bắt đầu thổi tới, N. từ chối không tránh bão cát mà vội lấy khăn che mặt mũi và đeo kính để đi xem nơi trú ẩn đóng quân của Iraq. Ngoài các xe vận tải bị cháy đen thui chỉ còn sườn xe mà thôi, có nhiều dụng cụ sửa xe kềm kẹp bỏ ngổn ngang, hỏi ra, hóa ra đó là một trạm quân cụ của Iraq. Tới một hầm trú ẩn của Iraq, N. cảm thấy tội nghiệp cho lính Iraq, phải sống quá thiếu thốn, bẩn thỉu (kém hơn cả Việt Nam lúc trước), vài đồ đạc, quần áo dơ dáy, nghèo nàn, vứt tung toé chung với một vài bãi phân. Chung quanh hầm hố vẫn còn phảng phất mùi thuốc súng lẫn với khói của các xe vận tải còn cháy. Thượng sĩ S. tỉnh bơ chui xuống một hố rãnh trú ẩn dưới đất, mặc dầu N. can ngăn coi chừng mìn bẫy hay là bị nhiễm bởi chất hoá học. N. chỉ đứng ngoài cửa hầm ngó vào và hét coi chừng mà thôi. Chắc Thượng sĩ S. nghĩ rằng tụi Iraq vì quá hoảng sợ đâu có tinh thần chiến đấu gì đâu, phải lo bỏ chạy trốn hay đầu hàng, nên đâu có thời giờ gài bẫy mìn mà sợ. Chuyện đó cũng đúng thật, vì sau đó chả có báo cáo nào về mìn bẫy cả. Nhưng theo N. cẩn tắc vô áy náy vẫn hơn. Sự thật thì chỉ có tin là quân đồng minh dẫm phải bom bi cluster của Mỹ hay đã tinh nghịch (hay dại dột) nhặt cất dấu bom bi làm kỷ niệm, rồi vì một lý do nào đó làm rớt ra nổ tung bị thương. Thượng sĩ S. có lấy được vài tách uống trà bằng nhôm rẻ tiền, và nhặt được một khăn chùm đầu mà dân Ả rập thường dùng, N. khuyên phải giặt kỹ vì coi chừng rận chấy hay có thể bị dính chất hoá học.

 

Sau đó N. trở lại lều của Trung tá W. và dùng cơm trưa ở đó (Meal Ready to Eat hay MRE). Vừa ăn, ai nấy tuy mệt nhưng nhẹ nhõm vì chiến tranh gần như đã xong. Radio kể là địch tan rã và đầu hàng cả chục ngàn người. Radio còn chế diễu là Saddam Hussein đang học bài “Mother of all battles”. Radio còn chế diễu là tự nhiên Không quân Iran lại được tăng cấp số quá nhanh vì cả trăm máy bay tối tân của Iraq khi bay sang Iran để lánh nạn, nay bị chính phủ Iran tịch thu.

 

Tới lúc này thì tinh thần chiến đấu của 1AD lên quá cao. Quân lính bàn tán là sẽ tới lúc Iraq được xem “Mother of all parades” ở ngay tại Baghdad. Thêm vào đó là nếu Iraq thua to như vậy, thì trong tương lai, đối như các nước bại trận như Đức quốc xã hay Nhật bản, thì chỉ trong vòng độ 20 năm sau, dân chúng Mỹ lại sẽ tranh nhau mua xe Iraq vừa rẻ lại vừa tốt tràn ngập thị trường Mỹ.

 

Đài phát thanh Mỹ, lúc này bắt đầu hàng ngày đề cao cảnh giác lính Mỹ đừng nhặt bom, lựu đạn chưa nổ để làm kỷ niệm vì đã nhiều lính Mỹ bị tử thương vì cố ý nhặt, dấu bom đạn chưa nổ đem về làm kỷ niệm. Có tin lúc đầu là có hai bác sĩ bị tử thương, như vậy về sau kiểm điểm thì Bộ Tư Lệnh Mỹ xác nhận chỉ có một bác sĩ chết như vậy mà thôi. (khi về lại Mỹ thăm gia đình, sau đó M. em vợ của N. ở New York City kể lại là M. có nhận được message long distance để lại trong recording machine, đúng lúc sau khi M. hay tin trên radio là có một bác sĩ bị tử thương, M. hoảng hốt vì sợ đó là tin gia đình báo cho biết có tang). Nhưng may quá, M. gọi lại thì được biết chỉ là một cú điện thoại liên lạc gia đình thường mà thôi. Sở dĩ như vậy là vì trên tivi hay trong radio họ có báo tin người bị tử thương nhưng không nói tên họ để cho họ báo tin cho gia đình biết trước.

 

Bây giờ là đầu tháng Ba, mùa Xuân ở sa mạc, gió bắt đầu thổi mạnh hơn, shamal (bão cát) xảy ra thường xuyên và kéo dài lâu hơn. Gần như là cứ hai, ba ngày lại có một shamal, kéo dài từ một đến ba ngày. Khi bão cát xảy ra thì lều vải dễ bị kéo sập như chơi nếu không đóng cọc cột chặt. Ban ngày lái xe phải đóng cửa kín mít. Đã nóng, lại nóng thêm. Đã thế, cát thổi lại cứ tung làm trời mặc dù bữa trưa cũng tối mịt không trông thấy gì cả nếu quá độ năm thước. Có lần N. lái xe Jeep Cherokee, đi từ trại này sang trại nọ chỉ cách có mấy cây số mà đi loanh quanh, lạc tùm lum cả lên, đến nỗi phải chịu thua mà lần mò lái xe trở về trại cũ! Sở dĩ như vậy là mặc dù lúc đó là giữa trưa, nhưng bão cát làm tối mịt, gió thổi quá mạnh, đường đi không thấy gì hết vì cát phủ bay che hết tất cả các dấu vết chỉ đường (như rãnh đất hay một vật làm chỉ điểm-một xác chết của một con cừu chẳng hạn). Mặc dầu trên xe có compass nhưng cũng không ích lợi cho lắm vì không có điểm ngắm mà tính toạ độ. Hơn nữa N. sợ cán lạc đà hay lái vào một hầm hố rãnh sâu thì còn khổ hơn. N. bèn đậu xe lại định tâm thì may thay có một xe HMMV từ từ xuất hiện tới, N. bèn lái theo sau thì buồn cười là xe này đi về Tổng Hành Dinh của N. nên N. lại trở về chỗ cũ.

 

 Ở trong trại cũng rất khổ vì bão cát, dù có chăn bít bùng kỹ đến đâu, cát bụi vẫn lọt vào lều và phủ đều lên bàn ghế, ghế bố. Lúc đầu N. còn cố phủi giữ bụi thường xuyên hằng ngày, nhưng sau đó, N. chịu thua vì như công dã tràng, mới phủi xong thì cát lại bay tới phủ lên như cũ. Thôi đành sống với cát bụi vậy. Ban ngày thì đeo kính và che mặt, còn đêm thì choàng khăn mỏng lên che khắp mặt mũi mà ngủ. Nếu nóng quá vì hơi thở qua mũi làm nóng, thì N. phải nằm nghiêng cho khăn xoả xuống như thế hơi thở có chỗ thoát ra. Chứ nếu ngủ mà không che mặt thì phổi hít đầy cát dễ như chơi. Khi ăn uống cũng vậy làm sao che đồ ăn được. Lúc đầu N. còn chê không ăn khi có bão cát, nhưng sau đó cũng phải ăn tưới hạt sen, vì phải ăn để mà sống.

 

Lúc này quân lính bắt đầu bàn tán ngày trở về với gia đình. Trước hết vì phần lớn sư đoàn đóng ở biên giới Kuwait và Iraq, họ tiên đoán là ngày nào sẽ trở về Saudi. Không ai biết rõ ngày nào rút quân về Saudi cả. Ai nấy đều bồn chồn, hỏi cấp trên thì không có ai biết cả, người thì đồn đó là tùy Đại Tướng S., người lại bảo đó là tùy Tổng thống Bush, còn người thì nói đó là tùy Liên Hiệp Quốc, người thì kết án Saddam Hussein không chịu nhượng bộ đầu hàng v.v ..v.v

 

Tóm tắt ai nấy đểu sống trong một khung cảnh hoang mang, chán nản, vì đời sống càng ngày càng khổ cực, vì càng ngày càng nóng hơn và bị bão cát nhiều hơn.

 

Có nhóm sĩ quan và lính thuộc Sư đoàn Tiếp liệu thì tếu và thực tế hơn, họ chung tiền góp lại mỗi người đóng một số tiền bằng nhau và mỗi người sẽ chọn tiên đoán ngày nào sẽ trở về gia đình, người nào đoán trúng ngày trở về (hay ngày gần nhất) sẽ được thưởng số tiền đó để tổ chức một bữa nhậu nhẹt chung hay làm gì đó tùy người thắng cuộc.

 

 Tình hình chiến tranh thì tương đối êm. Mặc dầu vậy mỗi ngày mật lệnh vẫn được áp dụng. Khi đi đến gần tới cổng, thì lính gác sẽ nói một câu trong đó có mật hiệu, người đi vào trại phải trả lời chữ mật hiệu đáp lại. Cũng chỉ vì vẫn có tin là Iraq và tụi Palestine đồng minh địch vẫn tìm cách khủng bố phá hoại.

 

Đám tàn quân Iraq ngày ngày khoảng từ 200 đến 300 người vẫn tới đầu hàng đều đều. Phần nhiều họ đầu hàng vì do lời đồn là sẽ được cho ăn uống tử tế. Lẽ dĩ nhiên là họ rất vui mừng được lĩnh MRE (Meal Ready to Eat) và các chai nước suối cho khỏi đói khát. Nhưng sau đó ăn mãi MRE (cả lính Mỹ cũng vậy) ai nấy đều chán phè nên lính bèn đổi MRE ra MRI (Meal Rejected by Iraqis).

 

Số tù binh càng ngày càng lên cao, nên N. phải lo thêm tiếp liệu thuốc men cho cấp số tăng gia. Thêm vào đó, khi đến gần thành phố thì không những có quân Iraq ra đầu hàng, mà lại còn có hàng trăm ngàn dân Iraq gồm cả ông già, bà cả lẫn con cái cũng tới xin quân đội Mỹ cho ăn uống và che chở cho khỏi bị tụi tàn quân Iraq phá nhiễu. Vì kho tiếp liệu thuốc men đâu có dự trữ thuốc con nít, nên N. lại phải chạy lên chạy xuống lo đi mua hay đặt lệnh phát thuốc đàn bà con nít như sữa, trụ sinh v.v…

 

Do những dân trú nạn và lính Iraq đầu hàng, Tướng Sư đoàn trưởng biết được rất nhiều chuyện dã man do lính của Saddam Hussein gây ra chẳng hạn như xử bắn bừa bãi, treo cổ cả dân lẫn lính nào mà có ý hay tư tưởng phản lại với hắn. Còn hiếp dâm hay đốt phá nhà thì xảy ra thường xuyên, ai nấy đều căm thù Saddam.

 

Bây giờ là lúc củng cố thu nhặt tất cả các thuốc kiểm soát (controlled substance) như Atropine, P, Valium, Cipro (để phòng ngờ chiến tranh hoá học và vi trùng), mà sư đoàn đã phát cho lính trước để dùng khi cần, N. cũng phải lo phổ biến và căn dặn lính phải uống Chloroquine để ngừa sốt rét.

 

Các bác sĩ lúc này cũng nóng lòng chờ lệnh về nhất là các bác sĩ reservist sẽ được về trước vì Quốc Hội Mỹ muốn đỡ tốn tiền phải trả lương phụ trội cho reservist. Thế là các bác sĩ đó nhao nhao lên chất vấn N. đòi biết ngày về. N. chả có tin nào cụ thể cả, toàn là tin đồn, nên N. chỉ trả lời yêu cầu của họ để đốc thúc Phòng 1 (Nhân viên) mà thôi.

 

Thêm vào đó N. lại phải xúc tiến và phổ biến chương trình phòng ngừa bệnh tâm thần để quân lính Mỹ khi trở về gia đình tránh bỡ ngỡ có thể gây phiền nhiễu trong đời sống gia đình hằng ngày. Sở dĩ như vậy là khi lính vắng mặt xa gia đình một thời gian khá lâu, thường thường lính là phái nam hay làm chủ gia đình, người vợ đương nhiên phải quyết định lấy một mình trong cuộc sống hằng ngày. Nay tự nhiên lại có người trở về đòi tước lại quyền chủ gia đình, thay đổi cách sắp đặt, hay nói cách nuôi con cái nên khó tránh phải xích mích trong gia đình. N. bèn lại phải bàn với Y sĩ Đại úy L.S. chuyên môn về thần kinh tâm trí làm một chương trình giảng dậy, khuyên bảo phòng ngừa cho binh lính. (Nữ Bác sĩ này hơn mười năm sau đó được thăng chức Chuẩn tướng).

 

Ngày 6 March 1991, sư đoàn N. được đề cử một số lính được trở về nhà trước, lẽ dĩ nhiên, đám lính này được chọn trong các đơn vị tới Saudi Arabia sớm nhất. Những lính may mắn này thật sự không may mắn lắm vì được lệnh trở về đã lại phải gấp rút mà lại còn phải sửa soạn quần áo chỉnh tề để diễn binh chiến thắng ngay ngày hôm sau tại phi trường Dharan mờ người.

 

Rồi sau đó, có lệnh sắp xếp các đơn vị để rút quân từ tiểu đoàn hay từ loại bệnh viện (Evacuation Hosp., Combat Support Hospital CSH hay MASH). Ai nấy đều vui mừng vì như vậy là chắc được về chứ không phải bị ở lại để yểm trợ cho Kuwait.

 

 Tướng Sư đoàn trưởng ra lệnh cho hậu cứ sư đoàn hoàn tất cấp tốc một chỗ tạm trú tập trung quân trước khi trở về Đức quốc. Thế là cả hậu cứ điên đầu cả lên, dựng lều, lát sàn giữa sa mạc, lập PX, che dù làm một khu giải trí gồm có chỗ cho ban nhạc chơi, chỗ ăn hamburger miễn phí, chỗ xem ciné video và một lều lớn để điện thoại. Tội nghiệp cho Tiểu đoàn Công binh, lúc đánh nhau phải hốc hác đi đầu để phá các mô đất, chiến lũy, lấp rãnh tuyến sâu, phá mìn nay phải phá các kho đạn của Iraq và cộng thêm phải xây khu giải trí kể trên.

 

Nhưng rồi cũng xong trong vòng bốn tuần, một khu giải trí khang trang được hoàn thành. Lính khi tới đó được tự do ăn hamburger, hot dog và uống Coca, Sprite thả dàn, đó là một cái sướng ở sa mạc vì ở ngoài mặt trận nào có McDonald đâu mà ăn. Sau đó có ban nhạc của USO và của Sư đoàn 1AD chơi nhạc mỗi đêm. Ngoài ra có bốn “rạp xinê” với video với free popcorn mà thưởng thức. Chỉ tiếc là lính khi về tới đó đâu có thời giờ thưởng thức đâu. Ngoài vụ dựng lều hay dẹp lều lại đi rửa xe gấp rút cho hết cát bụi trong vòng có vài ba ngày để cho đúng kịp ngày chuyển vận lên tàu.

 

 Trong lúc nôn nao sửa soạn ngày về thì bỗng nhiên thường dân Iraq lánh nạn lại lên cao quá nhiều vì tàn quân phản công trở lại đánh tụi Iraq Shiites nổi loạn gần thành phố Basra. Cả trăm ngàn thường dân bị thương tới tràn ngập các trại cứu thương của Mỹ. Thượng cấp bèn ra lệnh vài Evacuation Hospital, MASH trở lại vùng giao binh để giúp chữa trị. Có một Evacuation Hospital đã dọn về gần phi trường Dharan để chờ ngày trở về Mỹ, quân lính đang thu xếp quân nhu thì được lệnh phải trở lại Iraq. Đương nhiên thì tất cả sĩ quan và binh lính buồn ra mặt. Vài tên lính quá khích đã rạch lốp xe và phá máy xe vì như vậy sẽ khỏi phải lái xe trở lại Iraq. Lẽ dĩ nhiên các tên lính đó đã bị bắt và cho ra Toà án Quân sự Mặt trận xử án. Thật là tối dạ! Đã sống qua những lúc khó khăn, khổ nhất trong khi chiến đấu mà nay lại bị khổ vì một lúc bốc đồng.

 

Lúc này N. vẫn phải hằng ngày đi họp với Bộ chỉ huy và lo các công việc hành chánh như viết giấy ban khen, giấy phê bình điểm, giấy chứng minh xin ban huy chương cho các nhân viên dưới quyền. Cái khó là ở ngoài sa mạc N. đâu có thư ký đánh máy photocopy gì đâu. Thành ra N. lại có màn phải đi đề mẹc xin xỏ các trưởng phòng khác vì họ có xe expand-van đủ nhân viên, dụng cụ phòng làm việc. Tất cả các giấy tờ kể trên đều phải hoàn tất cho các binh lính trước khi họ bước lên máy bay trở về đơn vị cũ của họ.

 

Ngày 20 tháng Tư năm 1991, N. được tin nhóm quân y của Sư đoàn 1AD của N. sẽ được trở về Đức quốc trong vòng 10 ngày sắp tới. Tài xế của N. vui mừng ra mặt và ngày ngày gạch xoá những ngày còn lại trên tờ lịch hàng tháng.

 

 Lúc này thời tiết càng ngày càng quá nóng. Buổi trưa nhiệt độ lên tới 110 độ là thường có khi lên tới 130 độ! Nóng nắng dã man, buổi trưa là lúc nóng nhất, N. ra chỉ thị của Tướng Sư Đoàn là từ 10 giờ sáng tới 4 giờ chiều không ai được tập thể dục hay chơi bóng chuyền ngoài nắng gì cả. Sở dĩ như vậy là vì có một lính ở Quân đoàn VII chơi bóng chuyền giữa trưa bị xỉu rồi chết luôn. Hơn nữa N. đề nghị với Sư đoàn trưởng cho phép tất cả các binh lính làm việc trong khoảng thời gian đó được cởi áo ngoài, chỉ cần mặc áo thung mà thôi.

 

 Nắng quá nóng đến nỗi N. phải quẹt qua mặt với khăn ướt nước để cho bốc hơi mát mỗi 15 phút phải làm lại. Như vậy gần như là lúc giữa trưa chả có ai làm việc được đắc lực gì cả. Lẽ nhiên ai nấy đều phải uống nước thường xuyên, mỗi ngày tám lít nước. Thượng sĩ Thường vụ của N. khuyên cho các chai nước suối vào bít tất dài thấm nước tránh để cho nước bốc đi, thì quả thật chai nước giữ như vậy thì uống mát hơn là không bọc chai. Đại đội Tổng hành dinh của N. được một tí xa hoa hơn là vì khi chiếm đóng một Câu lạc bộ sĩ quan của Iraq có xung công được một kho chứa đầy nước hộp và chai Perrier có nước chanh do đó uống nước dễ chịu hơn.

 

Ngày 24 tháng tư khoảng 9 giờ tối một trận bão cát khá mạnh thổi tới, vài lều bị thổi tung cả lên, cây chống lều đập vào đầu của vài người, máy bay trực thăng bị lật đổ.

 

May là lều N. được đóng rất vững chắc chỉ bị gió cát bay vào thôi, nhưng đêm đó vô cùng khổ cực, đã rất nóng (tuy là đêm nhưng vẫn nóng vì là gió nóng) lại bị cát bụi mù làm rất khó thở. Hôm sau N. phải đi vào các bệnh viện dã chiến thăm các thương binh, may là không có ai bị tử thương cả. Cũng may là nhờ có neurosurgeon sẵn tức trực mổ.

 

Ba ngày hôm sau thì có lệnh rút trại đi vào KKMC Hotel Kelly để làm thủ tục lên máy bay về Đức. Gọi là Hotel Kelly nhưng chính thực ra thật là một hangar lều lớn chứa tới 200 đến 300 người. Mỗi người chỉ có đủ chỗ cho một ghế bố nên rất ồn ào nóng bực khó chịu. Ai nấy đều nôn nao chờ về nên chả ai ngủ được mấy. Hôm sau cả ngày chỉ ngồi chờ lúc thì cho quan thuế tới khám xét rất khắt khe. Sở dĩ có sự khám xét kỹ càng là vì thượng cấp lo là có vài tên lính tối dạ đem theo đạn dược mìn chưa nổ làm chiến lợi phẩm để rồi vô ý làm nổ như vị bác sĩ quân y tử thương lúc trước. Thành ra tất cả quân trang đồ đạc ở trong Duffel bag phải đổ ra bầy trên ghế bố để được khám xét. Lệnh ban ra là nếu ai bị bắt tàng trữ đồ cấm đó thì cả đại đội đều bị ở lại. Thành ra không những quan thuế tới khám xét trước đó, Thượng sĩ Thường vụ Đại đội đã khám rồi. Ở ngoài lều có để vài thùng phuy xăng lớn trống để ai có tàng trữ đồ cấm đem đổ vào đó trước khi khám xét thì không có tội gì cả.

 

Ăn thì được tụi Ấn độ đấu thầu cho ăn gà quay, hamburger và trái cây tươi thành ra cũng tạm được. Binh lính đồn tếu là được ăn thả cửa như vậy cho béo để khi về nhà vợ con gia đình nhận ra được.

