Tiểu sử:

 

Nhà văn Ngọc Cường tên thật là Nguyễn Tường Cường sinh năm 1947 tại Hà-Nội. Bốn năm sau theo gia đình vào Nam sinh sống . Lớn lên và đi học ở Sài-Gòn. Tình nguyện nhập ngũ khóa 8/68 Võ Bị Thủ Đức. Từng phục vụ các đơn vị  : Tiểu Đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị ( Quân Đoàn II ), Nha Báo Chí Phủ Phó Tổng Thống , Cục Tâm Lý Chiến QLVNCH.  
Sau 75, bị giam ở các Trại Tù : Trảng Lớn, Long Khánh, Long Giao, Yên Bái, Phong Quang và Vĩnh Quang.
Vượt biên và định cư ở Ohio từ năm 1981. Đã về hưu sau 25 năm làm công chức địa phương .
Lập gia đình năm 1974 và có năm con. Mất một người con năm 1979 khi đang bị giam giữ ở Vĩnh Phú ( để tưởng nhớ đứa con xấu số, đã ghép tên con là Bích-Ngọc  và tên mình thành bút hiệu Ngọc-Cường)
Từ năm 2011, đã có bài được chọn đang trên trang Quán Văn báo Người Việt và Nguyệt San Phụ Nữ Gia Đình ở Nam Cali.
Hội viên Hội Văn Bút Việt-Nam Hải Ngoại Miền Đông Hoa-Kỳ
Thành viên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật,  Nam Cali

Các tác phẩm đã xuất bản:

Bèo Giạt ( Nhà xuất bản báo Người Việt, 2014)
Hệ Lụy    (Nhà xuất bản báo Người Việt, 2016)
Bâng Khuâng ( Nhà xuất bản báo Người Việt , 2018)

Kính mời quý vị nhấn vào những tựa đề dưới đây để đọc các tác phẩm của nhà văn Ngọc Cường

Nguyễn Tường Cường

Vài hình ảnh Ra mắt tác phẩm

Hệ Lụy

của nhà văn Ngọc Cường

( Nguyễn Tường Cường)

ngày 4 tháng 6 năm 2017

tại Hội Cao Niên Virginia

 

 

Sơ Lược Về “Ba Chị Em

Tuyển tập của Ngọc Cường

Hân Hạnh Giới Thiệu Độc Giả Xa Gần

 

Hình Thức

Sách dày 200 trang do nhà Xuất Bản Báo Người-Việt in và phổ biến. Gồm 4 truyện ngắn và 5 tiểu luận về nghệ thuật. Giá bán $17.

Nội Dung

Trong suốt cuộc đời trải dài trên 70 năm, có thể như đã sống qua nhiều cảnh ngộ và lưu lạc các nơi ( từ thời chinh chiến ở quê nhà, cho đến khi qua Mỹ và đi các nơi, nhất là vùng Compiegne bên Pháp…), khi gặp gỡ bạn bè, người thân, tác giả đã bị ám ảnh bởi cuộc sống đổi thay và  kỳ diệu …và cái hoàn cảnh éo le họ đã trải qua , và từ sự băn khoăn về những mảnh đời đó, thúc dục ông viết để cống hiến, chia sẻ với mọi người, không ngoài mục đích mua vui.

Xin lấy một truyện tiêu biểu trong cuốn sách là truyện ngắn “Ba Chị Em” : có thể đây là một tự truyện ( auto biographical ) về nỗi ám ảnh mất người mẹ sớm của nhân vật chính, và sự tìm kiếm hình ảnh của bà qua hai người chị đã thay thế bà mẹ nuôi em…những thất vọng, đau buồn muốn thoát ra … cho đến khi trưởng thành.

Tiểu Luận : Viết về văn chương, và nghệ thuật, tác giả muốn nêu chú ý đến ý nghĩa đích thực của nghệ thuật là duy nhât : mua vui, giải trí ( như cụ Nguyễn Du: “Mua vui cũng được một vào trống canh”). Ngọc Cường cũng mạo muội đưa quan điểm “tác giả đã chết” ( của Rolland Barthes) hầu cống hiến độc giả…

Liên lạc mua sách:

Email tác giả : nguyentuongcuong@yahoo.com

Nhà xuất bản báo Người-Việt , nhà sách Tự Lực Nam Cali.