 

 Ngày hôm sau thì được dời vào nhà tạm trú tại ngay phi trường ngủ qua đêm để trưa hôm sau tất cả bước lên máy bay phản lực Boeing 747 của hãng Towers Airlines do quân đội Mỹ thuê. Lính và sĩ quan cấp úy thì ngồi ở coach class, còn các tướng tá thì được ngồi ở first và business class. Khi máy bay thực sự cất cánh, tất cả đều mừng rỡ và vỗ tay. Ngó qua cửa sổ N. trông thấy các dãy lều vải trên sa mạc mà thấy bùi ngùi nhưng không có một tí luyến tiếc gì cả.

 

Bay độ năm giờ sau thì máy bay đáp xuống phi trường Nuremberg. Khi bước xuống cầu thang thì đã có thảm đỏ trải sẵn và có lính dàn cờ cùng Tướng Tư lệnh Phó sư đoàn hậu cứ đứng đón bắt tay từng người. Chả bù lúc đi xuất quân chả có ai đi tiễn cả. Đến nỗi thời tiết lúc đó rất đẹp mát như ở Dalat lúc trước không như lúc đi trời mưa dầm dã như là Trời cũng buồn cho lính phải đi chinh chiến. Thật là khác với nhiệt độ 130 độ ở sa mạc Saudi Arabia. Khi đi toilet được dùng toilet bowl với flush thì thấy sướng, thế mới thấy cái gì bị cấm hay không được dùng mặc dầu tầm thường cũng thấy sướng, cũng như ăn mặn mãi mà được ăn một bữa chay mà thấy thoải mái (hay là ăn cơm/ăn phở?). Sau đó tất cả lên xe buýt về trại ở Ansbach. Gần tới trại, N. ngó lên các building bên đường mà thấy bồi hồi, vài bà Đức mập ú vẫy tay chào mừng vui cười. Cũng chỉ vì một phần buôn bán ở tỉnh nhỏ Ansbach bị ế ẩm vì phần lớn binh lính đi xa nay họ được tin là lính trở về lại nên họ vui tươi chung.

 

Tới doanh trại thì đã có ban nhạc sư đoàn đã tề tựu chỉnh tề đánh nhạc hân hoan chào đón. Cờ xí và vải chăng Welcome Home thêu với yellow ribbon được gắn tùm lum ở cửa trại và ở các dãy nhà trong trại. Hơn nữa hàng trăm thân nhân với quần áo loè loẹt rực rỡ mặt mày hân hoan chờ đón thân nhân trên xe bước xuống. Vì quá đông người, nên N. không thấy bà xã đâu. Kiếm một lúc cũng không thấy, đang hơi buồn thì có một người vợ một người bạn nói là có trông thấy vợ N. cũng đang lùng kiếm. Lúc đó N. mới thấy nhẹ nhàng trong lòng.

 

Ngày hôm sau có tin trên báo là tỉnh Ansbach là tỉnh đêm qua có trận động đất nhỏ. (Vùng Ansbach cả tới mấy trăm năm nay, không có động đất gì cả). Ai nấy đều ngạc nhiên, về sau vỡ lẽ là nhịp lên xuống ân ái trong phòng the đêm qua của cả trăm ngàn binh lính đã synchronized đến nỗi làm rung chuyển động đất. Đó là chuyện tếu để chấm dứt bài thư ngoài mặt trận: Desert Shield/ Desert Storm.

 

Nguyễn Dương

Y sĩ Đại Úy QL VNCH

Cựu Y sĩ Đại Tá QL Hoa Kỳ

Cựu Y sĩ Trưởng Sư Đoàn 1 Thiết Giáp Hoa Kỳ

(bài này được cập nhật January 2021)

Đi Tìm Chỗ Trú Ẩn Bí Mật Của Các Thượng Nghị Sĩ Và Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ

 

                                                                                                            Nguyễn Dương

 

Nhân dịp cuộc tranh cử sắp tới của các Thượng nghị sĩ và Dân biểu Liên bang tháng 11 năm 2020 này mời các anh chị đi cùng tôi một vòng xem các chỗ trú ẩn của các vị dân cử trên.

Năm ngoái với bối cảnh của cuộc tranh chấp (hay đấu võ mồm) giữa Tổng Thống Trump Hoa kỳ và Kim Jong Ủn Bắc hàn đe dọa lẫn nhau với vũ khí nguyên tử thì chạnh nghĩ tới hồi chiến tranh lạnh giữa Hoa kỳ và Nga sô viết. Hai bên sửa soạn đánh nhau nào là tối tân hóa vũ khí nguyên tử như bom khinh khí, chuyển động tàu ngầm nguyên tử cùng sửa soạn hỏa tiễn liên lục địa và máy bay thả bom chiến lược. Ngoài ra còn huy động tinh thần dân chúng để phòng ngừa và giảm bớt tác dụng nguy hiểm của các tia phóng xạ bằng cách phổ biến các lời chỉ dẫn trên phát thanh, trên truyền hình và báo chí. Học sinh, sinh viên lẫn dân chúng được chỉ cách chống như núp dưới bàn ghế ở trường hay đi vào phòng trú ẩn (thường ở giữa nhà) và dự trữ thức ăn, nước uống, thuốc men như viên Iodine. Ngân sách được tăng gia để xây dựng các hầm trú ẩn cho dân chúng.

Thời đó Tổng Thống Eisenhower cũng nghĩ tới chỗ trú ẩn cho chính quyền khi bom nguyên tử được thả xuống Hoa Thịnh Đốn. Tổng Thống thì có hầm trú ẩn ở Trại David. Bộ máy chiến tranh và Quốc phòng thì có căn cứ NORAD xây trong lòng núi ở tiểu bang Colorado. Thế còn các nhân vật quan trọng của các nghành lập pháp và tư pháp thì núp ở đâu bây giờ?

Trong Đại chiến Thứ 2, vùng rặng núi Alleghany (Blue Ridge Mountain) ở Tiểu bang West Virginia có một nơi nghỉ mát khách sạn rất sang trọng tên là Greenbrier. Khách sạn đó bị trưng dụng thành một Tổng Y viện để chữa trị cho các quân nhân bị thương ngoài trận địa. Lúc đó Đại tướng Eisenhower có dịp đi về Hoa Thịnh Đốn họp và ghé thăm quân y viện để ủy lạo thương bệnh binh và gia đình. Luôn tiện Eisenhower có dịp đánh golf ở đó (Eisenhower rất mê chơi golf), thành ra khi làm Tổng Thống, Eisenhower có ý định chọn khu du lịch Greenbrier để xây hầm trú ẩn cho Quốc hội Hoa kỳ.

Trước hết khu du lịch Greenbrier ở gần White Sulphur Springs Tiểu bang West Virginia, không nên nhầm với Hot Springs ở Arkansas hay Hot Sulphur Springs ở Colorado hay Hyde Park ở New York (là nhà của Tổng Thống FD Roosevelt đem bạn gái tới du hí được tài tử Bill Murray đóng trong phim Hyde Park on Hudson) cách xa Hoa Thịnh Đốn rất nhiều.

Greenbrier rất thính hợp vì cách xa Hoa Thịnh Đốn có 250 dậm vừa gần thủ đô lại vừa xa tầm các tia phóng xạ nếu Hoa Thịnh Đốn bị ném bom trúng đích. Greenbrier lại là ỡ một thung lũng trong rặng núi Blue Ridge Mountain có luồng gió thiên nhiên thổi ra phía ngoài biển để làm tản mát các tia phóng xạ. Đã thế Greenbrier có sẵn suối nước trong (White Sulphur Springs) và đã có sẵn một hệ thống xe lửa, xe hơi và phi trường đưa khách du lịch của toàn quốc nước Hoa kỳ tới nghỉ mát. Hơn nữa vì là khách sạn nên đã có phòng ngủ có sức chứa cả ngàn người rồi.

Để giữ bí mật trong cuộc điều đình với giám đốc khách sạn. TT Eisenhower lấy cớ mời họp TT Mễ Tây Cơ và TT Gia Nã Đại ở khách sạn Greenbrier để bàn các chuyện dính tới Bắc Mỹ. Đó là bề ngoài còn bề trong là lúc đó TT Eisenhower và chính phủ nghiên cứu thương thuyết với công ty xe lửa đường rầy CSX lúc đó là chủ nhân ông của khu nghỉ mát Greenbrier. Hai bên thỏa hiệp ngầm là khu Greenbrier sẽ được xử dụng làm chổ trú ẩn cho Quốc Hội Hoa kỳ khi chiến tranh nguyên tử xảy ra.

Thế là cuộc xây dựng hầm trú ẩn (Bunker) được thành hình dưới một danh nghĩa là “Project Greek Island” bề ngoài là để xây thêm một cánh nhà (wing) cho khách sạn và xây môt phòng họp lớn (cả khu trú ẩn bí mật rất rộng lớn bằng nhà bán đồ Walmart bây giờ) được khởi sự xây cất vào năm 1958 và hoàn tất vào năm 1961. Hợp đồng ký với chính phủ là khu giải trí Greenbrier sẽ được chính phủ chu cấp chi phí bảo trì bởi một quỹ đen.

Cuộc xây dựng bunker làm rất kín đáo dùng cách “vừa đào vừa giấu” nghĩa là các đất đào dưới đất làm hầm được giấu dưới danh nghĩa là xây sân golf và để lấp bằng các chổ thấp khi nối dài phi đạo của phi truờng nhỏ địa phương của Greenbrier. Thành ra dân vùng đó đâu có biết là có vụ xây hầm đâu đến nỗi cả sử gia Robert Conte của khu nghỉ mát Greenbrier cũng không biết mặc dù ông ta có rất nhiều tài liệu lịch sử của Greenbrier.

Ngoài phi trường được tối tân hóa cho có thể nhận được phi cơ lớn tới cùng với một toà nhà kiểm soát không lưu với kỹ thuật mới toanh của thời đó. Xa lộ được nới rộng (lúc đó đang có chương trình xây xa lộ cho toàn quốc Hoa kỳ) nên khi xây xa lộ ở Greenbrier không bị lộ liễu nhất là phải xây vài khúc xa lộ cho được bằng phẳng dài vài dậm để máy bay có thể đáp xuống hay cất cánh trong trường hợp phi trường Greenbrier bị phá hủy. Cũng nên nhắc đó là công trình xây xa lộ toàn quốc quy mô ở Hoa kỳ lúc đó có thể nói là một thành công kiến trúc không kém 7 kiến trúc kỳ diệu của thế giới. (Hệ thống xa lộ liên bang –Eisenhower Interstate Highway System-).

Khu bunker có đủ tiện nghi văn minh của thời đại đó: có chỗ ngủ, chỗ ăn, bệnh viện nhỏ, máy giặt quần áo, nhà bếp, lò đốt rác, máy biến điện, chỗ khử độc (decontamination) và nơi họp rộng lớn đủ cho tất cả Thượng Nghị Sĩ và dân biểu cùng phòng phát thanh truyền tin.

Bunker có bốn cửa bí mật bằng thép nặng tới 18-25 tấn nhưng xử dụng bằng máy thành ra chỉ cần một người có thể mở cửa ra vào được. Cửa được ngụy trang che dấu với bình phong nghệ thuật và giấy tường không khác lạ với cảnh phòng chung quanh khách sạn. Có hai cánh cửa lớn có thể mở ra cho xe vận tải vào được. Tường bunker làm bằng bê tông cốt sắt có thể chịu đựng được sức phá hoại của bom nguyên tử nổ gần đó nhưng không chịu được nếu bị trúng đích (direct hit).

Hệ thống không khí rất là tinh vi để có thể thanh lọc hay ngăn chận các tia phóng xa làm người viếng thăm cảm thấy như có một luồng gió thu hút khi đi trong bunker. Gió hút đó làm đóng các cánh cửa nhẹ tự động.

Chỗ ngủ là hàng dài giường sắt 2 tầng giống như ở trong trại lính (hay nhà tù?) có thể chứa được 1100 người (gia đình con cái thì được trú ngụ trong các phòng của khách sạn). Thời đó thì phòng ngủ chung nam và nữ vì có rất ít phái nữ lập pháp.  Các giường đều có gắn tên sẵn của các vị lập pháp. Dưới giường có một hộc tủ có khoá để đồ đạc cá nhân. Phòng tắm thì tắm chung 2 người một lúc. Mess hall chỗ ăn có đủ ghế cho 470 người ăn. Một chi tiết nhỏ là để tránh các vị lập pháp quá căng thẳng vì ở trong một nơi tù túng, các gạch đá hoa được chọn mẫu (pattern) làm dịu mát tinh thần. Khu nhà bếp ngay cạnh phòng ăn có phòng dự trữ đồ ăn tươi với máy lạnh. Đồ ăn được thay đổi mổi 2-3 ngày cho được tươi tốt còn lương thực khô (MRE) thì dự trù đủ cho 6 tháng.

Bệnh viện có một phòng chẩn bệnh với các máy y khoa mới nhất của thời đại đó như máy đo tim EKG, máy thở, máy defibrillation thô sơ, máy quang tuyến X, máy khám mắt và một phòng thí nghiệm. Cũng có một bàn ghế chữa răng và một phòng dược liệu chứa đầy đủ thuốc men. Thêm vào đó có một phòng giải phẫu có thể mổ các trường hợp thông thường như cắt ruột dư bị viêm hay đỡ đẻ.

Lò đốt rác trông giống như lò đốt xác chết trong trại Auswitch của Đức quốc xả trong Đại chiến thứ 2, thành ra khi ngó thấy đó với chỗ tắm hương sen để giải độc (decontamination) khi mới bước  vào bunker, N. không thể không chạnh nghĩ đến thảm cảnh đau thương  Holocaust của người Do thái. N nhận xét là hành lang dẫn tới chỗ tắm hương sen quá chật chỉ đủ cho 1 hay 2 người đi qua thì không hiểu lúc thật sự cần cứu cấp sẽ bị tắc nghẽn vì chen lấn.

Bunker có 3 máy phát điện chạy bằng dầu Diesel với bồn chứa Diesel: sở dĩ có 3 máy là một máy để đang xử dụng, cái thứ hai để đề phòng secours khi máy một bị hư còn có thêm máy thứ ba cho chắc hơn!

Nơi họp cho Quốc hội là một phòng rộng lớn dùng làm Exhibit Hall cho các cuộc triển lãm hay như chỗ cho trình dược viên quảng cáo cho các hãng thuốc mà hàng năm Hội Y sĩ Tiểu bang West Virginia họp. Cũng có 2 phòng họp riêng cho Dân biểu (phòng lớn đủ 435 ghế) và một phòng nhỏ cho các Thượng nghị sĩ  họp (125 ghế), ghế có gắn sẵn micro. Lại còn có một phòng truyền tin phát thanh và truyền hình để các nhà lập pháp tuyên bố cho dân chúng, chỗ sau micro có một fond (background) lớn hình Toà nhà Quốc Hội với cảnh thay đổi tùy mùa (như mùa xuân có hoa anh đào, mùa đông có tuyết trắng phủ trên điện Capitol).

Ngoài ra nhà cầm quyền cũng lo nghĩ tới xung đột giữa các nhà lập pháp của 2 đảng Dân chủ và Cộng hòa hay trong trường hợp tranh chấp quyền hành cướp chính quyền. Cứ thử tưởng tượng như các vị lập pháp đối lập đó bị cấm cung suốt 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày căng thẳng với tình hình trên thế giới và trong nước cộng với lủng củng cá nhân hay gia đình mà phải đối diện với địch thủ chính trị từng giờ từng phút một (như dân biểu N. Pelosi và C. Schumer đối với Thượng nghị sĩ McConnell thời nay!). Thành ra bunker cũng có phòng cho nhân viên an ninh với đầy đủ súng ống, dùi cui, đạn dược cùng lựu đạn cay mắt, mặt nạ v.v.v.).

Mà tất cả các sự kiện trên không ai biết cả trong 30 năm (tới năm 1992, sẽ viết sau) ngoại trừ vài người quan trọng trong chính quyền tối mật!

Sử gia Robert Conte có kể rằng trong suốt 30 năm khi bunker chưa bị lột mặt nạ chính ông ta cũng không biết là có một bunker bí mật ngay trong khu giải trí Greenbrier mặc dù ông ta là sử gia chính thức của Greenbrier với đầy đủ tin tức về hồ sơ lịch sử của khu đó. Trong 30 năm đó cả hàng chục vạn người đi qua đi lại và ở tại khách sạn mà không ai biết đó có khu trú ẩn bí mật của Quốc hội. Ông ta chỉ nhận có nhận xét là tại sao mà có nhiểu nhà tiểu tiện cho đàn ông thế? (về sau mới hiểu là phần đông các nhà lập pháp là phái nam).

Ông ta cũng để ý là Tổng Thống G. Ford và Phó TT H. Humphrey sao lại thích tới Greenbrier đánh golf như  vậy? Ông Conte cũng không hiểu tại sao khách sạn Greenbrier lại cần nhiều nhân viên chuyên môn truyền tin và truyền hình dưới tên một hãng tên là Forsyth Associates trú ngụ tại khách sạn nhưng lại không làm việc cho khách sạn? Hãng đó đúng ra chỉ là bề ngoài cho một nhóm nhân viên an ninh của chính phủ có lời thề giữ clearance tối mật. Các nhân viên đó ngoài lo việc bảo trì hệ thống truyền tin truyền hình còn phải bảo trì hệ thống lọc không khí, thay đổi thức ăn cho tươi tốt, cập nhật thuốc men, dự trữ nước uống, dầu xăng cho đủ dùng cho sáu tháng sinh sống trong  bunker.

Tất cả các dịch vụ sinh sống của bunker không một ai biết cả (lẽ dĩ nhiên chỉ có vài nhân vật quan trọng trong chính quyền biết mà thôi trong suốt 30 năm). Ngày 31 tháng năm năm 1992 thì có một bài báo trên Washington Post viết bởi ký giả Ted Gup vạch trần bí mật bunker trên tờ Magazine của W. Post cuối tuần. Ngay chuyện này cũng ly kỳ vì báo Washington Times (đối thủ cạnh tranh với W. Post) đánh hơi tới chuyện hầm bí mật đó nên báo W. Times đăng lên 2 ngày trước báo W. Post nên báo W. Post bị hơi quê vì  không phải là một tin mới sốt rẻo. Nghe nói là ký giả Ted Gup lượm được tin này do một viên chức cao cấp giấu tên xì hơi ra. Thời đó khi tin hầm trú ẩn bị tiết lộ các nhà lập pháp lao nhao đòi truy tố ký giả Ted Gup ra tòa vì tội phản quốc nhưng vì chủ nhà báo W. Post là bà Katharine Graham lúc đó rất có thế lực quen biết trong chính phủ nên ngay sau đó chuyện tiết lộ bị cho chìm xuồng luôn. Chính phủ tức khắc đóng cửa khu bunker ngay và phân tán đồ đạc giường máy móc cho các cơ sở chính phủ khác. Hiện tại một phần bunker được dùng làm để lưu trữ tài liệu thông tin cho một công ty tư nhân.

Trong thời gian 30 năm đó, chưa một lần nào bunker được xử dụng như đúng mục đích của một hầm trú ẩn ngoại trừ một lần duy nhất báo động có thể dùng khi xảy ra vụ hỏa tiễn liên lục địa Nga sô ngắm vào Hoa kỳ ở Cuba thời TT Kennedy.

Hiện nay ngoài một phần dùng cho tư nhân thuê như trên, khu bunker được dùng làm để làm một nơi viếng thăm giải trí. Muốn xem bunker phải ghi tên trước, mua vé giá 34 US đô la cộng với thuế thêm (2017) có người chỉ dẫn đi kèm theo giảng nghĩa chi tiết lịch sử. Thời gian đi xem (tour) dài độ trên một tiếng đồng hồ và họ không cho chụp hình lẫn đem theo cell phone.

Nếu khu bunker đó mà không bị tiết lộ năm 1992 thì có lẽ hiện nay Greenbrier có nhiều phần chắc chắn là vẫn được dùng là nơi trú ẩn cho các nhà lập pháp. Hiện tại thì không ai biết chắc chắn là có bunker mới ở đâu kể cả các Thượng nghị sỉ và Dân biểu (lẽ dĩ nhiên chỉ có vài người biết tin tối mật đó). Có một vài chỗ được nhắc tới như Raven Rock, Mount Weather, NORAD hay ngay tại dưới sân cỏ của Toà Bạch ốc.

Thăm khu giải trí Greenbrier nếu so sánh với các chỗ du lịch sang trọng khác như The Breakers, khách sạn Mandarin, Four Seasons hay khách sạn trình diễn huy hoàng Trump Plaza ở Hoa Thịnh Đốn thì  Greenbrier không được tối tân sang trọng nhưng  được bù là rẻ hơn và có phần nặng về lịch sử quý phái như đời sống xã hội của các nhà quý tộc miền Nam nước Mỹ thời trước Nam Bắc nội chiến phân tranh. (Southern genteel)

Ngoài Tổng Thống Eisenhower tới ở Greenbrier (ông ta có một villa riêng đặt tên là Eisenhower cottage) còn có các vi TT khác như Grant, Monroe, Wilson, Kennedy, Johnson,  Nixon, Ford,  Carter, Reagan, GH Bush, Clinton, GW Bush lẫn các quan khách long trọng như Hoàng tử Windsor, Rainier và Grace Kelly, Đại tướng Marshall, đại kỹ nghệ gia Vanderbilt, Conde Nast, Ngoại trưởng Hull cùng các minh tinh màn ảnh như Bop Hope, Elizabeth Taylor, Debbie Reynolds, Eddie Fisher, Bing Crosby, Jane Seymour, Raquel Welch và các thể thao gia như Lou Gehrig, Peter Sampras …. Và sau hết là tên họ của bạn sau khi bạn tới đó thăm viếng.  ;-))

                                                                       

Nguyễn Dương

Mùa Thu 2020

Kính mời quý vị  đọc

               CUỘC TẤN CÔNG VÀO NGŨ GIÁC ĐÀI

 ngày 11 Tháng 9 năm 2001

Song ngữ Việt -Anh

của Nguyễn Dương

               CUỘC TẤN CÔNG VÀO NGŨ GIÁC ĐÀI:

                                    ngày 11 Tháng 9 năm 2001

Khoảng 9:00 sáng, tôi vừa phối hợp chăm sóc vợ tôi bị gãy cổ chân vừa theo dõi và điều trị một nữ bệnh nhân bị đau bụng và một nữ bệnh nhân khác đau đầu gối. Trong khi đẩy xe lăn cho vợ tôi đến phòng đợi, tôi liếc lên màn ảnh truyền hình thì thấy tháp Bắc của Trung Tâm Thương Mại Thế Giới đang bốc cháy, cùng lúc đó một máy bay phản lực lớn đang tiến tới lao vào tháp thứ hai. Phản ứng đầu tiên của tôi là thật kinh khủng, làm thế nào mà những tên khủng bố có thể làm được điều đó? Chúng không thể hành động một mình được, vì máy bay phản lực khổng lồ không thể điều khiển được bởi chỉ bằng một tên đánh bom cảm tử kiểu thần phong kamikaze. Phản ứng thứ hai của tôi là ít nhất cũng còn chút may mắn vì chúng chỉ đánh trúng vào một phần ba trên của tòa tháp mà không nhận ra rằng toàn bộ tòa tháp sẽ sụp đổ do sự va cắt mạnh làm bốc cháy nhiên liệu của phản lực cơ đưa đến sự chảy nhão của khung nhà chọc trời.

 

 

 

 

Trở lại với bà bệnh nhân đau bụng đang chờ kết quả xét nghiệm, tôi nói với bà là cần chút thời gian mới có kết quả thực nghiệm máu, và tôi cũng vắn tắt cho bà biết là Trung Tâm Thương Mại Thế Giới vừa bị bọn khủng bố tấn công. Tiếp đó loa phóng thanh của bệnh xá loan báo code màu vàng bắt dầu có hiệu lực, điều đó có nghĩa là có nhiều bệnh nhân có thương tích sẽ ồ ạt tới. Vị Chỉ Huy Trưởng bệnh xá ra lệnh cho nhân viên di tản bệnh nhân. Lúc đó chúng tôi không hiểu tại sao lại phải di tản. Sau đó người ta nói rằng có vụ nổ bên Ngũ Giác Đài và ở đó đang cần sự yểm trợ y tế. Vài bác sĩ và tôi vội vàng băng qua khu Henderson (khu trại Thủy Quân Lục Chiến kế bên) tới Ngũ Giác Đài. Dọc đường, có nhiều mảnh cánh máy bay nằm trên cỏ. Khi đi ngang qua một xe cứu thương, một nhân viên đưa cho tôi chiếc áo khoác màu vàng, tôi thấy có chữ ‘bác sĩ’ may sẵn trên đó. Nghĩ rằng tất cả mọi người tại hiện trường đều phải mang để nhận diện nên tôi khoác vào. Tôi không đọc được hết cả câu vì chữ ngược. Sau đó tôi nhìn thấy hàng chữ lớn ‘BÁC SĨ THÂM NIÊN’ trên cái áo khoác phản chiếu.

 

Chúng tôi dừng lại để khám nhanh vài bệnh nhân bị thương không nặng lắm như bị châm thủng hoặc trày da bàn tay và cánh tay. Là những nhân viên y tế hầu như đầu tiên có mặt tại hiện trường và không biết rằng những nguy hiểm liên tục có thể xảy ra, chúng tôi đã tới gần tháp kiểm soát không lưu trực thăng, ngang qua khúc Ngũ Giác Đài đang bốc cháy (nhưng chưa sụp đổ). Chúng tôi dừng lại để khám một nữ bệnh nhân da đen mà tinh thần đang suy sụp và đang thở nhanh. Bác sĩ R hỏi bệnh và xem xét tình trạng. Tôi nghe tim phổi thấy bình thường. Yên tâm, chúng tôi tiến tới; rồi có người báo rằng người ta đang cần bác sĩ ở khu lựa thương. Chúng tôi tiến nhanh về hướng căng dây màu vàng gần cây cầu bên trên. Chúng tôi điều trị vài người bị thương nặng hơn. Rồi có người la lớn là mọi người phải nấp dưới cầu vì có tin chưa được xác định là có một chiếc máy bay mà không tặc chiếm được đang bay về hướng chúng tôi. Chúng tôi phụ giúp khiêng người bị thương bằng cáng đến dưới cây cầu. Khi chúng tôi đang sắp xếp đồ tiếp liệu bên dưới cầu, thì được lệnh di chuyển ra ngoài, và các tình nguyện viên đã giúp mang những hộp tiếp liệu y tế, các giải băng nylon màu vàng và cờ vàng. Chúng tôi cố gắng một lần nữa để trải rộng tấm vải dày trải trên đất nhưng có người nói chúng tôi phải di chuyển trở lại nấp dưới cầu vì có một máy bay khác đang tiến đến. Khi một bác sĩ Hải quân đang khám đầu của một phụ nữ da đen nằm trên một chiếc băng ca, tôi nhìn vào chân bà và thấy đùi bà bị phỏng độ hai, tôi gọi silvadene nhưng có người nói bà bị dị ứng với sulfa. Tôi gọi nước biển và đưa cho một nhân viên giúp ông bác sĩ Hải quân truyền tĩnh mạch cho bà. Cho tới lúc đó bà ta là bệnh nhân nặng nhất chúng tôi gặp lúc đó. Biết rằng bà đã được chăm sóc, tôi quay qua khám một nam bệnh nhân bị hít khói. Ông nói là không sao, không đau ngực hoặc khó thở. Tôi nghe tim phổi và thấy tim ông đập bình thường, không có tiếng khò khè, tiếng rít, tôi nói ông ngồi xuống, dựa lưng vào tường và tôi gọi dưỡng khí. Một người mang một bình dưỡng khí đến và nối ống dẫn vào mũi ông. Tôi đến khám một bệnh nhân khác bị chấn thương đầu, tôi thấy là vết thương nhẹ.

Vào lúc đó, một bác sĩ Hải quân khác, y sĩ đại tá F, cũng có mặt với tôi, chúng tôi phối hợp nhau và đề nghị cùng kiểm tra tiếp liệu y tế, chúng tôi phải làm quen với những gì sẵn có. Chúng tôi thấy chỉ có một bọc nước biển. Trong khi kiểm kê thấy có một Lifepak, chúng tôi quyết định thực tập với máy đó để làm quen và yêu cầu một y tá cấp cứu hướng dẫn cách sử dụng. Một vị tuyên úy đến. Chúng tôi thảo luận và định vị một KHU CHỜ ĐỢI (màu ĐEN), kế đó nhưng ngoài tầm mắt để cho các tử thi cũng như những mảnh vụn của cơ thể con người.

Một sĩ quan Không quân rất năng động và hiệu quả, Thiếu tá M (tôi biết được sau đó, được chỉ định là Chỉ huy Trưởng Khu Lựa Thương) ra lệnh cho nhân viên cứu thương, ông hỏi tôi và bác sĩ F xem ai là người phụ trách ở đây, Bác sĩ F nhìn chiếc áo khoác vàng của tôi với hàng chữ BÁC SĨ THÂM NIÊN và chỉ tôi.

Do đó, ở đây tôi đương nhiên là lãnh đạo của toán lựa thương màu vàng, lúc đầu được coi như toán lựa thương hàng loạt. Tôi chỉ định Đại tá B làm Y Tá trưởng và Bác sĩ F làm phụ tá và Hải quân Trung úy Y tá P là nhóm nòng cốt. Băng màu vàng được cột vào cánh tay như một cách để nhận diện. Tôi nói Bộ binh Thiếu tá Q, một sĩ quan hành chánh quân y ghi tên từng người của nhóm chúng tôi và giữ danh sách. Tôi giao cho một tình nguyện viên không phải là nhân viên y tế gắn ‘thẻ thảm họa’ cho tất cả các bệnh nhân được đưa đến. Các nhân viên y tế khác bắt đầu tham gia và Đại tá B tổ chức thành những nhóm nhỏ hơn, mỗi nhóm có một bác sĩ, một vài y tá và trợ y. Trong khi thành lập nhóm, chúng tôi cũng liên tục điều trị những bệnh nhân ngay sau khi họ được đưa đến.

Khoảng 1:00 giờ chiều nước đóng chai và tiếp đó là thực phẩm được đem đến làm cho chúng tôi sảng khoái bởi vì mọi người đã bắt đầu thấy khát. Sau đó khi nhu cầu tự nhiên không tránh được của con người nổi lên, tôi đang thầm nghĩ tới những bụi cây gần đó thì một ông ở đâu đó đột nhiên xuất hiện và nhờ tôi thông báo cho mọi người là phòng vệ sinh và khu nghỉ ngơi được cung cấp trên xe buýt VIP có máy lạnh của ông. Ngoài ra các hộp đựng rác cũng được cấp phát (có ai đó cùng đang suy nghĩ như vậy), mọi người xả vào, Thiếu tá Q lấy một cái bịch và thu rác xung quanh khu vực. Trong khi đó những toán thu nhập chứng cớ của FBI đến với những túi đen và bắt đầu làm sạch khu vực có các mảnh vỡ của máy bay.

Lúc đó tăng cường tới: các bác sĩ, trợ y và y tá của Bệnh viện Quân đội Walter Reed và bệnh viện dân sự gần đó (hai bác sĩ chuyên trị phong thấp, một bác sĩ nhi khoa với túi bơm dưỡng khí và ống thông khí quản). Một Y tá Thiếu tá lục quân của một đơn vị chữa phỏng đến, nhưng anh được nhanh chóng chuyển tới khu vực ĐỎ. Khu của chúng tôi có vẻ như là điểm tập trung đầu tiên cho nhân viên y tế, tình nguyện viên phi y tế và tiếp liệu y tế để sau đó được phân phối cho ‘TIỀN TUYẾN’. Chúng tôi tiếp tục kiểm kê tiếp liệu y tế một lần nữa và tái thành lập các toán nhỏ. Khi kiểm điểm lại thuốc men tôi thấy không có morphine hay thuốc làm giãn nở phế quản … tôi chuyển tin nhắn đi và thật ngạc nhiên là chỉ ít phút sau tiếp liệu được cung cấp bởi Y sĩ Đại tá U, một người quen của tôi khi chúng tôi cùng ở trong giới chỉ huy trưởng.

Không còn gì khác hơn để làm, tôi quyết định làm một trinh sát tại “Tiền Tuyến” với Thiếu tá Q. Khi tới gần lều chỉ huy, một cấp cứu viên đưa cho tôi một máy hút, tôi giao cho Thiếu tá Q cầm. Bây giờ, với danh nghĩa một BÁC SĨ THÂM NIÊN trên áo khoác  vàng và được một sĩ quan cấp tá tháp tùng, chúng tôi trông giống như một toán đi chính thức thanh tra nơi ‘TIỀN TUYẾN’. Tại lều chỉ huy, bác sĩ F hỏi tôi  muốn là một trong hai tình nguyện viên vào khu Ngũ Giác Đài bị cháy để nhận xác chết, cụt đầu, hoặc mảnh vụn cơ thể. Câu trả lời của tôi là tiêu cực nhưng tôi sẵn sàng tình nguyện nếu được yêu cầu. Ông nói tôi chờ bên ngoài và vài phút sau đó ông nói rằng ông đã có đủ tình nguyện viên rồi. Khi ở ‘TIỀN TUYẾN’, chúng tôi thấy Thiếu Tướng J, Chỉ huy trưởng Quân khu Washington và phái đoàn tham mưu của ông. Dọc đường, có toán người đang phá dỡ các rào cản bằng bê tông giữa đường để dễ dàng đi vào NGŨ GIÁC ĐÀI, có đoàn xe quân khuyển cảnh sát K9, xe cảnh sát và xe mô tô cũng như xe cứu thương và xe buýt. Nhân viên FBI và nhân viên cứu hỏa trang bị đầy mình được định vị và chờ lệnh để tiến tới tòa nhà trong khi nước được bơm xối xả vào các phần bị sập của Ngũ Giác Đài. Lửa tiếp tục cháy, sau đó tôi  được biết là đã không dập tắt nhanh chóng ngọn lửa được cho đến nhiều giờ sau đó là vì Ngũ Giác Đài là toà nhà cũ từ Thế chiến II và có rất nhiều lông ngựa được lót dưới mái nhà để dùng làm cách nhiệt. Vài chiếc dép và giầy có gắn băng màu vàng để xác định nằm rải rác trên thảm cỏ. Thỉnh thoảng máy bay trực thăng nổ thình thịch quay vòng vòng trên đầu chúng tôi làm xoáy tung bụi đất và cỏ xung quanh chúng tôi.

Chúng tôi trở lại khu lựa thương màu vàng và chờ đợi cho các sự việc được sáng tỏ. Thiếu tướng T, Chỉ huy trưởng Trung tâm Y tế  Walter Reed, và nhân viên của ông đi ngang qua và bắt tay chúng tôi. Chủ yếu là chúng tôi chờ đợi và chờ đợi. Không có gì xảy ra cho đến khi Thiếu tá M gọi chúng tôi và tóm lược tình hình vào khoảng 3:30 giờ chiều. Phỏng đoán lúc đó là có lẽ tất cả những người bị thương nặng đã chết hoặc đã được di tản ở phía bên kia của Ngũ Giác Đài, nhưng chúng tôi đã sẵn sàng để chữa cho những thương tích khác như chấn thương vì hơi nóng, gãy nát xương, mất thiếu nước … của nhân viên toán giải cứu.


Một bác sĩ điều trị dân sự từ OPCON (Operation Control: kiểm soát hành quân) đến. Sau một báo cáo ngắn gọn của Thiếu tá M, ông nhận ra rằng chúng tôi tổ chức chu đáo hơn và cũng được che chở chống ánh nắng nóng bỏng hơn nên đã ngỏ ý di chuyển toán ‘Tiền Tuyến’ của ông vào nhập với nhóm chúng tôi. Chúng tôi cũng bàn về việc cung cấp máy điện cho một đêm dài sẽ tới.

 

Khoảng 5:30 chiều, tôi bắt đầu nghĩ tới vợ tôi đang bị gãy cổ chân (tôi đã gọi trước nhờ nhân viên bệnh xá nhắn với bà rằng tôi vẫn bình yên). Tôi nói với Bác sĩ F, Đại tá B, Đại tá U và Thiếu tá M là tôi sẽ đi ra ngoài vài giờ để kiểm tra tình trạng của vợ tôi mà tôi nghĩ rằng bà vẫn còn ở tại phòng khám từ sáng sớm đến giờ. Tôi hỏi cách để trở lại, như số điện thoại liên lạc hoặc cách đi qua cổng trong trường hợp tôi bị chặn lại không được vào. Đại tá U nói là tôi không cần phải trở lại, bởi vì đã có rất nhiều bác sĩ ở đây rồi. Ông phỏng đoán rằng rất có thể sau khi lính cứu hỏa dập tắt được ngọn lửa thì không còn ai sống sót nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn xin các số điện thoại của họ.


Trong khi suy nghĩ làm cách nào để trở lại bệnh xá (khoảng một dặm đường chim bay) không những chỉ vì tôi không biết làm sao để trở lại bằng đường bộ nhưng còn làm thế nào để có thể qua được tất cả các cổng gác từ Ngũ Giác Đài đến Henderson Hall và Ft Myer. Tôi vẫy một xe minibus không có dấu hiệu trong đó có một nhân viên FBI và yêu cầu ông cho quá giang về văn phòng của tôi. Một lần nữa, cái áo khoác vàng với hàng chữ BÁC SĨ THÂM NIÊN dễ dàng nhận ra, ông sẵn sàng cho tôi quá giang: rào cản trên đường không là trở ngại đối với ông, ông vượt qua và thả tôi xuống ở cổng trước của Ft Myer. Mặc dù cổng đã đóng và được bảo vệ nghiêm ngặt với súng dài súng ngắn, nhưng binh lính nhận diện ra tôi và mở cửa cho tôi vào.


Qua cổng, tôi tiếp tục đi bộ đến bệnh xá cách đó vài góc đường, đột nhiên từ đâu một xe cứu thương đến gần. Tôi vẫy và nhận ra đó là xe cứu thương của chúng tôi từ Ngũ Giác Đài trở về. Tại phòng chỉ huy bệnh xá, các nhân viên bệnh viện đang nghe Thiếu Tướng T tường trình qua loa phóng thanh trong khi màn ảnh TV đang mở gần đó. Tôi hỏi tin tức vợ tôi hiện tại đang ở đâu và người ta cho biết là bà đã  được một đồng nghiệp của tôi đưa về nhà rồi.

 Mệt mỏi, tôi quyết định về nhà và định ăn cái gì chút đỉnh và tắm nhanh một cái trước khi trở lại toán cấp cứu màu vàng của tôi. Trong khi lái xe ra khỏi trạm gác, những nhóm nhỏ binh sĩ vũ trang cùng mình đã được đóng ở nhiều góc đường khác nhau. Một chiếc HUMMV có gắn súng máy đang tuần tra. Các trạm gác yên tĩnh lạ lùng, không có hoạt động gì. Ra khỏi cổng, một hàng dài xe cộ chờ đợi đến lượt mình để vào trại lính đang được kiểm soát toàn diện. Tôi bắt đầu nghĩ làm thế nào để trở lại bệnh xá. Tại Rosslyn, giao thông bị tắc nghẽn, xe cộ nối đuôi nhau, đang cố gắng để lên xa lộ số 395 hoặc số 50 Đông. Tôi không thể nào vào được GW Parkway, có lẽ con đuờng này đã bị đóng vì nó chạy ngang qua CIA. Tôi quẹo chữ U và lên xa lộ số 50 Tây và về nhà không có gì khó khăn; giao thông dễ dàng hơn nhiều so với ngày thường khi vào giờ cao điểm.


Về gần tới nhà tôi nhìn thấy một ngôi nhà với một lá cờ Hoa Kỳ lớn phủ kín hết cửa sổ.


Ở nhà, sau khi hỏi vợ tôi vài câu vắn tắt về tình trạng sức khỏe, tôi yên tâm. Tôi ăn nhanh, tắm rửa và sửa soạn ra đi. Nhưng trước hết tôi gọi văn phòng bệnh xá thì hạ sĩ E nói rằng ông Chỉ huy trưởng bệnh xá đã về nhà rồi và ra lệnh cho mở cửa lại vào ngày mai. Tôi nói với Hạ sĩ E rằng tôi sẽ cố gắng trở lại toán cấp cứu của tôi và nếu có bất kỳ tin nhắn gì cho tôi thì gọi tôi ở nhà. (Tôi sẽ thỉnh thoảng liên lạc về nhà trong khi tôi ở ngoài). Tôi cũng gọi toán cấp cứu màu vàng nhưng chỉ có Bác sĩ F trả lời. Ông cho biết tất cả đều tốt, mặc dù chậm, không có hoạt động gì mới và không có nhu cầu cho tôi trở lại lúc này: Họ đã cho mọi người về nhà rồi. Yên tâm, tôi bắt đầu xem truyền hình và sự kinh dị không thể tưởng tượng được đang cuồn cuộn trước mắt tôi: “11 tháng 9 sẽ là một ngày ô nhục …”


Lá cờ Mỹ đang buông rủ buồn thảm…

 

Nguyễn Dương, M.D.

Cựu Y Sĩ Đại Tá, Quân Lực Hoa Kỳ

Y Sĩ Đại Úy, QLVNCH

Cựu Y sĩ Trưởng Sư Đoàn 1 Thiết Giáp Hoa Kỳ (tham dự Chiến Tranh Vùng Vịnh)

 

 

 

Chú thích: Fort Myer ở cạnh Pentagon và Arlington National Cemetery. Fort Myer là chỗ đóng quân của Old Guard của Washington, DC, tương đương như trại Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống của VNCH.

Trước khi giải ngũ Y sĩ Đại tá Nguyễn Dương là chỉ Huy Trưởng Bệnh Xá A. Rader US Army Health Clinic và bàn giao chức vị đó cho Y Sĩ Đại Tá R vào năm 1999.

 

 

 

THE  PENTAGON ATTACK: 11 SEPTEMBER 2001

 

Around 9:00 AM, I was simultaneously coordinating the care for my wife who just fractured her ankle while working up a female patient with abdominal pain and a female patient with knee pain. While ferrying my wife on wheelchair to the patient waiting area I caught a glimpse on TV showing a burning World Trade Center (North) and an incoming big jet hitting the second tower. My first reaction was horrible, how the terrorists can do that, they could not do it alone, the jumbo jet cannot be handle by a lonely suicide bomber like kamikaze. My second reaction was at least there is some luck because they only hit the upper third of the Towers not realizing that the whole building will collapse due to the shear intense burning jet fuel which melted down the supporting frame.