“Ba Chị Em” là tác phẩm thứ 4 của Ngọc Cường sau ba cuốn : “Bèo Giạt” 2014, “Hệ Lụy “2016 và “Bâng Khuâng” 2018.

Bài10-Đôi dòng về nghệ thuật

Phiếm:  Phê Bình Nghệ Thuật Và Nghệ Thuật  Phê Bình

Ngọc-Cường

LTG: Trong sinh hoạt bình thường, hai chữ phê bình được hiểu giản dị là khen hay chê, thế nhưng trong nghệ thuật, có môn phê bình, chuyên nghiên cứu về các lý thuyết phê bình, rất là phức tạp khó hiểu,nó đòi hỏi hiểu biết về ngữ học, suy luận, và cả sáng tạo. Nếu trong chúng ta, ai ai cũng đều có tiềm tàng khả năng để sáng tác, giống như một em bé 3 tuổi vẫn có thể vẽ được một bức tranh đẹp, nhưng, để trở thành một nhà  phê bình không phải là dễ, đòi hỏi nhiều thời gian học tập và nghiên cứu.Hiện nay, trên văn đàn hải ngoại, chỉ có lác đác như đếm trên đầu ngón tay vài nhà nghiên cứu như vậy. Tác giả bài viết này không có trình độ như một học giả, chỉ cố gắng mò mẫm,qua mẩu chuyện phiếm dưới đây, viết lên những suy nghĩ thô thiển, hạn hẹp, như người mù sờ voi, mong mua vui quý độc giả …

   Có lẽ quý vị, cũng như chúng tôi, trong một lúc trà dư tửu hậu, ngồi tán dóc cùng bạn bè … rồi câu chuyện đưa đẩy đến đề tài dòng nhạc phản chiến … có kẻ khen , người chê, và đang tranh cãi sôi nổi đến hồi kịch liệt, đến nỗi bầu không khí trở nên căng thẳng…và trong thân hữu, có người cắt ngang câu chuyện văn nghệ, như có ý muốn tránh va chạm, rồi lên tiếng:

 “Xin lỗi … vì tôi không hiểu gì về nhạc, nên mạo muội hỏi quý vị:  trong hằng hà sa số các văn nhân thi sĩ… anh, chị ưa thích ai nhất ?”

 Câu hỏi có vẻ giản dị, không biết quý vị nghĩ sao, nhưng chúng tôi …ngơ ngẩn trong giây lát…và như bị ai bắt bí, không biết trả lời sao! Câu hỏi này, chẳng khác nào hỏi về các món ăn. Nhưng ẩm thực, cũng như văn thơ, đều tương tự nhau, vì cả hai đều mang tính chủ quan, và mỗi người có một sở thích riêng. Hơn nữa trong cả ngàn các món ngon của lạ, rất khó chọn ra được một thứ ngon nhất, nói chi phạm vi của nghệ thuật mênh mông , bao la…

Nhưng, nếu câu hỏi được đặt ra khác đi :

“Giả dụ, bị trôi giạt , sinh sống đơn độc trên một hoang đảo … và nếu được chọn sách của một tác giả, quý vị sẽ chọn ai ?”

Và, nếu như được hỏi như thế, chúng tôi không ngần ngại trả lời:  phải là cụ Nguyễn Du của chúng ta, với tuyệt tác phẩm Truyện Kiều và thêm bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, là hai kho tàng văn chương , có đọc đi đọc lại vẫn không nhàm chán, như những kỷ niệm về mối tình đầu…

Thế rồi, tàn cuộc tranh cãi… về đến nhà, nằm suy nghĩ lại…nhận thấy rằng thơ của cụ Tố Như chứa  đựng nhiều điển tích cổ của Trung Hoa, và, với chữ nghĩa nông cạn, hiểu biết sơ sài… chúng tôi…ắt không thấu hiểu nổi tâm sự thầm kín của tác giả,  và sẽ mù mờ như kẻ đi lạc đường, và ở trên hoang đảo, biết hỏi ai đây ?