 

Returning to my abdominal pain patient who was waiting for the lab tests, I told her it will take sometime for the lab tests results and told her briefly that the World Trade Center just had been hit by terrorists. Then the clinic loud speaker announced a code yellow is in effect meaning that there is an upcoming mass casualty. The Commander of our clinic asked all personnel to evacuate the clinic. At the time we did not know why we had to leave the clinic. Someone later told us that an explosion occurred at the Pentagon and they need medical support. A couple of doctors at the clinic and I rushed thru Henderson Hall (a close by Marines barrack) to the Pentagon. Along the way, debris of an air plane wing was seen on the grass. Passing an ambulance, a person gave me a yellow jacket which I saw a word physician sewn on. Thinking that everybody on the scene are required to wear a jacket for identification, I readily put it on. I did not read fully the whole sentence because I cannot read upside down. Later I saw the large characters of SENIOR PHYSICIAN on the reflecting jacket.

 

We stopped to examine briefly a couple of patients who were not seriously injured, only puncture/abrasions of the hands and arms. Being almost the first medical personnel on the scene and not knowing that continuing danger is a possibility, we were able to come close by the helicopter air control tower, passing that portion  of the Pentagon which was burning (not collapsed yet). We stopped by and examined one black female patient in emotional distress with rapid breathing. Dr R. asked questions while checking her status. I listened to her lungs and heart sounds which seem alright. Reassured, we moved forward; then someone called that they need docs at the staging area. We rushed in the direction of the yellow tarmac near a bridge overpass. We treated a couple of more injured patients. Then someone yelled for everybody to move under the bridge because an unaccounted – for hijacked plane was reported on our way. We helped carry the above patient on a stretcher to the underpass. As we were setting supplies under the bridge, orders were given for us to move out, and volunteers were helping carry medical supply boxes, the yellow nylon tarmac and the yellow flag. We tried again to spread the tarmac then someone said we have to move it back under the bridge because of another plane is coming. A Navy doctor was examining the head of a black female on a stretcher, I look at her legs and saw second degree burn on her thighs, I called silvadene but someone said she is allergic to sulfa. I called for IV fluids and handed it to the personnel helping the Navy doc who was putting an IV line. That patient was the most serious patient we had so far. Realizing that she was being taken care of, I moved to see a male patient with smoke inhalation. He said he was OK, with no chest pain or shortness of breath. I listened to his lungs and found normal heart sounds, no rales or wheezes, I told him to sit down and rest his back on the wall and I call for oxygen. Someone brought an oxygen canister and hooked the cannula to his nose. I went to another patient with head injury which I found to be benign.

 

At that time, another Navy doctor, Dr. F., a Colonel, was with me, I bonded with him and suggested that together we checked what medical supplies we have to be familiar with our capabilities. We found only one box of IV normal saline. While accounting we stumbled on a Lifepak, we decided to play it on to be familiar and ask a nurse medic for instruction for use. A Chaplain came. We discussed and located an EXPECTANT (BLACK) area and a close-by but out of sight an area for cadavers/human debris.

 

A very energetic and effective Air Forces officer, MAJ (Major) M. (I learned  later he was designated as the Triage Scene Commander) was giving orders to medics, he asked me and Dr. F who is in charge here, Dr. F. look at my yellow jacket with the well read SENIOR PHYSICIAN and pointed to me.

 

So here I am, defacto leader of the Yellow staging area team, called first as an overflow triage team. I designated COL B. as my chief nurse and Dr. F. as my deputy and a Navy LT nurse P. as the core team. Yellow ribbons were tied to the arms as a way of identification. I asked an Army Major Q., a medical service officer to collect the name of our team and keep a ledger. I tasked a non-medical volunteer to attach disaster tag to all incoming patients. Other medical personnel started to trickle in and Col B. was charged to form smaller teams with one doc and a couple of nurses and physician assistants in each team. While forming our team we also treated trickling patients as soon as they arrived.

 

Around 13:00 bottled water arrived and later food came to our delight because we started to feel thirsty. Then inevitable nature call surfaced, I was thinking about nearby bushes but a man suddenly appeared mysteriously and asked me to pass the info that the toilet room and rest area can be provided on his VIP air conditioned bus. Also garbage cans were provided (someone is thinking); everybody pitched in, Major Q. grabbed a bag and collected it around the area. During the meantime FBI evidence collection teams arrived with their black bags and began to sweep the area for plane debris.

 

Reinforcements arrived: Doctors, physician assistants and nurses from Walter Reed Army Hospital and nearby civilian hospital (rheumatologists, a pediatrician with his ambu bag and endotracheal tubes). Also An Army Major nurse from a burn unit showed but was soon taken away to the RED area. Our area seems as the first assembly point for medical personnel, non medical volunteers and medical supplies to be cannibalized later for the ‘FRONT’. We keft re-inventorying our medical supplies and re-forming our small teams. A review of disposable medication was done: there was no morphine nor bronchodilators … I relayed the message and amazingly those supplies were provided a few minutes later by COL (Dr.) U., an acquaintance of mine while we were in the commander’s circle.

With nothing else to do I decided to go to do a recon at the “Front” with MAJ Q. While approaching the command tent, a medic gave me a suction apparatus which I gave to MAJ Q. to carry. Now, with a SENIOR PHYSICIAN on my yellow jacket and accompanied by a field grade officer, we looked like a very official team to survey the “Front”. At the command tent, Dr. F. asked me if I was one of the two person volunteers to enter the burned section of the Pentagon to recognize the dead, decapitated, or human debris. My answer was negative but I was ready to volunteer if asked. He told me to wait outside and a few minutes later he said he had enough volunteers already. While at the “Front”, we saw Major General J. the Military District of Washington commander and his staff. Along the road, crews are demolishing concrete mid road barriers for easy access to the Pentagon, scores of K9 police cars, police cars, and motor bikes as ambulances and buses. FBI personnel and firefighters in heavy gears are positioning and waiting for order to proceed to the building while water was pouring in the collapsed section of the Pentagon. Fire kept burning, later I learnt the fire was not put off many hours later because Pentagon was of WWII vintage and lots of horse hair was put under the roof for insulation and it is difficult to extinguish it. Few sandals and shoes with yellow ribbons tied on for identification were scattered on the grass. Now and then thumping helicopters circled above us swirling the dirt and grass around us.

We returned to the yellow staging area and waiting for events to unroll. Major General T., the Walter Reed Medical Center commander, and his staff passed by and shook our hands. Mainly we waited and waited. Nothing happened until MAJ M. called us or a briefing at around 15:30. The assumption at that time is probably by now all the gravely injured are either dead or evacuated at the other side of the Pentagon but we had to be ready for casualties like heat injuries, crushed fractures, dehydration… from the rescuing party.

A Treatment civilian physician from OPCON (Operation Control) arrived. After a quick briefing by MAJ M. he realized that we were much organized and well sheltered against the scorching sun so he expressed his idea of moving the out “Front” team to merge with us. We also discussed procuring electricity for the expecting long night coverage. Around 17:30 I started to think about my wife with the fracture ankle (I did call earlier asking the clinic personnel to relay the message to her that I am doing OK). I talked to Dr. F., COL B., COL U. and MAJ M. about I leaving for a couple of hours to check on the status of my wife who is from my understanding till at the clinic from the early morning. I was asking for ways to come back in, eg. their phone numbers to contact or passes in cases I was stopped at the gates and denied entry.  COL U. said there is no need for me to come back, they have plenty of physicians. He predicted that most likely after the fire fighters stop the blaze, no survival will be found. Nevertheless, I asked for their phone numbers.

While debating myself how to get back to the clinic (about a mile as the crow flies) not only because I did not know how to get back on foot but also how to get thru all these gates in between the Pentagon, Henderson Hall and Ft Myer. I flagged a passing unmarked minibus with a FBI agent on and asked for transportation back to my office. With again my easily recognized yellow jacket SENIOR PHYSICAN on, he readily agreed to transport me: barriers on the road were no obstacle for him, he just crossed over and dropped me at the front gate of Ft. Myer. Although the gate was closed and heavily guarded with guns and machine guns, the soldiers recognized me and opened the gate for me to enter.

Passing the gate, I proceeded on foot to the clinic which is about a couple of blocks away, suddenly from nowhere an ambulance approached. I flagged it and found out it was our ambulance returning from the Pentagon. At the clinic headquarters, the clinic staff was listening to the radio conference called by Major General T while a TV was running close by. I asked where is the whereabouts of my wife and I was told she just went home thanks to the help of a coworker.

(Picture)

Tired, I decided to go home and plan to grasp a quick bite and a short shower before rejoining my yellow team. While driving out of the post, small groups of well armed soldiers were posted at different corners. An HUMMV mounted with machine guns was patrolling. The post was eerily silent, no activities. Getting out of gate, there was a long line of incoming vehicles waiting their turn to be inspected thoroughly. I started to think how to get back to the clinic. At Rosslyn, there was a traffic gridlock going on, bumper to bumper cars, for automobiles trying to get o Highway 395 or 50 East. I could not get on GW Parkway, maybe it was closed because it passes thru CIA. I made a U-turn and got to 50 West and headed home without difficulties; the traffic was much lighter than usual at rush hour.

Close to home a house with a large American flag was seen covering its window.

At home, reassured after a short inquiry of my wife’s health status. I ate quickly, took a shower and got ready to depart. But first I called the clinic headquarters and CPT E. told me that the Commander of the clinic left home with instructions that the clinic will be open tomorrow. I told him that I will try to get back to my team and if he had any calls for me, to reach me at home. (I will contact my home from the road now and then). I also called the yellow team staff but only Dr. F. answered. He said all is doing well, albeit slow, no action and there was no need for me to come back: they were sending people home. Reassured I started to watch TV and the unimaginable horror rolled in front of my eyes: “Sep 11 will be a day of infamy…”

A half-staff American flag is flying…

Duong Nguyen, MD

COL (R), US Army

CPT, ARVN

Former Division Surgeon 1st. Armored Division, US Army (participated in Desert Shield/Desert Storm)

 

Kính mời quý vị  đọc truyện ngắn:

Bố Muốn Về Nhà  của Nguyễn Thị Thanh Dương

được nhà văn Nguyễn Dương chuyển ngữ sang tiếng Anh

Ông Đê mở mắt thức dậy sau giấc ngủ trưa, hôm nay là thứ mấy và bây giờ là mấy giờ ông cũng không biết. Ở đây ngày nào cũng như ngày nào, ông là người già trí óc lúc nhớ lúc quên bên cạnh những người già khác, bệnh hoạn, lú lẩn, thì ngày tháng có nghĩa gì đâu.

Ông ngồi dậy nhìn sang giường bên cạnh ông Mỹ già đã thức từ lúc nào. Ông Đê thản nhiên hỏi bằng tiếng Việt Nam:

– Ông ngủ trưa có ngon không?

Ông Mỹ vốn mất trí nhớ khá nặng lại không hiểu tiếng Việt nên cũng thản nhiên và ngu ngơ đáp lại dĩ nhiên là bằng tiếng Mỹ:

– Ông muốn đi ăn bữa chiều không, ông đói bụng chưa ?

Hai ông già chung phòng trong nursing home vẫn nói chuyện với nhau trời ơi đất hỡi chẳng ai hiểu ai như thế. Cả hai đều vui vẻ y như vừa xong một cuộc trò chuyện tâm đầu ý hợp..

Ông Đê tìm chiếc gậy để đi ra ngoài, chiếc gậy này con gái ông mua 20 đồng trong cửa tiệm bán dụng cụ, đồ dùng y khoa cho người già, có thể điều chỉnh cao thấp tùy ý và đầu gậy có bọc cao su khó trơn trượt để cho ông nương tựa.

Ông Đê lúc nào cũng hướng về phía cổng nursing home dù ông biết là cánh cửa đã khóa cùng với người nhân viên ngồi canh cổng, không bao giờ ông có thể đi ra ngoài, nhưng ông được nhìn qua tấm cửa kính cảnh vật bên ngoài, ở nơi nào đó ông đã từng có một mái nhà.

Thẫn thờ đứng rất lâu nhìn ra ngoài ông Đê lại dò dẫm chống gậy bước về phòng, đi qua phòng khách hay các hành lang ông thấy vài người già như ông, mỗi người một vẻ, một kiểu, lặng lẽ ngồi gục đầu trong xe lăn, hay lò dò từng bước đi walker.

Về chiếc giường của mình ông Đê lại nằm xuống, mắt mở thao láo, ông rất hồi hộp lo lắng sợ mình ngủ quên mấy đứa nhân viên bất ngờ đến dựng ông dậy để đưa ông …xuống phòng tắm hay phòng ăn dù ông đang say sưa ngủ đến đâu, dù ông không muốn tắm, dù ông chẳng muốn ăn, nhưng chúng nó làmviệc ăn lương cứ đúng giờ là làm nhiệm vụ.

* * *

Sáng hôm sau con gái ông đến, ông mừng rỡ túm lấy áo con nài nỉ:

– Con ơi…đưa bố về nhà đi.

Con gái an ủi:

Thì con đến đón bố về thăm nhà chơi với con cháu đây.

Ông kể lể và khóc, không biết vì mừng vui hay vì tủi thân, nhưng giọng điệu ông tỉnh táo hẳn ra:

Bố thèm món ăn Việt Nam, thịt kho, cá kho, rau luộc chấm với nước mắm…bố thèm nhiều thứ lắm.

Con gái nhắc nhở:

– Con biết rồi. Bố nhớ mang hai hàm răng giả vào để ăn cơm cho ngon miệng. Về nhà con sẽ làm thịt ba rọi luộc chấm với nước mắm như ngày xưa bố từng nhắm rượu..

– Thế hả con… mẹ mày làm cho bố chén nước mắm dằm tỏi ới đậm đà ngon lắm.

Những ngày ấy đã qua lâu rồi. Vợ ông mất cả chục năm nay, vậy mà mỗi lần nhắc lại ông đều tưởng như mới ngày hôm qua, hôm kia..

Bà mất, căn phòng housing trợ giúp thuê ở apartment chỉ còn lại một mình ông tiếp tục sống, một mình tuy buồn nhưng ông thảnh thơi tự do như ý . Ông đi bộ ra chợ Việt Nam ở bên kia đường, thích ăn gì thì mua về nấu. Ông vẫn nhớ món thịt ba rọi luộc chấm nước mắm của vợ mà ông dù có làm cũng không ngon bằng bà làm.

Nhà con gái ở gần, cách 10 phút lái xe, vẫn thường đến thăm và phụ giúp ông nhiều việc vặt như nấu nướng, giặt giũ hay dọn dẹp nhà cửa cho đến khi con gái ông nhất quyết bắt ông phải dọn vào ở trong nursing home này.

Ông Đê năm nay vừa đúng 90 tuổi, về thể chất ông “khỏe mạnh” so với tuổi, không bệnh hoạn ngặt nghèo, chỉ có tội chân tay run rẩy yếu ớt nhưng ông vẫn đi đứng được, về tinh thần ông nửa nọ nửa kia, lúc tỉnh nói năng bình thường, lúc lú lẩn nói không đâu vào đâu, chẳng nhận thức gì cả. Ông không thể tự chăm sóc bản thân được nữa.

Con gái ông đã suy nghĩ tính toán cặn kẽ, nhà chị có 4 phòng đã đủ cho 4 người, hai vợ chồng và hai đứa con. Vợ chồng chị đều đi làm, hai đứa con đi học, không thể mang bố già về ở chung, lấy ai chăm sóc? Với lại chị quan niệm để bố trong nursing home còn có y tá theo dõi tình trạng sức khỏe, ăn uống hợp lý cho tình trạng từng người.

Thỉnh thoảng chị ghé thăm bố như ngày hôm nay.

Ông Đê hớn hở chống gậy lê bước theo con gái ra xe, như một đứa bé vui mừng náo nức sắp được mẹ chở đi chơi công viên.

Con cháu vui vẻ đón ông về nhà, hai đứa cháu ngoại từng được ông bà chăm sóc đón đưa từ lúc lọt lòng đến khi đi học nay đã lớn phổng phao, đứa 15 đứa 17. Thỉnh thoảng ông vẫn lú lẩn hỏi chúng là…con cái nhà ai. Cũng may lúc tỉnh ông vẫn nhớ ra và nói tên từng đứa.

Con gái thu xếp cho ông một phòng vì ông sẽ ở nhà hai ngày cuối tuần

Bữa cơm đầu tiên về nhà đã được dọn ra, có bát đũa sạch đẹp, có napkin , có mảnh báo trải sẵn, có chai bia lạnh mới lấy trong tủ lạnh ra và có món ông ưa thích là canh mồng tơi nấu tôm khô giã nhỏ, có thịt ba rọi luộc thái mỏng chấm nước mắm nguyên chất dằm tỏi ớt.

Con gái chỉ mảnh báo dặn dò:

Bố nhai gì không được thì nhả ra để vào tờ báo này, đừng vứt xuống sàn nhà sinh ra kiến dán đấy. Còn napkin này bố lau tay.

Lúc bố còn ở apartment, phòng ăn, góc bếp đầy dán, chúng tự do sinh sôi nẩy nở chẳng thuốc nào tiêu diệt nổi dù chị đã thay đổi mua nhiều loại thuốc diệt dán khác nhau…

Tuy dặn dò kỹ lưỡng thế chị vẫn…ngồi canh chừng kẻo bố trí óc lãng đãng hoặc quen tay vứt thẳng rác xuống sàn nhà như bấy lâu nay .

Ăn cơm xong ông tráng miệng miếng bánh đậu xanh Bảo Hiên Rồng Vàng. Từ đầu đến cuối toàn là những món mà ông ưa thích.

Con gái ông ngồi tiếp thức ăn cho bố. Chị kiên nhẫn ngồi đợi ông ăn đến miếng cuối cùng. Khi ông vừa ăn xong thì chị đã nhanh nhẩu:

– Bố ra chỗ sink kia rửa tay xúc miệng.

Đích thân con gái rửa tay và đưa nước ấm cho bố xúc miệng, chị nhắc nhở từng chút một:

Bố rửa tay xà bông xong tháo răng giả ra xúc miệng vài lần cho sạch sẽ.

Chị rửa sạch bộ răng giả cho bố và ngâm vào hộp nước.

Khi ông Đê vào restroom vừa ra thì tức khắc con gái… chạy bay vào để lau chùi, chị biết chắc thế nào bố đi tiểu cũng vương vãi ra sàn nhà như chị từng thấy khi bố ở apartment trước kia, nếu không lau sạch mùi khai sẽ bốc lên và người khác dẫm vào là bôi bẩn ra cả nhà.

Buổi tối con gái trải sẵn giường gối cho bố, đưa tận tay bố chiếc remote control ti vi và chỉ dẫn:

– Đây là các đài ti vi Việt Nam. Bố tha hồ mở xem khi nào muốn ngủ thì tắt đi. Chúc bố ngủ ngon nhá.

Ông nằm đắp chăn xem ti vi ngoan ngoãn như một đứa trẻ

Chị yên chí ra ngoài và làm việc của mình, đến khuya chị sắp sửa vào phòng ngủ của mình thì bắt gặp bố già vừa lẻn vào bếp xong vội vã trở về phòng ngủ, chị ngạc nhiên…dí theo bắt gặp bố đang bóc thanh bánh đậu xanh Bảo Hiên Rồng Vàng bỏ vào miệng ăn ngon lành như người đang đói khát. Chị dãy nãy lên:

Trời ơi, nửa đêm bố còn mang bánh ngọt vào phòng ngủ để ăn, sẽ sinh ra dán kiến bố biết chưa? Với lại bố đã xúc miệng rửa tay rồi, bây giờ phải…làm lại tất cả.

Ông trở thành lú lẩn cáu kỉnh:

– Thôi, thôi, để cho tao yên, tao đi ngủ đây.

Và ông nhất định từ chối rửa tay xúc miệng, nằm trùm chăn phản đối con gái tới cùng. Ông đã chiến thắng.

Suốt hai ngày cuối tuần con gái quá căng thẳng vì cứ phải liếc mắt để ý từng hành động của bố, ông làm gì cũng vương vãi rơi đổ không canh chừng sao được, chưa kể phải trả lời hàng chục lần các câu hỏi của bố giống như nhau mà mỗi lần hỏi xong ông lại quên và…hỏi nữa.

Vất vả nhất là bắt bố vào phòng tắm, bố không chịu để con cái tắm giùm, bố tự ái tao còn tay còn chân không phải nhờ đứa nào.

Chị đã pha sẵn thùng nước ấm, xà bông gội đầu, xà bông tắm để gần kề, một chiếc ghế con cho bố ngồi tắm, khăn áo mới sạch sẽ để bố thay…

Vậy mà 10 phút sau bố tinh tươm quần áo mới ra khỏi phòng tắm và khoe rằng bố đã …lau chùi mình mẩy đủ sạch rồi, khỏi cần tắm rửa làm gì…tốn nước.

Không biết bố “lau chùi” kiểu nào mà thùng nước ấm còn nguyên.

Chị lại chịu thua như tối qua đã thua bố khi ông không chịu rửa tay sau khi ăn bánh trong phòng ngủ.

Chỉ có nhân viên trong nursing home làm việc thẳng thừng may ra bố mới chịu nghe. Với lại bố không biết tiếng để nói năng cãi cọ với họ được.

Con gái đang soạn đồ cho bố trở lại nursing home thì ông chống gậy ra ngoài sân từ lúc nào, chị vội vã đi tìm thì thấy ông đang đi mãi phía xa, chị chạy lại cầm tay bố:

– Bố đi đâu thế, làm con hết hồn tưởng bố đi lạc…

Giọng ông dõng dạc:

– Về nhà.

Con gái dỗ ngọt:

– Đúng rồi, con đang chuẩn bị đưa bố trở về nhà, về nursing home của bố .

Ông tỉnh táo hơn bao giờ, tuôn ra một tràng… thống khổ:

– Bố không về nhà của con đây, không về nursing home kia. Bố về nhà của bố, về căn nhà housing ở apartment, nơi ấy bố được quyền sống theo ý bố. Ở nursing home là một nhà tù, họ khóa cửa, có người canh cổng. Buổi trưa bố đang ngủ, họ giở thốc tấm chăn lên một cách phũ phàng để bắt bố đi tắm cho bằng được. Bố chưa đói nhưng tới giờ ăn cũng bị đưa xuống phòng ăn cho bằng được. Họ không cần biết cảm xúc bố ra sao, họ cho gì ăn nấy, bố không có quyền đòi hỏi thứ mình muốn. Hỏi, đời còn gì vui?

Về nhà con chơi lại là nhà tù thứ hai, tuy con cháu thương yêu chăm sóc nhưng bố cảm thấy luôn bị theo dõi rình rập, nhất cử nhất động của bố đều bị con cháu bám theo, chỉ huy bố từng ly từng tí chỉ để giữ gìn sạch sẽ cái nhà này. Hỏi, đời còn gì là hai chữ tự do?

Nói xong ông bật khóc như đứa trẻ, là lúc trí óc ông lẩn thẩn ngu ngơ mà vẫn khẳng định:

– Để bố về nhà… về nhà của bố…

Nguyễn Thị Thanh Dương
(Father’s day 2020)

                           I WANT TO GO HOME

 Mr. Dan opens his eyes after a nap lunch, not knowing the date or the time.  Here, day after day, every day is the same. He is an old man who no longer remembers.  Living with other elderly people who are sick or demented, the day of the week no longer matters.
He recognizes his old roommate who had been awake since who knows when. Mr. Dan nonchalantly asks him in Vietnamese: Did you have a good nap? His American roommate, who is also demented, answers calmly in English: Do you want to eat dinner now?  Are you hungry?
These two old folks living in a nursing home room are conversing without any mutual understanding. Both are happy just to be talking to someone. 
Mr. Dan looks for a cane to go outside. His dutiful daughter bought the cane at a medical supply store. The height of the cane is adjustable.  The end is covered by a rubber cap to keep him from slipping when he uses it for support.
He is like his daughter’s dog who sits on a chair looking through the window watching for her return. Mr. Dan always looks in the direction of the nursing home gate, resigning himself that the door will be always locked with an attendant sitting by the door. He never can walk outside but he can see through the door the landscape beyond where once long ago he had a home of his own.  
After standing for a long time, contemplating life outside, he nonchalantly walks in small steps back to his bedroom. Passing by the lounge or the hall he sees other old folks like him, each one in a different pose, either sitting down, sitting in a wheelchair, or walking slowly with a walker — all looking dejected.
Back to his bed, he lies down, eyes wide open, anxious, even fearful of sleeping because he will be awakened by a nursing assistant who will tell him to shower or go to the dinner room, even if he does not want to take a shower or to eat. These assistants perform their duties on schedule with military precision. At night, when he cannot sleep, he gets out of his bed and wanders in the hallway aimlessly into a ghostly environment of dead silence until he is chased back to his bed by the on call nursing staff.

The next morning, his daughter arrives to visit.  He is so happy as he clings to her sleeves and pleads: “My daughter take me home”.
The daughter comforts him:”Yes, I am going to take you home to see your grandchildren.”
Mr. Dan replies between tears, feeling miserable, but his voice is now alert:
“I crave Vietnamese food, spring rolls with cooked shrimps, shoulder pork with rice noodles dipped in a honey peanut sauce sprinkled with hot pepper or the rice noodle duck soup with bamboo shoots”.
His daughter reminds him:”I know, you will remember to bring your dentures with you so you can taste your foods.”
“At home, I will boil the pork belly so you can dip in the fish sauce like the old days when you wolfed it down with wine”.
“Oh, I remember, your mom mixed the sauce with garlic and hot pepper which was so delicious.” Those days are now long gone. His wife passed away more than ten years ago, but he always recites this like it just happened yesterday.
When his wife passed away, he lived alone in the house that he had bought a long time ago. Despite living alone he had the freedom to do things as he liked. He could drive to the Vietnamese market close by to buy food he likes and cook for himself. He still remembers the boiled pork belly which he dipped into the fish sauce that he prepared but which was not as good as when his wife mixed the sauce.
His daughter’s home was just ten minutes far away by car, so she regularly came to visit him and helped him sometimes for his cooking, his laundry or cleaning his house, until the time that she insisted that he move into this nursing home.

Mr. Dan is now 90 year old.  Generally speaking, he is “healthy” given his age with, no chronic health conditions requiring around the clock care. Although weak in the limbs, he still manages to walk by himself, naturally with a cane. Mentally, he is “half and half”, sometimes very lucid, conversing normally, sometimes incoherent, not knowing what is going on.  He can no longer live independently.
His daughter had thought about it for a long time.  She only has 4 bedrooms for a family of four: her husband and her two children. She and her husband both work, their 2 teenaged children are in school, She cannot afford to let him stay at her home since there is nobody there to care for him. In a nursing home there is a staff which can watch him and provide medical care, not to mention meals. 

Now and then, she visits her father like today.

Mr. Dan is so happy to follow her, walking slowly as he pulls his body along with his cane.  He is like a young exuberant child going to an amusement park.
His grandchildren will be happy to see him.  He had taken care of them since their birth till their teenage years. They are kind to him even though his presence will upend their weekend schedule. Sometimes he asks if these children are from which family.   Luckily he sometimes he remembers their names as well. Generally he cannot understand their chatter due to generational and cultural differences. They play piano, create sketches and shows for him, but he cannot understand their language or melodies. He thinks it all sounds like “rap.”  
When they call, telephone conversations are limited to perfunctory questions.  What do you eat today? How is the weather? Are you feeling OK? What TV shows are you watching? They are generally flat and repetitive. Face time and Zoom are not much better.

His daughter has now arranged for him to stay in one room in their house for the two weekend days.
The first dinner is served with clean pretty bowls, chopsticks, napkins, and dinner mats. A cold beer just out of the refrigerator, duck soup with young bamboo shoots, and cooked pork belly accompanied with a fish sauce mixed with garlic and hot pepper are waiting for him.
His daughter reminds him: “When you chew the food, please remember to spit on the dinner mat, do not drop it on the floor because the food will attract ants and cockroaches. And please wipe your hands with this napkin.”
She remembers that when he lived alone in his house, his dining room was full of cockroaches.  They multiplied so rapidly that no insecticide could eradicate them.
Even with her detailed instructions, she still has to watch him carefully because of his mental condition and habit of dropping food on the floor now and then.
Finishing dinner, he is offered the mung bean cake that he loves so much. From the beginning of the dinner to the end, all the dishes have been his favorites.
His daughter now has lovingly attended to her dad. Patiently she waits until his last bite. After he swallows it, she tells him to go to the sink to wash his mouth and fingers and to gargle. She even wipes her father’s hands and gives him warm water so he can gargle, gently reminding him of little things, like “Dad, wash your hands with soap” and “Take out your dentures and clean them.” Nonetheless, she ends up having to clean out the dentures and put them in a glass of water.

When M. Dan finishes using the toilet, she immediately enters the room and cleans it, knowing well that he will splash his urine on the floor like he did when he is living alone. If she does not clean it immediately, the urine stench will linger and the unlucky one who steps on the spoiled bathroom floor will bring this undesirable odor with him.
At night time, his daughter already has the bedroom arranged for him, showing him the remote control and guides him to use it: “You can watch the news or your favorite pay for view like Netflix or HBO or Hulu.  Just turn off when you are ready to sleep. Have a good night!” Mr. Dan lies down and watches TV dutifully as a child.
Reassured, she returns to her house cleaning work till bedtime.  But when she is ready to go to bed, she sees him furtively go to the kitchen and return to his bed. Surprised, she follows him and discovers that her dad is opening another mung bean cake, eating it in bed because he is so hungry!
She yelled softly: “OMG! It is midnight now and you brought the sweet cake on your bed to eat!  You are helping ants and cockroaches to multiply freely! And now you have to wash your mouth again!”
Not really knowing what is happening, he shouts:”Leave me alone! I am going to sleep now!” He refuses to wash his mouth and hands. He hides under the blanket. Finally he has won.

The next two days, his daughter is so tense as she carefully watched her father’s every move. Not only does he keep dropping things on the floor but she has to answer all his questions which he repeats over and over.   And he will forget this question a few minutes later and ask again!
The most disheartening job is to force him to take a shower.  He refused to be waited by his family members, proudly telling them that he is still capable of doing such things on his own.  After all, he still has the use of his hands and feet and does not need help from anybody else.
She readies a pot of warm water, leaves a soap and a shampoo, and a set of clean clothes close by.  She puts a small stool nearby so he can sit down.
Even so, ten minutes later, he emerges from the bathroom wearing his new clean clothes and proudly declaring that he has cleaned his body and does not need to waste water showering.
She does not understand why he can “clean” his body when the warm water container is still full!

The next night she gives up obliging her dad to wash his hands after he eats cake in his bedroom.
She thinks that a staff back at the nursing home will straighten things out: He has to follow the regulations of the nursing staff and he won’t argue with the nurses because he cannot speak English. And besides that, the nursing staff will handle any medical emergencies, God forbid!
While the daughter is preparing for his return to the nursing home, he leaves the house with his cane. She runs after him and finds him a short distance away.  She grabs his arms:”Where you have been? I was scared to death that you might get lost.”

He proclaims clearly: “I am going home”. His daughter replies sweetened him:”Yes, I am readying you to go to the nursing home, dad.”

He is now fully lucid and harangues: “I am not going to your home nor to the nursing home. I go back to my own house that I cherished with my wife, where I have full control of my daily activities. Living in the nursing home is like living in a jail.  They lock the doors. They have guards. At noon time, while I am taking a nap, they wake me up, throw aside my blanket and order me to take a shower. Whether I am hungry or not, at dinner time they force me to go to the dining room to eat food I do not like! They did not care about my feelings, I have to eat foods that I do not like, I cannot ask for my preferences or choose what I want. Even at night when I cannot sleep, I cannot go outside my bedroom before been chased back to bed by them.  So how can I be happy in the nursing home?”
“To go to your house is like to go to a second jail, I know that you all, my dear daughter and your children.  You all cherish me and try to make me comfortable, but I have the feeling that you are spying on me.  You watch my every move.  Everything I do is watched and then corrected in minute details so that your house is clean. Again where is my freedom?”

After speaking, he weeps like a child.  At that very moment, the dementia comes back, but he still declares: “I want to go home… my home!”

One day……

Duong Nguyen

Summer of 2020

(Adapted from Bố Muốn Về Nhà by Nguyễn Thị Thanh Dương)

(Mạn phỏng dịch bài chị viết)

 

                                                                 NHỚ VỀ NEBRASKA

                                                                                                THÂN GỬI HƯƠNG HỒN BẠN BÍCH SINH

 

Dưới đây là screenshot cuối cùng của BS Đặng Thị Bích Sinh liên lạc với tôi.

Nhiều ngày khi không ngủ được vì mắc bệnh khó ngủ triền miên nhớ tới Bích Sinh làm nhớ tới tiểu bang Nebraska mà tôi có dịp đi công tác ở đó khi ở trong quân ngũ (căn cứ Offutt AFB là Tổng Hành Dinh Chiến Lược của Không Quân Hoa kỳ).

Nebraska ở giữa nước Hoa kỳ thường được coi là nơi khỉ ho cò ngáy hay là chỗ trú ngụ của tụi “cổ đỏ” (redneck) như là tiểu bang Oklahoma ở dưới đó. Tuy vậy thủ đô Nebraska hơn Oklahoma là vì có tay tài phiệt nổi tiếng là Warren Buffett, người giàu thứ tư của nước Cờ Hoa này (sau tỷ tỷ phú Jeff Bezos của Amazon, Bill Gates của Microsoft và Mark Zuckerberg của FaceBook). Warren Buffet giàu sụ như vậy vì công ty Berkshire Hathaway của ông ta biết lợi dụng thời cơ stocks như gần đây lời cả vài tỷ khi mua mấy trăm triệu cổ phiếu Apple lúc giá Apple xuống thấp cách đây không lâu, nay giá Apple lên tới gấp ba bốn lần giá cũ. (2020)

Tiểu bang Nebraska (NE) rất bằng phẳng gần như toàn là cánh đồng cỏ bao la “cò bay thẳng cánh” nơi mà xưa kia hàng trăm ngàn con bò rừng bisons (hay buffaloes) tung hoành sống tự do. Sau đó dân chúng miền Đông Hoa kỳ di dân sang miền Tây thì các chú bisons này bị giết gần như bị diệt chủng để thay thế bằng những đàn bò. Vì thế tỉnh Omaha (tỉnh lớn nhất của NE) có món Omaha steak nổi tiếng khắp nước Mỹ. Ngay tên Nebraska là do biến hóa của chữ Omaha nghĩa là nước phẳng (flat water) của con sông Platte đi ngang qua tiểu bang.

Rất ít ai biết Omaha là nơi xuất xứ hãng Kool Aid hay NE là nơi có nhà rọi đèn pha (light house) mà không có biển hay là nơi sinh trưởng của tay nhảy đầm nổi tiếng Fred Astaire hay tài tử nổi danh Marlon Brando. NE còn là nơi mà các chim trời như vịt, ngỗng hay hạc khi bay theo mùa từ Bắc tới Nam hay ngược lại dừng chân để nghỉ và kiếm ăn.

Cũng như tiểu bang Oklahoma ở phía Nam, NE được nổi tiếng với đội banh sinh viên football (college football: chơi banh bầu dục khác với soccer như Việt nam ta chơi banh tròn). Khi tôi đi học Y Khoa ở Oklahoma nếu muốn sinh hoạt với tụi sinh viên Mỹ nhất là lúc cuối tuần trong mùa football thì kể như “bù” bị “ra chỗ khác chơi” nên lúc đó chẳng đặng đừng phải hiểu biết cách chơi football là như thế nào. Hiện nay đội NE football không còn là một power house ngang ngữa với Oklahoma (nổi tiếng là top ten của college football) mà không biết tại sao.

Và Nebraska có Bác sĩ Đặng Thị Bích Sinh và đấng phu quân là là Bác sỉ Trần Chu Mỹ của binh chủng nổi tiếng Cọp biển Thủy Quân Lục Chiến của VNCH. BS Mỹ đứng đắn, rất vui vẻ với bạn bè, cởi mở, không vênh mặt với đàn em như vài đàn anh đồng nghiệp khác. BS Bích Sinh đứng đầu lớp mỗi năm khi học ở trường Trung học Marie Curie và rất ngoan đạo (khi tôi có dịp đi cruise vài lần với BS Bích Sinh, mỗi lần khi đi ngang một nhà thờ, BS Bích Sinh luôn luôn ghé vào cầu nguyện). Không những thế Bích Sinh lại rất dễ thương, biết điều, savoir vivre , cư xử tốt với bạn bè và nhất là tận tụy với chồng con gia đình.

Nebraska cũng là tên một phim do tài tử Bruce Dern đóng suýt được giải thưởng Oscar năm 2014.

Tháng tư năm đó tôi có dịp ghé Florida ở quận Brevard. Brevard cũng là một quận “khỉ ho cò gáy” không được nổi tiếng như Orlando hay Daytona Beach (nơi mà các anh chị sinh viên Mẽo đầy sinh lực tụ tập nhân dịp Spring Break để trao đỗi “sinh khí” hay “thám hiểm” lẫn nhau) hay Miami. Ngoài bãi biển Brevard thì cách giải trí hấp dẫn nhất là vào thư viện để trao đổi email (vì thời đó chưa có WiFi rộng rãi như bây giờ) và khảo cứu tin tức thế giới hay nội địa Hoa kỳ qua sách báo rất được tu bổ cập nhật khá nhanh chóng hơn với các thư viện chỗ tôi ở.

Ví dụ như tôi khám phá ra được phim Nebraska sẽ được chiếu miễn phí ở thư viện Coca Beach vào tháng tư năm 2014 đó. Tôi hí hửng rủ bà xã và cặp vợ chồng Hổ và Bích cũng thuộc loại gần bảy bó cùng đi xem vừa không tốn tiền mà lại theo quảng cáo là được “free refreshments”.

Phim được quảng cáo là sẽ chiếu vào lúc 3 giờ chiều. Bạn tôi khuyên là vì “free” nên tới trước 2:30 chiều và hẹn nhau lúc 2:15 hôm đó. Tới đó, mặc dù 45 phút trước đã có sáu bảy cập bô lão dư thì giờ đã đứng xếp hàng vào hội trường chiếu phim. Sau đó có nhiều cặp tới toàn là ông bà già gần như là toàn là da trắng xấp xỉ bảy tám chục tuổi tóc bạc phơ, mặt xệ nhăn nheo với nốt đốm da đồi mồi (aging spots và actinic keratosis). Các cụ bà thì mặc váy đầm thời nhảy square dancing khoe da mỡ phất phới như cờ lông tông ở dưới cánh tay cùng các gân nổi xanh ở chân. Mấy ông thì ăn mặc luộm thuộm, quần cao lên tận nửa ngực hay đeo dây bretelles cho khỏi phải dùng thắt lưng khi không còn kiểm soát được sự tăng trưởng của vòng số hai vì ăn nhiều lẫn uống bia không ngưng. Có một  ông cao to lớn bụng phệ ăn một bịch popcorn lại ngồi gần máy làm popcorn mà nhân viên thư viện phát cho. Ông ta nhồm nhào ăn xong lại đứng dậy lấy thêm . Gần đó là một bàn để các chai Coca hay Sprite với ly plastic để tùy tiện. Đúng là một El Cheapo ăn chùa hẹn hò (cheap date) của “Le Tout Paris” đó.

Trong phim đó cảnh Nebraska tỉnh nhỏ như ở Oklahoma tỉnh Enid hay Waynoka mà tôi thực tập y khoa khi mới đặt chân lên nước Mỹ này. Nhà gỗ cũ, cửa sổ được bao thêm mảnh plastic cho tránh mất hơi mát của máy lạnh hay máy nóng. Những ông bà già trong phim người thì bướng bỉnh, càu nhàu, trả lời nhát gừng. Đàn ông thì ngồi trên một ghế lazy chair tay cầm một lon bia nhồm nhàm ăn bắp rang (popcorn) xem TV, mặt lạnh, không nói năng gì cả mặc dù là cùng trong gia đình anh em, con cháu. Các bà thì nói huyên thuyên trong bếp nấu hamburger và chiên khoai tây và khoe cách làm bánh táo pie.

Đường phố thì vắng tanh, các hoạt động chỉ là họp nhau chung quanh một quán uống rượu cũ kỹ với một dàn karaoke với các ca sỉ lô can gào hát những điệu nhạc cũ thời tám quánh nào đó. Cộng thêm vào đó là một bàn đánh billard và một mảnh gỗ có nhiều vòng tròn để phóng phi tên vào giữa để lấy điểm.

Đại khái câu chuyện là một ông già Woody (W) đi lang thang lếch thếch trên một con đường vắng của một tỉnh nhỏ bị cảnh sát bắt đem trở về với gia đình. Hỏi ra thì là ông ta nói là trên đường đi ra tỉnh Lincoln để nhận giải thưởng một triệu đồng mà ông ta xác định là ông ta có nhận được một thư chúng minh như vậy. Người con trai biết ngay đó là một tiểu xảo của một nhà báo để dụ khách hàng mua báo của họ. Nhưng W vẫn tin là ông ta trúng giải thưởng đó mặc dù các lời can ngăn của vợ và con trai. Sau vài lần khác W bị cảnh sát bắt như vậy mà W vẫn cứng đầu gân cổ cãi lại là ông ta trúng số thật sự nên cậu ta phải chiều W như là một cậu con làm vừa lòng bố lần cuối theo ý ông ta bằng cách lái xe chở bố đi ra thủ đô Lincoln (W không được phép lái xe).

Trên đường lên tỉnh thì W và cậu con ghé nhà cũ nơi sinh trưởng của W đi thăm ngôi nhà cũ ọp ẹp nghèo nàn cùng tạm ở nhà em của W. Mặc dù cậu con cố can ngăn nhưng W cứ khoe là ông ta đã trúng số thành ra tin đó lan tràn mau chóng khắp tỉnh. Họ hàng và bạn bè W khi nghe tin là ông ta đã trở  thành triệu phú họ bèn bu lại nhà, lúc trước thì coi thường ông ta nay họ thay đổi tính tình như lúc trước chê bai ông ta, nay thì người khen ông ta tốt số mong được chia xẻ một tí tiền còm, người thì nhắc khéo là ông ta nợ lúc trước chưa trả, người thì nói đang cần tiền vì gia đình thiếu thốn bệnh tật, người thì nói là không trả thì sẽ kiện ra toà.

Phim đó có nhiều mẫu chuyện hay nhận xét vui vui, buồn buồn hay dí dỏm như khi  hai cụ đó khi đi thăm mộ gia đình gần nhà, cụ bà tốc váy trên một mộ của một ông ái mộ bà ta lúc trước “Nè cho ông xem có đã chưa?” Kết thúc chuyện phim thì để các bạn tự tiện đi thuê xem phim cho khỏi mất thú vị hấp dẫn.

Viết tới đây tôi chạnh nghỉ là nếu tôi khi học xong ở Oklahoma mà ở lại đó thì đời sống sẽ ra sao? Gần như tất cả các bạn cùng khoá ở Oklahoma đều “xuất ngoại” cả. Rất phục bạn Bích Sinh và anh Mỹ đã ở lại Omaha Nebraska tuy rằng biết là Omaha với Warren Buffett khác xa với Oklahoma.

 

Nguyễn Dương

Hè 2020

 

 

Một Vài Cảm Tưởng Sau Khi Đọc Cuốn  “VÒNG QUANH THẾ GIỚI TRONG 19 Ngày…”

                             của Bác sĩ NGUYỄN DƯƠNG

                                           

   Có lẽ tôi là người có duyên – vì luôn gắn bó quan hệ – với các vị trong giới Y sĩ Việt Nam. Trong nước (trước 1975) tôi quen biết và cả thân thiết nữa số đông bác sĩ trực thuộc Tổng Cục Quân Y Việt Nam Cộng Hoà từ ông Sếp lớn tới các ông Quân y sĩ cấp tá, cấp úy. Tôi đã nhiều lần được các ông bạn bác sĩ này đưa vào Quân Y Viện Cộng Hoà khám, chữa bệnh. Sang Hoa Kỳ định cư tôi cũng (tình cờ) quen biết khá nhiều bác sĩ người Việt ở các Thành phố cũng như các Tiểu Bang. Một trong những vị này là Bác sĩ NGUYỄN DƯƠNG. Thú thật tôi không ngờ, lần đầu gặp (cách nay gần 20 năm) một con người tuổi tác ở độ trung niên với thân mình tương đối nhỏ nhắn, áo quần giản dị trông rất bình thường như mọi người, lại từng giữ một chức vụ cao (và quan trọng) trong quân đội Hoa Kỳ: Bác sĩ Đại Tá Quân Y, Chỉ huy trưởng Quân Y một Sư đoàn đóng tại chiến trường Iraq và vài quốc gia khác. Có lẽ Bác sĩ Nguyễn Dương là bác sĩ người Việt đầu tiên giữ chức vụ cao trong nghành Quân Y Hoa Kỳ.  

  Theo sự nhận xét của tôi với sự quen biết lâu năm trong giới y sĩ , tôi thấy các bác sĩ Việt Nam hầu như ông nào cũng có “máu” văn nghệ trong người. Ông thì sáng tác nhạc và ca hát, ông thì viết văn làm thơ hay họa. Có lẽ do nghề nghiệp với tấm lòng cứu nhân độ thế, tình cảm chan chứa với đời với người nên ngoài những giờ phút hành nghề các vị trải lòng mình lên trang giấy hay qua tiếng đàn ca hát góp thêm nguồn vui sống cho đời.            

    Trở lại với Bác sĩ Nguyễn Dương. Ông cũng viết văn nhưng trong cuốn sách này không phải sáng tác thơ văn mà là viết bút ký (hay ký sự). Tôi biết ông thích viết văn khi còn học trung học, đã có bài gửi đăng báo tôi làm (nhật báo Chính Luận) . Từ thuở còn rất trẻ xem phim “Vòng quanh Thế giới trong 80 ngày” phỏng theo tác phẩm của Văn hào Jules Verne viết từ năm 1873, ông đã mơ ước sau này được đi thăm những danh lam thắng cảnh trên Thế giới. Tới tuổi trưởng thành vào đời ông đã may mắn có cơ hội và điều kiện thực hiện mơ ước này. Ông đã đặt chân tới những danh lam thắng cảnh khắp Thế giới như Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hawai, Ai Cập, Hồng Kông, Tokyo, Thái Lan, Trung quốc, Lào  v v…Nơi nào ông cũng quan sát ghi nhận rồi viết thành bài. Nghĩ tới ước mơ thuở trẻ khi xem phim “80 ngày vòng quanh Thế giới” của văn hào Jules Verne, ông tập trung các bài viết lại hoàn thành tập sách “Vòng Quanh Thế Giới Trong 19 Ngày…”. Trong những bài viết ông không xưng “tôi” mà để là “N” nhưng người đọc cũng hiểu là ông. Tôi biết ông là người khiêm tốn ít muốn phô trương. (Đã có lần ông gửi tôi (qua email) vài bài viết về du lịch, tôi đọc rất thích thú muốn ông đưa đăng báo nhưng không thấy ông trả lời. Chẳng lẽ khi ông cho in cuốn sách này chỉ với mục đích ghi lại những kỷ niệm dành cho người thân. Tôi không tin như vậy) . 

     Qua cuốn “Vòng Quanh Thế Giới Trong 19 Ngày…” tôi cho đây là một tác phẩm văn chương của một nhà văn thực thụ. Câu văn giản dị lôi cuốn, đôi khi dí dỏm, dẫn dắt người đọc một cách say mê. Ngoài việc diễn tả phong cảnh, Bác sĩ Nguyễn Dương còn cho chúng ta biết rất nhiều về những sắc thái và đặc tính con người, đời sống, nghề nghiệp, các sinh hoạt công cộng, các phong tục tập quán và cả các thứ đặc sản hiếm quý, các món cao lương mỹ vị của các dân tộc và đất nước ông có dịp tham quan hay sống một thời gian dài. Tác giả thể hiện một cách sống động khiến người đọc sau khi đọc xong một bài viết có cảm tưởng như mình đã “đi và sống” những nơi này. Sau mỗi bài viết đều có những bức ảnh chụp phong cảnh. Ông có nhận xét tinh vi thu thập những sự kiện, những sự việc cá thể cũng như tập thể hiện thực lên trang giấy. Và tác giả tỏ ra rất dí dỏm sau mỗi bài viết thường có một hai chữ kết khiến người đọc mỉm cười thú vị. Chẳng hạn như khi ông đi qua một trạm kiểm soát ở Trung quốc. Nữ nhân viên kiểm soát có những hành động sỗ sàng với du khách: giật máy ảnh ông đeo nơi cổ rồi thản nhiên chụp flash thẳng vào mặt ông hai lần không có lấy một câu nói giải thích hay xin lỗi. Tác giả kết thúc bài viết bằng 3 chữ “Ôi, trois bateaux!” ( ôi, ba tầu)

     Đọc bài “Tổ tiên chúng ta là người Gô Loa” (Nos ancêtres sont des Gaulois) khiến tôi sống lại những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường hàng ngày cứ phải lải nhải cái bài hát vong quốc này. Còn nhiều nữa những sự việc, những nhân vật, những cảnh quan, những đặc trưng, nhờ cuốn du ký này tôi mới biết được nhiều điều thú vị. Tôi đắc ý nhất hai bài viết về nước Pháp và Lào.                                         

    Bác sĩ Nguyễn Dương đã dẫn dắt tôi đi du lịch một vòng quanh thế giới, nhiều nơi tôi chưa đặt chân tới hoặc có thì cũng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”.                                                                                                     

    Một cuốn sách tuy viết về du lịch nhưng cũng là một tập tài liệu quý báu để chúng ta hiểu biết thêm về nhân văn, địa lý, con người, phong tục tập quán của một số nước trên Thế giới. Nhất là chúng ta được đi một cuốc du lịch đầy thú vị và bổ ích làm giầu thêm kiến thức mà không tốn kém gì.

    Nhà văn, Nhà thơ, Nhạc sĩ là những bông hoa làm đẹp cho đời lại thêm tài năng đức độ của một thầy thuốc thì Bông Hoa Đời càng thêm tươi thắm tỏa hương thơm ngát.                                                                            

    Cám ơn tác giả bác sĩ Nguyễn Dương.

                                                THANH THƯƠNG HOÀNG

                                                 (San Jose, CA. 6.12.2015)                                                                         

                                                

OUR ESCAPE FROM VIETNAM: APRIL 1975, FROM OUR HEARTS TO OUR CHILDREN

To our dear children,

We are now in our seventies which means we are pretty well advanced in aged compared with the generations before us. We have discussed many things with you all but not all the same time. More than that, we are pretty sure that you did not remember all of our talks. Because of that, this letter is to summarize all the important thoughts that we wish to convey to you all so that you can pass our thoughts along to your own children at the appropriate time.

First, our thanks to the US: Dear children, when we escaped the communists in the search for freedom and liberty we left all of our belongings, among them the altar of our ancestors and their tombs. When we took refuge in this country we were helped by the government and the people of this country: the United States of America. Our lives are now stable and comfortable. We have to recognize and give thanks to the US, even as we seek ways to make this country better and more prosperous as a way of expressing gratitude for the to help we received.

Reasons of our escape from the communists: It is very important for you to explain to your children why we and thousands upon thousands of Vietnamese refugees left the land of their birth. It was simply that to find freedom we had to flee from communism. Because you have enjoyed all liberty since birth, it will be difficult for you to comprehend the atrocities and the lies of the communist party. It will not be easy for you to understand how our human brethren treat one another so viciously. On that, you may want to see the movie “Journey From the Fall” by director Ham Tran (2006). Communist actions were despicable but they are very good in concealing them through propaganda and cover-ups. That’s why you must impress on your children, not to sow hate but to expose the truth. We heard many times that “ Do not listen to the communists but look at their actions”. Actions reveal truth.

Our Fatherland; Even though you live busy American lives, please find time to read the history of Vietnam to understand the origin of our people, the creation of our country, the ups and downs, our moments of glory and of humiliation, the wisdom and the mistakes of our ancestors. From that you will learn many lessons. There are many pages of glory but many more of tearful sorrows. Once we were dominated, but we gloriously broke away the chains and gained freedom. Yet there were times that we annihilated a nation (the Chams) or we invaded a country (Kampuchea) and caused continuous hate and frictions.

Our actual threat of the next Century: the Chinese communists of the People Republic of China (PRC). The PRC in this century is a growing menace: they are producing toxic products “Made in China,” as Diane Sawyer, anchor of ABC-TV, warned in 2012 and as Peter Navarro has done in his book “Death by China” (2017). Another book describes the PRC’s effort at hegemony by the PRC to be completed by 2049 (The Hundred Year-Marathon: China’s Secret Strategy to Replace American Global Superpower by Michael Pillsbury published in 2015). The New Silk Road of the PRC is now being unmasked with some countries increasingly fearful about borrowing or accepting economic help from the PRC.

The followings items we concentrate on Vietnam. The Vietnam Communist Party (VNCP) is deeply indebted to the PRC due to the cost of the last Vietnam War which concluded in April 1975. The pressure is on the VNCP not only to repay those debts it but also to accept Chinese dominance like a slave to his owner. Profiting of this debt claim, the PRC has obtained special rights in the economic zones ceded by Vietnam. They sent thousands and thousands of hungry Chinese to develop these zones. Let think about it: a decade later how many children will be born by these Chinese laborers? More than that they will establish special Chinese enclaves deep in our country. And what about environment/ecology disasters: in 2016 millions of fish were found dead along the coastal provinces of Central Vietnam. The cause was the discharge of toxic products into the sea by the Chinese Formosa Industries. In the highlands, the PRC is now exploiting 2 bauxite plants which are the source of future ecological disaster to our precious fatherland. Another calamity: the PRC is now controlling the Northern borders so they can discharge unsafe products, dangerous drugs and human trafficking. Adding to this, the PRC Navy is now threatening our fishing boats, invading and occupying our islands in the Spratley and the Paracels chains that were never owned by China. Not long ago the VNCP had given some land at the northern border secretly and sold our ocean rights to the PRC. Last year vigorous protests erupted when the VNCP enacted the laws giving China lending rights to the special economic zones. More than that the VNCP passed the Security Clause Act on June 12, 2018 to silence the Vietnamese people effectively closing the freedom of the press. These above actions have been exposed: the PRC not only is a big threat to Vietnam but also to the World. And, of course, the Vietnamese people will suffer.

Recent history of Vietnam: Our country had been under the French colonialism since the 19th Century. World War II started in 1939 and Japan abolished the French colony on March 9, 1945. The last Vietnamese Emperor Bao Dai rescinded the Protectorate Treaty with France and asked Prime Minister Tran Trong Kim to form the 1st independent government. The Axis countries: Germany, Italy and Japan lost the war to the Allies: Britain, USA, France, USSR and China. On August 19, 1945, a small group of communists usurped the government of Prime Minister Tran Trong Kim and proclaimed a Vietnam Socialist Republic. Not long after, the French returned and the whole country of Vietnam resisted. When the Vietnamese nationalists discovered the perfidy of the Vietnamese communists, they returned to form a nationalist government with the French. After the defeat of Dien Bien Phu, the Geneva Convention divided the country on July 20, 1954 into 2 countries: the North under the VNCP (Democratic Republic of Vietnam) supported by communist countries and the South which became the Republic of Vietnam and was supported by the US and the Free World. Soon the North sought to unify Vietnam by infiltrating soldiers and creating the National Front for Liberation of South Vietnam. The Republic of Vietnam asked for support to stop the spreading of the communists. When the infiltration by the communists became unbearable the US started sending troops in 1960 to stop the invasion. The fighting intensified.

In 1972, when the USSR and China were in no longer friends, President Nixon traveled to China to sign the Shanghai Communiqué. At that time the US no longer needed an outpost against the communists and decided to abandon South Vietnam. (The book “When the Allies Ran Away” by Dr. Nguyen Tien Hung describes the horrific truth on the US withdrawal). According to the Paris Peace Treaty of 1973, the US withdrew all combat troops from Vietnam but let the VNCP troops stay. The VNCP continued to attack the South with the full support of other communist countries. The Republic of Vietnam in the South, willing to fight but lacking arms, munitions, and petrol, were unable to stop the communist onslaught. Finally on April 20, 1975, Saigon, the capital of the Republic of Vietnam capitulated. The escape from Vietnam to seek freedom began and we became part of it!

Reflections on History and News: In our time there is a cornucopia of information. Authors write on Vietnam and films depict the Vietnam War, but often the content is far from truthful. At best it is partially true, like 5 blind persons trying to describe an elephant: one touches the trump, one the ear, one the foot, one the tail and one on the abdomen. No one “sees” the whole elephant. Some even bend the truth to serve their own obscure motives. Some even “invent” stories to denigrate others. Worse, above all, is when the victors rewrite history to serve their own purposes. (Alex Haley wrote in “Roots”: At the end, the victors are writing history).

Because of that, we ask you all to be very careful: Use common sense when you read documents, books, or view films on Vietnam during the 20th and 21st Century, even from Western sources. From our point of view the Vietnam War of 1954-1975 between the North and the South Vietnam was a civil war created by politicians from 2 blocs: the communist bloc and the Free World, with both sides providing weapons to bleed the Vietnamese people. For the South the cause was defending their freedom, but for the North it was communist ideology employed under the pretext of liberating the South from the US and reunifying all of Vietnam. The victors were arrogant and committed atrocities while the losers were humiliated. Since we cannot change these feelings, true peace and reconciliation are impossible. Millions have died, despite a reunified Vietnam and there are still deep resentments in the Vietnamese populace.

On Visiting Vietnam: Yes, we returned to Vietnam, like many others. Due to our advanced ages and health, we do not like to visit Vietnam anymore. There are many people who return to Vietnam, each one has their own reason, goal or a particular desire. Returning to take care of aging and feeble parents/families, to visit dear friends, to take care of our ancestral tombs, to train students in special needy fields, to visit our natal place: All of these are worthy motives. To return to help victims of environment disasters like flood or to help the poor, the sick without looking for gain or publicity is also acceptable. But to return to enjoy cheap tourism, for self-promotion, or to seek remuneration is despicable.

In the future, if the current government allows some genuine freedom, you should take your children to visit their fatherland. Of course, they may well be indifferent since they have no direct memories of Vietnam. We ourselves all have memories of our ancestral land whereas they do not so they have no emotional connection. But perhaps you will be able to guide them toward loving their country of origin, and the people of Vietnam. Help them take a view different from that of an ordinary tourist. Regarding the hope of finding work and earning a living in Vietnam, we think that is far-fetched.

Current situation in Vietnam: Some say that Vietnam nowadays is better than before. The majority of Vietnamese now eat rice not the barley mixed with rice like during the first few years after the Vietnam War. Today there are plenty of cars and motorbikes on the streets rather than bicycles. After more than 40 years of peace, there ought to be some progress. But to compare this progress with Vietnam’s neighboring countries it is shameful (even Kampuchea has an opposition party!). To know the truth in Vietnam behind the high-rise, luxurious cars, five-star hotels, modern golf courses it is necessary to dig into local news. There you discover deficiencies, decadences especially in education (e.g. drugs, hooliganism), the eruption of Red Capitalism, national corruption, social vices, child sexual abuse/trafficking and waste in natural resources. We have to find the truth and not behind the cover up/make up.

On Politics: not only overseas Vietnamese are demanding true democracy, abolition of the one party system, and the creation of a multi-party government. There are also progressive members of the VNCP who demand the same reforms, but they are muted by the current oppressive regime. To stand for reform, to fight despotism, to oppose an autocratic corrupted communist regime is not to fight against Vietnam but to keep alive hopes for a better future for a free and developed Vietnam.

If somebody thinks that communism now has changed a little bit, especially after the collapse of the Eastern Europe Economic Bloc, one should know it is due to the revolt of the people of these countries and outside international pressure. For that reason the VNCP also has “changed” (doi moi) by freeing the economic policies (but still keeping the communist doctrine). Although we are not political activists, we need to support all movements in bringing real democracy and liberty to Vietnam.

On Family: now regarding our own families. We are from the previous generation, we raise our children following the norms of our time, much as we ourselves were educated by our parents’ norms. Sometime, you think that we are too rigid but it was like that during our time. We hope that you will forgive us when we unintentionally have offended you. Please remember that we did not indulge ourselves in vices, we did not spend extravagantly, we always spend within our means, and we worked and saved so you all could have a good education under a safe and protective roof.

Because all of our belongings had been lost or confiscated by the communists, our lives were difficult when we first arrived in this country. We worked hard and we know you too had to work as summer jobs besides being studious, but so far so good. You are always not satisfied thinking that you are smart and capable. Intelligence and skills are important, but also we all depend on luck and opportunities, following the “doing good philosophy” of previous generations. You need to stay honest, live “right” to maintain the “correct path.” If we sow good deeds we will be rewarded accordingly. That is the natural cycle and it is always right!

In our own family, our advice is you have to respect your partner. We cannot avoid conflict, but we can always manage it peacefully (2 porcupines despite their menacing needles can live together harmoniously). Anger is a short folly, try to avoid it (we know it is easier said than done).

For your children, obviously you have to love them but do not spoil them. You need to check on them and to know their friends: now it is easy for children to be influenced by the media (TV, game, chat) and bad company, they need to be restricted. But safe sports need to be encouraged. Your personal lives should be balanced physically and spiritually.

On everyday life, we need to save and protect our environment because natural resources are not infinite. Always think about future generations. Don’t waste even an unnecessary napkin. Once in awhile show your children photos of the poor living conditions in underdeveloped countries in the world.

When there is sibling interaction, show each other understanding and solidarity. If you fight stubbornly with each other, it will cause pain and suffering for us.

In America today, we have only limited time to take care of our own family so obviously we do not havetime for our “big family” even in our subconscious mind we like to have that time, so try to understand and promote family solidarity. With the in-laws, try to maintain good relations.

Vietnamese language in a foreign country: something to discuss. You are the children of this country with all the rights and duties of a citizen hence you need first to be fluent in English so you can assimilate in your country of adoption. Studying Vietnamese language to keep your heritage is applauded but do not blindly enforce your children to study a second language: they can be overwhelmed! And they do need music and sports too! So try to educate them according to their capabilities and skills so they can balance their lives and live harmoniously in their adopted culture. On American culture: America is above all a consumer society! It is easy to be attracted by the ingeniously crafted ads that urge you to buy more and more. Even our banks and insurance companies try to sell us, hook us in their products. You need to buy only the things you need, period! For houses and cars, safety features are the first criteria to buy, not because your friend has nicer car or spacious home. Avoid sinking into debts that you cannot manage. Relax! We are not talking about philosophy; our actual societal condition is now in a declining mode in morale and in spirituality: everything now is towards materialism, egotism, me-too and not in the pursuit of inner happiness. Be less selfish, think about our countryman, and share with your friends.

For us: Getting old will bring illnesses, sickness will bring death. That is natural. On that date, prepare for us a simple but dignified burial ceremony. If you inter us and later on you move, you will feel uncomfortable because you cannot care of our tombs anymore. We chose cremation because this method is more efficacious, not using precious land for future generations. You can scatter our ashes into the mountains, ocean or river. Dust return to dust, it is perfect! Instead of expensive burial festivities, contribute wisely to common charities. Don’t be afraid of ridicule gossips, people will understand. One last note, in an unfortunate case that we are in a vegetative coma, be courageous and pull out the tubes: don’t prolong unnecessary life, it will make people suffer!

The altar: in present-day America, it is difficult to maintain an altar in a house. To remember our ancestors, display their photos in a respectful place. On the date of the death anniversary, a simple ceremony with few flowers, few fruits, and a candle will suffice. Your truthful remembrance is more precious than everything else. For the Vietnamese culture, commemoration of death anniversaries is more important than other anniversary dates. If you all can get together on that date it is a plus, more appreciated because family bonds with be refreshed and stronger.

We hope that you all have read carefully this letter. We ask that you reflect on it deeply and heed our advice.

Big hugs and kisses.

Lastly, we thank our children for always caring us for many years making our lives so fulfilled and happy.

Duong Nguyen

October 2019

MỘT THÁNG TRONG ĐỜI SỐNG CỦA MỘT CHỈ HUY TRƯỞNG ĐƠN VỊ MỸ

            (ký ức thời điểm giữa năm 1995 khi phục vụ tại Fort Ord, Monterey, CA)

 

“Nhật lệnh nhậm chức chỉ huy trưởng chiếu theo điều lệ Lục quân số…. ký ngày…. sĩ quan ký tên dưới đây nhậm chức chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân Y Tiểu bang California” được đọc dõng dạc trên máy phóng thanh bởi Đại úy B…. sĩ quan hành chánh Quân y trước một số đông quan khách và một Trung đội lính Quân Y đang đứng dàn chào.

 

Cờ của khắp 50 tiểu bang Hoa kỳ bay phất phới đằng sau toán lính đang đứng nghiêm chỉnh dàn chào buổi lễ. Đứng tách riêng ra là một nhóm lính danh dự cầm cờ Mỹ quốc, ba cờ Hải Lục Không quân và hai lính cầm súng danh dự đại diện cho Hoa kỳ và Quân lực Hoa kỳ.

 

Sau khi bản quốc ca chấm dứt và cuộc điểm binh lần chót của vị cựu chỉ huy trưởng, N. nhận cờ chỉ huy do Tướng hai sao P. trao cho với lời căn dặn là hãy lo cho đơn vị hoàn thành được nhiệm vụ tốt đẹp. Sau đó N. trao cờ lại cho Thượng sĩ Thường vụ S. cùng với lời căn dặn là lo cho binh lính dưới quyền được chu đáo. Cờ đơn vị theo truyền thống quân đội khắp thế giới là tượng trưng cho đơn vị và là chỗ tập trung của đơn vị và phải được bảo vệ cho tới tận cùng. N. nhớ mãi, là khi vị cựu chỉ huy trưởng cầm cờ đơn vị trao trả cho Tướng P. thì N cảm thấy muốn bị hắt sì hơi nhảy mũi vì chắc là bị nhiễm ứng, nhưng N. cố ngăn chặn mũi vì đang đúng lúc nghiêm chỉnh lễ nghi nên mặt mày nhấp nháy méo (bị ghi trên video thấy mà tức cười!).

 

Nhận trao cờ xong, N. trở về chỗ đứng danh dự và nhận lời chào nghiêm phắc tùy phục nhận lệnh của toán lính dàn chào dưới quyền Trung tá E. Chỉ huy phó Bộ Chỉ huy.

 

Lần lượt các diễn văn của Tướng P., của vị cựu Chỉ huy Trưởng được đọc lên qua máy phóng thanh. Cũng theo phong tục truyền thống Quân đội Hoa kỳ hai bó hoa hồng được đem ra tặng cho hai vị phu nhân cựu và tân Chỉ huy Trưởng.

 

Trời xanh màu thiên thanh với không một bóng mây nào cả của California nhưng không nóng nực như thời tiết của Washington, D.C. mà lại mát vì có gió biển thổi nhè nhẹ. N. ngắm hàng cờ danh dự cùng với toán quân dàn chào rồi đưa mắt liếc nhìn đám quan khách trong khán đài mà cảm thấy một dòng máu ấm áp hãnh diện cho người Việt tràn lên lồng ngực.

 

Tới lượt N. đọc diễn văn, đứng trước máy phóng thanh, N. từ từ đọc lời chào mừng và cảm ơn các tướng tá và quan khách đã tới dự theo đúng hệ thống cấp bực. Sau đó N. cám ơn đám lính dàn chào và đám lính cầm cờ danh dự. N. không quên khen tặng vị cựu chỉ huy trưởng và chúc mọi sự tốt đẹp trong chức vụ mới. N. rất nhớ lời căn dặn của các vị chỉ huy cũ khi N. làm Y sĩ Trưởng Sư Đoàn Thiết giáp Hoa kỳ bên Tây Đức là bài diễn văn nhậm chức càng ngắn càng tốt. Trước khi chấm dứt, N. mời tất cả các quan khách vào phòng tiếp tân ăn tiệc trà giải lao.

 

Sau đó N. và vợ cùng H., con gái đầu lòng vội đi vào phòng tiếp tân và đứng bắt tay nhận lời chúc khen tặng của các quan khách đang lục đục bước vào phòng. Ngoài các đồ ăn tiệc trà linh tinh còn có một bánh ngọt lớn có cờ Hoa kỳ và lời chúc tụng cho N. được đặt giữa căn phòng. Máy chụp hình lia lịa phát flash choé lên khi N. cầm dao cắt miếng bánh danh dự đầu tiên. Cắt xong N. trở ra tiếp đón quan khách trở lại.

 

Một lúc sau, N. tháp tùng tiễn đưa Tướng P. ra phi trường trở về đơn vị. Tướng P. là Chỉ huy Trưởng Tổng Y Viện Madigan ở tiểu bang Washington. N. quên cảm thấy đói vì không có thì giờ ăn gì cả. Sau đó N. ra lệnh cho đơn vị được nghỉ nửa ngày hôm đó. Đêm đó tuy rằng mệt vì bị stressed out và chất adrenaline lên xuống dồn dập nên N. không tài nào ngủ được.

 

  1. nhớ lại được biết được chọn làm chỉ huy đơn vị này từ ba tháng trước. Sau khi từ giã đơn vị cũ ở Fort Belvoir, Virginia, N. lo thu xếp đồ đạc di chuyển từ Đông sang Tây (từ bờ biển Đại Tây Dương sang tới Thái Bình Dương). Nhà binh Mỹ đảm nhậm chở hết các đồ đạc trong nhà số lượng nặng nhẹ tùy theo cấp bậc. Vì là dân Mỹ mới tò te trên đất Mỹ, nên đồ đạc N. không nặng lắm. Chả bù với sĩ quan Mỹ khi lên tới cấp Đại tá họ thu trữ mua sắm đồ đạc rất nhiều, nhất là khi họ đóng ở ngoại quốc, họ mua đồ đạc bản xứ to nặng như tủ kệ Đại hàn, Nhật bản, đồng hồ grand-father clock bên Đức hay bàn ghế gỗ teck, đó là chưa kể họ mua bát đĩa Wedgwood đắt tiền và đồ sộ. Có nhiều khi họ lợi dụng mua cả nhiều thùng rượu Âu châu mà không phải đóng thuế nhập cảng.

 

  1. chọn con đường đi làm chỉ huy thay vì làm y sĩ chữa bệnh ở một nhà thương tuy rằng lương không khác nhau và không phải mặc BDU (Battle Dress Uniform) (dễ lè phè hơn) nhưng vì nhận xét là muốn lên lon trong Quân đội Hoa kỳ thì phải sẵn sàng đi nhận chức nào đang trống cần người chỉ huy (chịu khó đi thuyên chuyển), thích được phấn đấu với những thử thách mới.

 

Trước khi đi N. cũng không quên hỏi ý kiến kinh nghiệm của các vị chỉ huy trưởng khác. Bài diễn văn được sửa soạn thêm cắt cho đúng thủ tục. N. cũng tập dượt nói đi nói lại cho quen và cảm thấy hài lòng khi đi đứng trước máy phóng thanh N. không cần phải đọc từng giòng chữ một như vị cựu chỉ huy trưởng đọc mà chỉ cần liếc qua ý chính để còn có thì giờ ngó khắp đám đông quan khách và toán lính dàn chào (một bài học trong lớp huấn luyện Toastmasters International).

 

  1. lái xe cùng vợ xuyên qua lục địa mất mười ngày. Đúng ra thì sự vụ lệnh cho phép đi bảy ngày được trả per diem mỗi ngày tiền ăn và tiền khách sạn, nhưng N. lấy thêm ba ngày nghỉ phép để có dịp ghé thăm vài bạn bè cũ từ tiểu bang Ohio, Kansas, Oklahoma cho tới Texas, New Mexico và California. N. không quên dừng chân ở Las Vegas, Nevada vài ngày mà hưởng thú vui hào nhoáng tráng lệ và giầu sang giả tạo của các khách sạn lớn như MGM, Luxor và Caesar’s Palace được mọc lên như nấm ở giữa sa mạc nóng cháy Nevada.

 

Tới đơn vị một tuần trước ngày bàn giao, N. bắt đầu được nếm sự lễ nghi kính trọng của các vị chỉ huy trưởng. Một xe hơi mới được dành riêng cho N. xử dụng với một hạ sĩ tài xế quân phục chỉnh tề sẵn sàng hấp tấp chạy ra mở cửa xe và đứng chào tay khi N. bước tới hay ra khỏi xe. N. quen ngồi đằng trước lái xe nên lúc đầu cảm thấy ngượng ngạo lúng túng khi được mời vào ngồi ghế đằng sau xe bên phải!

 

Một và hai ngày trước lễ bàn giao, lính đơn vị N. gồm cả y tá lẫn bác sĩ phải tập đi tập lại lễ nghi bàn giao. N. vì bận phải lo đọc các văn kiện giấy tờ đơn vị mới lẫn nghe lời điều trình dồn dập của các trưởng ban trong đơn vị nên không có thì giờ tập dượt mấy. Chính ra phần của N. trong buổi lễ bàn giao cũng chả có gì khó khăn ngoài vụ đọc diễn văn nên N. cũng chả phải lo gì lắm. N. cũng được dẫn đi thăm xem căn cứ Bộ Chỉ Huy của N. Ở ngoài hành lang của văn phòng chỉ huy trưởng có một dãy hình từ Tổng Thống cho tới Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Lục Quân rồi tới Đại tướng Tham mưu trưởng Lục Quân rồi tới Y sĩ trưởng Lục Quân, Y sĩ trưởng Tổng Y viện Madigan rồi cuối cùng tới vị Y sĩ Chỉ huy Trưởng tiền nhiệm của N. Cái đó để nhắc nhở các binh sĩ và nhân viên dân chính hệ thống quân giai cho đơn vị của N. (N. cũng phải có sẵn sàng một tấm hình để thay thế sau khi nhậm chức).

 

Ngày bàn giao nhằm ngày thứ sáu nên N. có hai ngày cuối tuần sửa soạn nhiệm vụ chỉ huy bằng cách đọc sơ qua các văn kiện hiện tại của đơn vị. Nhiệm vụ của đơn vị N. là phục vụ quân y cho binh lính và gia đình của các đơn vị lục quân trú đóng ở Bắc California và tiểu bang Nevada. Ngoài ra cũng phải giúp y tế cho các quân nhân hưu trí của vùng đó. Hơn nữa N. còn phải yểm trợ y khoa cho Trường Hậu Đại Học Hải quân (Naval Post Graduate School) nơi mà các Đại tá Hải quân tới trau dồi kiến thức thêm trước khi lên cấp Tướng, lẫn Trường Sinh Ngữ Quân đội cho các Hạ sĩ quan (và sĩ quan) thông dịch viên (nơi mà ngày xưa phần đông binh lính Hoa kỳ phải qua một khóa học cấp tốc trước khi sang Việt nam).

 

Trường Hậu Đại Học Hải quân, ngoài vụ giáo dục chuyên môn như chiến thuật tầu ngầm, nguyên tử hay điều động Hạm đội cho sĩ quan Hải quân, họ giảng dậy không những cho US Navy nhưng họ cũng mở cửa cho các sĩ quan cao cấp của các nước đồng minh với Hoa kỳ. Đó cũng là dịp các vị Đề đốc tương lai Hoa kỳ kết nối ngoại giao với các sĩ quan cao cấp của các nước khác. Viết tới đây N. chạnh nghĩ tới Trường Chỉ huy và Tham mưu Cao cấp (CGSC) ở Fort Leavenworth, Kansas, mà N. được đi thụ huấn lúc trước ở đó (Class of 1988-1989 Vice President). Lúc đó lần đầu tiên trường cho các sỉ quan cấp tá của Trung cộng (TC) tới dự. Khi thấy tụi nó lên thư viện tra cứu những sự kiện tối mật (Top Secret) của Hoa kỳ, N. cảm thấy không vui, N. có báo với huấn luyện viên của trường nhưng họ chỉ nhún vai cho là phải cần ngoại giao với TC. Lại hơn nữa, trường có treo chân dung to lớn của các sĩ quan đồng minh của trường mà sau đó trở thành nguyên thủ của các quốc gia đó như hình củaTổng thống Zia-ul-Haq (cựu Đại tướng Hồi quốc) nhưng N. không thấy hình của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu (cũng có đi học ở CGSC). N. đưa thắc mắc lên hệ thống trên có thẩm quyền của trường nhưng họ trả lời vì một lý do nào đó họ không thể treo hình TT Thiệu. Thương thay cho những nước nhược tiểu!

 

Sáng thứ hai là họp tham mưu đầu tiên, khi N. bước vào phòng họp tất cả các trưởng ban đứng dậy nghiêm phắc. N. phải nói “At ease! Take your seat” rồi N. bước vào ngồi ghế chỉ huy đầu bàn và cuộc họp bắt đầu. Chả bù với khi xưa khi N. còn làm trong ban tham mưu, N. phải tới trước và lo lắng phải trình bày gì đây và đề phòng bị truy hỏi.

 

Sau đó N. đòi hỏi mỗi trưởng ban phải gập riêng N. để trình bày những công tác họ đang làm cùng miêu tả công việc họ phải làm (job description). Nhân dịp đó N. có cơ hội hỏi riêng các khó khăn cá nhân hay ước mong riêng của từng người một. Theo kinh nghiệm cá nhân và xem xét hành động của các vị chỉ huy cũ, vì đơn vị nào bên Mỹ cũng có nhiều quân nhân da đen (hơn với sỉ số da màu bên ngoài dân chính) nên dù bề ngoài là tất cả đều đồng đẳng không có chia rẽ da mầu nhưng bên trong cũng có sự ngấm ngầm discrimination hay reverse discrimination nên N. chọn một Thượng sĩ da đen làm Thượng sĩ Thường vụ cho dễ làm việc.

 

Vì là Chỉ huy Trưởng nên N. phải làm gương nên ngay thứ sáu cuối tuần đầu N. ra lệnh cả đơn vị chạy PT (Physical Training). N. phải chạy hàng đầu cùng với một tên lính cầm cờ đơn vị và chạy theo nhịp hát bài quân ca (N. không biết hát bản đó nhưng nhờ các binh lính đã quen tập dượt học nhạc chạy khi ở trong trường huấn nhục hét to lớn nên N. không thấy quê). Nghĩ lại bây giờ sao mà N. làm được như vậy vì N. lúc đó tuổi đã hơn năm bó rồi làm sao mà chạy nhanh hơn và dẫn đầu các lính đã trẻ mà lại cao lớn hơn N. nhiều. Có lẽ vì là chạy đầu đàn nên N. chạy chậm thì cả đại đội chạy chậm theo. Chỉ huy trưởng mà!

 

Về sau ngẫm nghĩ lại N. mỉm cười khi được báo cáo là có một anh chàng trưởng ban từ trước tới nay có tiếng là hay né tránh họp tham mưu lấy cớ là ở Oakland xa bộ chỉ huy độ hai tiếng đồng hồ lái xe. N. khi đi thăm bệnh xá Oakland thì gập hắn ta. N. muốn hắn xuống trình diện và điều trình bệnh xá Oakland cho N. Thế là vài ngày sau hắn ta diện cà-la-hoắt (cravate) chỉnh tề (vì hắn là nhân viên dân chính) xuống gập N. Chả bù khi gập hắn ở Oakland hắn ăn mặc rất xuềnh xoàng hơi xốc xếch. Lệnh của một chỉ huy trưởng có khác!

 

Hai hay ba tuần sau đó, sau khi nghe nhân viên dưới quyền báo cáo và đi thăm các đơn vị mà N. có bổn phận trợ giúp, N. đúc kết lại tất cả các lệnh đòi hỏi của thượng cấp, nhu cầu của các đơn vị mà N. phãi trợ giúp và khả năng của đơn vị N.. N. phải nghiền ngẫm đi nghiền ngẫm lại (digest) và sau vài đêm/ngày suy nghĩ N. định một hướng đi (vision) cho đơn vị của N.. Rồi sau đó khi họp mặt lại với các trưởng ban xem xét và sửa đổi hướng đi đó để rồi cho trở thành nhiệm vụ (mission) của đơn vị N.. Các trưởng ban nghiên cứu nhiệm vụ đó để đặt các mục tiêu (tasks) phải thực hiện trong khoảng thời gian tùy theo trường hợp và kiếm cách để theo dõi (monitor) phát triển để hoàn thành nhiệm vụ.

 

Vì chính phủ Hoa kỳ giảm quân số cắt ngân khoản (như hiện nay) nên hai nhà thương Lục quân lớn là Tổng Y Viện Letterman ở San Francisco và nhà thương Silas B. Hays ở Fort Ord của vùng N. đảm trách phải đóng cửa. Nhưng vì vẫn còn nhiều đơn vị Lục quân nhỏ đóng rải rác ở Bắc Tiểu bang California nên cần nhiều bệnh xá và chẩn y viện để lo cho sức khoẻ binh lính và gia đình. Các chẩn y viện đó không thể chữa trị được bệnh nhân cần nằm ở nhà thương nên đơn vị của N. phải lo thương lượng và ký hợp đồng với các nhà thương dân chính và các bác sĩ điều trị chuyên môn trong vùng để bao thầu chữa trị cho binh lính. Ngoài ra cũng phải lo ký hợp đồng chữa trị cho gia đình binh lính lẫn gia đình chiến sĩ hưu trí đang trú ngụ trong vùng.

 

Cái khó là vì vùng Monterey là chỗ du lịch của những người giàu sang tới nghỉ mát, hưởng trăng mật hay đánh golf nên các bác sĩ và nhà thương dân sự không thèm dự đấu thầu ký hợp đồng với giá giảm với nhà binh Mỹ (lúc đó gọi là Champus nay đổi thành là Tricare) vì Champus trả giá thấp chỉ khá hơn một chút so với Medicaid/Medicare. Thành ra nhân viên củaN. phải thuyết phục họ như kêu gọi lòng ái quốc phục vụ giúp các binh lính Mỹ đang hy sinh để bảo vệ cho họ.

 

Cái buồn cười là khi N. tình nguyện vào nhà binh Mỹ, N. nhiều lần muốn thuyên chuyển về Tổng Y Viện Letterman (vì là ở tiểu bang nắng ấm California) nhưng không được mà nay N. lại là người ra lệnh đóng cửa khoá lại nhà thương Letterman, đóng cửa một trang lịch sử của Quân Y Hoa kỳ (Tổng Y Viện Letterman là nơi phần đông các binh lính Hoa kỳ bị thương ở Vietnam được chuyển tới mà chữa trị).

 

Khi đi thăm viếng các chẩn y viện, N. cũng có dịp đi thăm các đơn vị lục quân mà chẩn y viện của N. có nhiệm vụ lo sức khoẻ cho họ. Có chỗ là Trung tâm huấn luyện, chỗ khác là kho đạn dược vũ khí ….. Khi đi thăm các đơn vị đó N. được mời vào dự thuyết trình do các đơn vị trưởng không phải là quân y thuyết trình. Vì cấp bậc của N. thâm niên hơn các đơn vị trưởng đó nên N. được đón tiếp theo đúng lễ nghi quân cách. Có một chỗ N. tới thì được biết là đơn vị trưởng đó có phục vụ tác chiến ở Việt nam ngày xưa, có lẽ rất quan trọng mà nay phải ra mở cửa đón tiếp N. và thuyết trình riêng cho N.. N. cũng được dẫn đi thăm chỗ chứa bom đạn, chỗ dùng để phá hủy các đạn dược lỗi thời hay bị hư hỏng phải phế thải và cũng là lần đầu tiên N. trông thấy bom cluster và bom bi là như thế nào. Ở một chỗ khác thì vị chỉ huy chẩn y viện là nhân viên dân chính của Bộ Quốc phòng Mỹ. Ông ta ngày xưa đã phục vụ ở Việt nam với cấp bậc Đại tá Quân y và thường tiếp xúc với các nhân viên cao cấp của Bộ Y tế và Quân y của chính quyền Việt nam thời đó.

 

Tổng cộng ra có sáu chẩn y viện dưới quyền của N., các chẩn y viện đó phải báo cáo cho N. nhưng ngược lại N. cũng phải báo cáo điều trình lên cấp trên của N. là Tướng hai sao P. qua buổi họp mỗi tuần bằng điện thoại họp viễn liên (teleconference) lúc đó là kỹ thuật mới mẻ nhất còn bị nhiều trục trặc (bugs).

 

Các chẩn y viện đó ở rải rác khắp phiá Bắc tiểu bang California, từ Herlong (Sierra), San Francisco, Oakland tới Los Angeles. Có một chẩn y viện ở Nevada gần Reno nên phải di chuyển bằng máy bay. Thành ra sau khi đi thanh tra thì cũng có dịp viếng thăm Reno là chỗ cờ bạc ăn chơi thứ hai của tiểu bang Nevada (sau Las Vegas). Thường thì viếng thăm thanh tra ban ngày, buổi tối thì trở về khách sạn ở Reno và có dịp đi ăn cơm buffet all you can eat ở trong các khách sạn danh tiếng, ăn được ngon mà lại rất rẻ vì chắc được tiếp trợ thêm bằng tiền của các du khách nộp vào sòng bài.  

 

Xen kẽ vào những buổi thuyết trình của các trưởng ban và các cuộc thăm viếng, N. cũng phải khổ sở vì phải đọc hàng đống văn kiện mới lạ của đơn vị và tìm hiểu thêm về “managed care” để áp dụng trong vùng của N.. N. cũng phải áp dụng các điều học hỏi tại trường Chỉ huy và Tham mưu cao cấp ngày xưa tại Fort Leavenworth, Kansas, nào là cách chỉ huy cứng ngắc nghiêm khắc của nhà binh cho tới cách ngoại giao mềm mỏng của dân chính tùy theo trường hợp.

 

Vì là chỉ huy trưởng nên N. có quyền ban thưởng một vài loại huy chương. Thế là có lẽ sẽ có nhiều sắc lệnh ban khen huy chương có chữ ký của người Việt nam được treo lên tường trong phòng làm việc của các nhân viên dưới quyền N..

 

Cũng có lúc N. được mời đi dự lễ bàn giao của các đơn vị trưởng khác trong vùng N. đóng. Trong một buổi lễ bàn giao của một vị Tướng Hải quân N. làm quen được với một Tướng hai sao của Quân lực Thụy sĩ tới Monterey học ở trường Cao học Hải quân. N. tình cờ khám phá ra Tướng Thụy sĩ này có quen với một Đại tá Thụy sĩ là bạn của N. khi N. học ở Trường Chỉ huy và Tham mưu Cao cấp. Đúng là quả đất tròn thật! Vị Tướng này có mời N. tới nhà ông ta ăn cơm tối, N. lại được một dịp nói tiếng Pháp với ông ta thành ra ông ta và bà xã ông ta thích lắm.

 

Ngẫm nghĩ lại lúc ban đầu nhậm chức chỉ huy trưởng trong lòng bụng đánh lô tô lo lắng làm sao một Mít mà chỉ huy một đơn vị Mẽo nhưng rồi ngày này ngày nọ qua nhanh chóng chả mấy lúc đã được một tháng rồi! Hên là chưa bị loét bao tử vì phải đương đầu với lo lắng stress hàng ngày. Biết một ngày nào đó sẽ hoàn tất hoàn hảo nhiệm vụ hiện tại và chấp nhận một mục tiêu cao hơn đây? Bây giờ trời đã tối rồi, tháng tám ở California, mùa hè nhưng gió biển thổi nhè nhè man mát, N. ngó lên trời: một vài vì sao đang lấp lánh.

 

                                    Duong Nguyen, MD

                                   

                                    Y sĩ Đại uý QLVNCH

                                Cựu Y sĩ Đại tá Quân Đội Hoa Kỳ (1992)

                                Cựu Y sĩ Trưởng Sư Đoàn 1 Thiết Giáp Hoa Kỳ tham dự Chiến Tranh Vùng Vịnh (Desert Storm)

 

 

 

 

 

   Tình bạn bốn mươi năm sau

                              “Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương” (Cung oán ngâm khúc)

Trước hết định nghĩa chữ bạn rất rộng, bạn một đằng có thể là một người rất thân thiết, có liên hệ hai chiều cùng một sở thích thân mật như bạn đời, bạn cố tri, bạn tri kỷ. Ngược lại hay đằng khác bạn là một người bằng hữu như bạn trong sở làm, bạn học, bạn đồng hành, bạn đồng đội, bạn văn nghệ v.v… Có một loại bạn khác tuy gọi là bạn nhưng là bạn giai đoạn, bạn chính trị, chiến thuật, chiến lược, bề ngoài thì cười đùa rất thân thiện nhưng trong bụng thì dấu gươm dao gầm ghì nhau có thể thanh toán lẫn nhau khi không còn lợi lộc, hay hẹp hơn là bạn cờ bạc cùng trong một sòng bài như xì phé sát phạt lẫn nhau. Còn một loại bạn khác là khi giàu sang có chức tước thì có thiếu gì kẻ tự nhận là bạn hay ngược lại khi khốn khổ thì bạn bè trốn mất như trong câu latin:

                                                      “Donec eris felix, multos numerabis amicos”

 Nhớ thuở nào khi mới mất nước, người Việt ta khi gặp nhau trên đất Mỹ xa lạ này thì rất lấy làm vui mừng. Tuy chỉ là bạn cùng học chung một trường biết nhau sơ qua gặp lại được là rất sung sướng, tíu tít gợi chuyện ngày xưa hay chuyện trốn thoát khỏi Việt nam mà hàn huyên. Còn thân biết hơn một tí là mời tới nhà, vồn vã mời ăn uống lẫn mời ngủ lại. Nhà xập xệ không sao, thiếu chỗ ngủ không thành vấn đề, bao bố ngủ giải quyết dễ dàng, ăn uống vài con tôm, bát phở hay vài ngọn rau chia nhau bát cơm ăn rất là đầm ấm thắm thiết, dùng đĩa bát ly bằng plastic cũng xuề xòa vui vẻ.

 Nhiều khi lái xe tới một tỉnh hay tiểu bang khác, ghé lại không biết đường lối thì mở quyển điện thoại kiếm các tên có họ Nguyễn, Lê, Trần, Phạm v.v… là thường được chỉ tới chỗ nào có bán phở, cơm Việt nam hay chợ Á đông, người Việt lúc đó rất dễ dàng thật tình chỉ bảo lẫn nhau.

Hơn bốn mươi năm sau, vạn vật thay đổi thì tình bạn cũng thay đổi. Lái xe tới một tỉnh là trước hết là bạn quen phần đông giấu số điện thoại, còn người lạ thì rất dè dặt không muốn chỉ điểm lại hỏi tại sao gọi họ. Nếu còn liên lạc được bạn hơi thân ngày trước thì khác với lúc trước rất vồn vã mời gặp nhau, nay thì trở mặt khi gọi qua điện thoại thì có vẻ lơ là tuy rằng trong thâm tâm người bạn ghé thăm là quý bạn bè nên mới hỏi han thăm viếng chứ cũng chả cần như muốn xin ăn hay xin ở. Đó là chưa kể bây giờ với cell phone (điện thoại di động, không còn kiosk điện thoại với quyển điện thoại dày cộm) lại càng khó khăn hơn vì thiếu gì cách không muốn gập mặt như không trả lời điện thoại vì cho là số điện thoai lạ hay là không đem theo điện thoại hay điện thoại hết pin hay điện thoại hư hay không có WiFi v. v. v. Cũng có thể lúc người bạn viếng thăm đó cũng không đủ thời giờ tới viếng thăm bạn vì họ còn phải đi xem thắng cảnh hay gặp gỡ gia đình.

Có ông bạn kể lại là cùng bạn thân ngày xưa mà khi gọi điện thoại báo tin là sẽ tới thăm thì ông ta bèn giới thiệu khách sạn gần nhà ông ta. Có thể là ông ta rất bận, không thể tiếp đón cả ngày được hay cũng có thể ông ta cho là nhà ông ta không xứng (hay quá xứng) mà tiếp đón bạn cũ. Hay biết đâu trong gia đình người bạn đó có lủng củng trong nhà? Ngược lại ông bạn viếng thăm cũng có thể ngại ở nhà bạn vì sợ làm xáo động đời sống hằng ngày của ông bạn, thành ra khi tới thăm mà ngại muốn nối tiếp lại tình bạn cũ, bị đặt vào một trường hợp khó xử, không gọi điện thoại báo thăm thì bị trách móc, còn gọi lại bảo thì e ngại bị phiền nhiễu.

Dần dần loại bạn đó xa dần dần và phai nhạt.

                                                               “Loin des yeux, loin du coeur” (Xa Mặt Cách Lòng)

Thời gian cũng làm thay đổi tình bạn như lúc trẻ có cùng sở thích với nhau lúc đi học, lúc đi chơi, đi ăn nhậu, đi đá banh, đi tán gái v.v… Nghĩ tới đây không hiểu các cụ đọc bài này có để ý là thời ở Việt nam khi tới thăm bạn bè nhất là khi đi “cua” bạn gái nhiều lúc càng ngồi lâu càng lấy làm sung sướng, nhiều khi ngồi hơn cả buổi mà chả có anh nào dám xin vào trong nhà bạn gái để đi tiểu chẳng hạn. Có thể lúc đó rất sợ hay rất e ngại viếng thăm nhà cầu cô bạn gái hay là lúc đó hạch prostate vẫn còn tốt chưa bị bệnh són đái phải đi giải quyết ngay ! Ngược lại ở xứ Âu Mỹ này nhà nào nhà nấy đều có “toilet” gần ngay phòng khách nên vụ xin đi “tè” không lấy gì mà phải e ngại sợ khám phá ra mất “bí mật quốc gia.”

Sau khi lập gia đình thì lại có sự thay đổi khác: có khi tình bạn sẽ lạnh nhạt dần dần như trường hợp một bà bạn rất thân cùng trong một nhóm học xưa kia với một bà bạn khác. Nhưng khi hai bên lập gia đình thì dần dần xa nhau (không được phép phối ngẫu nhất là với khác phái?). Tuy vậy cũng có trường hợp khi có gia đình lại vẫn mời nhau cùng chia sẻ chuyện vui buồn gia đình con cái với nhau.

 Nhưng khi con cái thành thân có cháu chắt lại khác. Lúc đó như có một bà bạn kể là ngày thường đi làm, đến cuối tuần là lái xe hai ba tiếng tới tiểu bang khác đến đón cháu về nhà ở chơi qua cuối tuần nên bạn bè đều bị dẹp bỏ. Họ quan niệm lúc đó là không biết ngày nào họ sẽ “rụng” nên còn được sống nhiều lúc nào với cháu, chắt thì càng tốt: niềm vui hạnh phúc là được vui với con với cháu, còn bạn văn nghệ, xã giao đều cho vào hạng thứ không cần thiết phải gặp nhau.

Ngay trong trường đời cũng khôngcũng không tránh khỏi sự thay đổi như có câu ca dao:

                                                         “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ.”

Có vài bạn sang Âu Mỹ không được thành công cho lắm, hoặc thi không đậu không trở lại được nghề cũ, hoặc làm ăn không khá thì có mặc cảm, xa lánh bạn bè mặc dù người bạn cũ vẫn muốn giữ tình bạn xưa. Còn người làm ăn rất khá rất giàu có thì lại không muốn cho bạn bè tới thăm nhà lấy cớ là rất bận, ở xa v.v…, tới tỉnh thăm điện thoại là lơ là, nếu thân hơn lắm là cho hẹn ở một quán ăn trên đường đi làm về không như hồi hai mươi năm trước thì đi lại rất thường mời ăn mời uống mời đi mời lại rất thân.

Lại có trường hợp là ở xa có bạn tới thăm thì phải tiếp đón, nhưng sau đó có rất nhiều người bạn hỏi thăm quá thành ra thông thường nên cảm thấy bị tình trạng “fatigue” mệt mỏi không muốn tiếp đón nữa vì thấy là sau khi thăm hỏi xã giao vài câu là không có chuyện gì muốn nói nữa. Cũng vì có nhiều anh chị bạn nói là đi dự hội bạn họp mặt lần đầu tiên thì rất sốt sắng vì muốn gặp lại bạn bè lâu năm xa cách nay đã gặp mấy lần rồi thành nhàm không còn hứng thú nữa. Nhất là họ lại nói là họp bạn là một chuyện nhưng đi lại thăm một chỗ mà họ đã tới du lịch rồi nay lại tới lại tốn tiền tốn thì giờ họ không còn hăng hái nữa.

Bạn bè (bạn phải có “bè”), chữ ghép đôi này rất có lý nhất là khi tiêu cực hơn hết (tri kỷ) hiểu nhau như Bá Nha Tử kỳ nhưng  ngược lại cũng có loại “schadenfreude” (tiếng  Đức) là khi thấy một bạn gập một chuyện khó khăn đau đớn thì bạn lại thấy một cách thích thú sung sướng ngấm ngầm.

                                                           “Thất thập cổ lai hy”

Hiện tại thời Cô Vít 19 này, tình bạn lại gập một chông gai lớn là không dễ dàng gập mặt bạn để đấu láo hay ăn nhậu nữa: đâu còn ra quán cà phê (như ở Cali quán Cà Phê Factory ở Quận Cam, một loại như Café Catinat thời Sài gòn xa xưa).  Đã thế lại phải đeo mặt nạ, tiếng nói nghe khó khăn lại các cụ bị điếc tai ít hay nhiều  vì tuổi già mới đau chứ! (hay thấy buồn cười vì trông thấy nhau bịt mặt mũi như thuở chơi bắn súng bịt mặt cao bồi Zorro)! Mà gập nhau qua Zoom hay Facebook hay Skype cũng không còn hấp dẫn nữa!

Đó là chưa kể vụ thích hay chống Trump cũng thành một vấn đề ngấm ngầm hay bộc lộ bút chiến chửi nhau trên diễn đàn hay qua điện thoại làm chia rẽ tình bạn trầm trọng. Ngay cả trong gia đình cũng bị xào xáo vì vụ  “pro  hay con Trump” này.

Thế mới đau là khi nghĩ là những ngày sắp tới sẽ dần dần ít đi khi so với những ngày đã qua mà các bạn già cũng không tránh khỏi các lục đục đó.

Bốn mươi năm sau hay bốn mươi lăm năm sau, nhiều biến đổi, tóc đen thành muối tiêu, dần dần muối nhiều hơn tiêu trở thành bạc trắng. Đó là có phúc sống tới lão chứ không như vài bạn bè bị đau nặng, bệnh hiểm nghèo, ung thư chẳng hạn thì dần dần tự ý xa lánh bạn bè và rụng mất quy tiên mặc dù bạn bè vẫn hỏi han thăm hỏi chia sẻ. Chung qui là thời gian làm vạn vật biến đổi không chừng. Mọi sự đều như là bức tranh vân cẩu biến hóa vô chừng. Cây cối mỗi năm thay đổi lá cành, năm nay khác năm ngoái, cây già rồi sụp đổ nên sự tình bạn cũng không thể tránh khỏi, chỉ mong rằng đừng biến thành như:

             “Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du)

 

                                                                Nguyễn Dương (2020)

Phiếm luận: Hà Đông Sư Tử Rống

Định nghĩa: -Sư tử: một thú dữ Chúa tể Sơn lâm

-Hà Đông là một tỉnh bên Tàu chứ không phải Hà Đông gần Hà Nội, Việt Nam

-Rống: gầm thét.

Trong tiếng Việt, thành ngữ “Sư tử Hà Đông” nhằm ám chỉ những người thuộc phái đẹp có tính ghen tuông dữ dội.Khi nổi máu tam bành lục tặc lên, có thể làm cho các đức ông chồng kinh hồn, tán đởm, bao dũng lược của giới mày râu cũng tiêu tan thành mây khói cả (Google 14/11/2010 Naka235).

Theo thống kê không chính xác thì 90% các cặp còn có đôi có kép với nhau khi qua sáu bó thì các bà vợ vốn họ Nai, tên Vàng sinh quán ở làng Ngơ Ngác đều lấy họ là Sư, tên là Tử thuộc tỉnh Hà Đông cả, không hiểu tại sao?

Có ai biết lý do thì cho biết tại sao thành Zenana?

Các đấng mày râu nào cũng tuyên bố là lấy vợ từ thuở còn thơ, “em chả”, còn “Nai Vàng Ngơ Ngác” chứ có ai dám vỗ ngực là rước bà “Sư Tử Hà Đông” về làm vợ đâu. Nay Nai Vàng Ngơ Ngác biến thành Sư Tử Hà Đông thì cũng là tại mấy ông liền ông cả. Này nhé, mấy cô mấy bà khi còn Nai Vàng, các cô/bà còn trẻ phải sinh con đẻ cái, nuôi nấng thức khuya dạy sớm. Xin hỏi là khi bé sơ sinh khóc ban đêm ai là người phản ứng ra lo cho con ngay? Lúc đó các cô các bà là những lúc yếu nhược nhất phải tùy thuộc mấy ông, nên họ phải dùng chiến thuật nhẹ nhàng thỏ thẻ như phục tùng các “Ông Trời”.

Các ông sau khi vài phút sung sướng thì phủi tay đâu có lo cho con cái: chứ đâu có như bây giờ ở xứ Âu Tây vợ chồng đều phải chia việc giúp nuôi con cái, nào thay tã, cho con ăn mặc, đưa đón đi học hay chơi thể thao ở trường, tập đánh đàn, đá bóng, v.v… Các ông lấy cớ là phải đi làm kiếm tiền nên về nhà cáo “mệt” mà không tiếp xúc với con cái (Mon Père c’est un Étranger) hay bán cái cho thuê chị vú em.

Sau khi con cái trưởng thành ra khỏi tổ ấm gia đình, không còn ai mà để các bà dạy dỗ chỉ dẫn quát tháo lèo lái nên các bà bèn lèo lái ông chồng rồi dần dần lộ nguyên hình là cọp cái. Các bà đổ tội cho là vì thay đổi kích thích tố (hormonal changes như menopause). Đau là cũng cùng lúc đó mấy liền ông cũng bắt đầu bị thiếu testosterone nên rụng tóc, lơ thơ lông chân, sáu giờ rưỡi nhiều hơn là sáu giờ, đâu còn vạm vỡ mà thu hút phái đẹp nữa thành ra phải ở nhà ăn “cơm” đều. Cũng cùng lúc đó vào khoảng sáu bó các liền ông phần nhiều đi vào con đường mệt mỏi rồi, về hưu rồi, muốn êm cửa êm nhà, xin chữ bình an, “sai rành rành nhưng cũng phải nhận là đúng” nên nhịn nhục thành ra các bà được thể lên chân nói nhiều. Ở bên Ai cập có chữ zenana là tiếng lóng để tả cảnh mấy bà nói dai đanh đá với chồng (zenana: Egyptian slang to describe a relentless nagging wife).

Lại nữa cũng cùng lúc đó, vì mấy nường vì còn trẻ hơn mấy ông nên các cô các bà nào mà có ra ngoài đời đi làm thì họ dần dần leo lên chức vụ thâm niên chỉ huy trong sở quen ra lệnh với nhân viên dưới quyền. Về đến nhà, vì quen ra lệnh rồi, các nường ta, vốn đã làm Nội tướng, từ từ nắm chức Thủ tướng lúc nào không biết và phong những chức cho lang quân như: Bộ trưởng Bộ Đổ Rác, Bộ trưởng Bộ Chùi/Hút Bụi Nhà, Bộ truởng Bộ Giặt Giũ, Bộ trưởng Bộ Giao Thông (như đi bảo trì xe, rửa xe, tài xế đưa đón các bà), Bộ Đi Chợ, Bộ Nấu Cơm, Bộ Dọn Cơm, Bộ Rửa Bát, Bộ Cắt Cỏ và nhất là Bộ trưởng Bộ Linh Tinh không tên như giết sâu bọ, nhện gián, chuột rắn chẳng hạn (Đài Phát Thanh thì các ông không tài nào đảo chánh mà dành được chức Giám Đốc phải giơ hai tay đầu hàng) . Trong khi đó thì các ông lại cãi nhau tranh dành nhau chức Hội trưởng Hội Cheveux!

À mà báo động cho các đấng mày râu (nếu còn) biết: đừng bao giờ phong chức cho các đức liền bà là Chúa tể Sơn lâm (mặc dù rõ ràng như vậy) nhưng các bà vẫn muốn được gọi là Nai dzàng ngơ ngác. Ông nào mà vẫn dám gọi như vậy thì đời tàn rồi em ơi, vác gối ra ngủ garage là cái chắc (đó là hình phạt nhẹ nhất đó!). Cũng đừng khoe là có nhà cửa cao đất rộng có nhiều thú vật rừng như hươu nai, chim chóc, rùa rắn mà lại lỡ buột miệng có cả sư tử cơ!

Thành ra các đấng mày râu hùng dũng oai phong hét ra lửa cho lắm nhưng khi về đến nhà thì cũng ríu rít tuân lệnh đi “rửa chân” cho vợ. Hay nói văn hoa theo Kim Dung trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký (Cô Gái Đồ Long) thì Trương Vô Kỵ gác kiếm bẻ cung về nhà để “vẽ lông mắt cho người đẹp Triệu Mẫn” (nếu còn ăn “phở” được). Ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Nhưng mà xét lại kỹ thì đàn ông lấy đàn bà thì đằng nào cũng có lợi cả: như một nhà hiền triết nổi tiếng của Hy Lạp đã nói là: “nếu anh lấy được một bà vợ biết điều thì anh ta có hạnh phúc gia đình, nếu mà ngược lại thì anh trở thành một hiền triết giỏi, đằng nào cũng tốt cả”.

Ký tên,

Sô Cát Ti V.N.

Chủ Tịch (tự phong) Hội Cheveux.

Cựu Chủ Tịch (bị gán chức) Hội Chồng Chúa Vợ Tôi.

TB: ” Bắc thang lên hỏi ông Trời

         Vợ con dữ quá, ông thời tính sao?

         Ông Trời ổng nói tào lao

         Vợ mày mà dữ (hơn) vợ tao hả … trời?”

         (Nguồn: Internet)

  Tác giả giữ bản quyền: D.N.  

__,_._,___

Attachment area

Cung Thị Lan uploaded  on August 13,2020, cập nhật  November 17,2020 and December 14,2020