Ước gì, có mấy nhà văn đàn anh, đàn chị như : Phạm Quốc Bảo và Bùi Bích Hà, cùng có mặt trên đảo, để giúp giải nghĩa và bình thơ Kiều, chúng tôi sẽ không ngần ngại chọn Nguyễn Du là tác giả độc nhất vô nhị … cho nên, tôi đành đổi ý, và chọn một tác giả khác, và vị này có lời văn dễ hiểu, trong sáng nhưng sâu sắc, và được công nhận là “ nhà văn viết truyện ngắn hay nhất thế giới”…đó là William Somerset Maugham, một văn sĩ người Anh, ( 1874 -1965), tác giả cuốn Kiếp Người ( Of Human Bondage ), với hơn cả trăm truyện ngắn hấp dẫn . Viết rất hăng say và có công trình đồ sộ, ông là một nhà văn sung mãn và được hâm mộ nhất Thế Giới…

Chúng tôi mê văn Maugham từ khi còn nhỏ, khi được đọc qua cuốn Kiếp Người do Nguyễn Hiến dịch nên dễ dàng trả lời câu hỏi nêu trên. Đây là cuốn tự truyện về mối tình ngang trái, khó hiểu của một sinh viên y-khoa với một cô gái vừa xấu xí vừa thô lỗ ,thuộc giai cấp nghèo hèn trong xã hội.

Có thể quý độc giả cho chúng tôi là lẩm cẩm khi đặt ra câu chuyện vớ vẩn như trên. Sở dĩ câu hỏi được đặt ra với mục đích giới thiệu vấn đề chính của bài viết này: đó là lý do nào, khiến người ta ưa chuộng một sáng tác ? Trong cả ngàn văn nhân, thi  sĩ, biết chọn ai đây, đứng trước một vườn hoa, biết hái bông nào ? Do đó, vấn đề dựa vào tiêu chuẩn khách quan nào để có thể đánh giá ( phê bình) một tác phẩm?

Trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết, Nhất-Linh đề nghị ra hai tiêu chuẩn: theo ông, một áng văn hay là qua được sự thử thách của không gian và thời gian. Nếu bất cứ ai, dù ở đâu và lúc nào đọc cũng thấy hay, tất là có gía trị lâu dài.

 Sáng tác của Maugham rõ ràng đã qua 2 thử thách trên , bởi vậy, dù là người Việt, nhưng chúng tôi đã không ngần ngại chọn nhà văn người Anh này, sau khi đọc một cách thích thú một số lớn tác phẩm của ông. Văn của Maugham vừa mang tính lãng mạn và nhân hậu, vừa lôi cuốn người đọc, đưa độc giả về miền quá khứ xa xôi, và tạo cơ hội cho chúng ta lọt vào các nơi chốn xa lạ, từ Âu sang Á, y như đang sống thật trong câu chuyện của tác giả. Ông diễn tả sâu sắc tâm lý nhân vật, như hiểu thâm sâu  con người, câu chuyện sát với sự thật, như đưa người đọc đi lạc vào mê hồn trận của cuộc đời! Sống đến 91 tuổi, cuộc đời của tác giả cũng lâm ly và bi đát không kém…hơn nữa, ông có cả trăm tác phẩm xuất bản, sẽ giúp chúng tôi tiêu pha thời gian sống trên hoang đảo cô đơn !

Tuy nhiên, chúng tôi ngạc nhiên là ông không đoạt được giải Nobel về văn chương dù là một tác giả ăn khách nhất của Thế Kỷ XX? Có thể, giải thưởng đó không tương xứng với ông, và nếu được chọn, ông cũng sẽ khước từ, vì coi mọi giải thưởng là có ràng buộc, như J.P. Sartre đã làm năm 1964? Về lý do từ chối giải thưởng, Sartre nói “ một nhà văn không nên trở thành một định chế “. Tuy nhiên, có lời đồn đãi là: sau đó, Sartre muốn lãnh số tiền thưởng và bị Hội Đồng giải Nobel khước từ? Triết gia và nhà văn người Tây này có thể cao siêu về Triết Lý, nhưng lại ngây thơ về chính trị, đã tin tưởng vào sự tốt đẹp của chủ nghĩa Cộng Sản. Điển hình thuộc loại chính  trị gia salon,  Sartre thường la cà ở các quán cà-phê khu Montmartre ( với bà Simone de Beauvoir, một đồng chí, và có khi là tình nhân ), ngồi tán dóc chuyện triết lý, khạc ra những lời ca tụng chủ nghĩa Duy Vật, trong khi ( ngu si hay hèn nhát ) không lên tiếng bênh vực cho cả trăm ngàn tù nhân vô tội đang đói khổ trong các Trại tù Cộng Sản!

Theo Maugham, một nhà văn cần vượt lên trên dư luận và viết đúng sự cảm nhận của mình ( độc lập và không chịu ảnh hưởng của bất cứ ai ) ?

Không phải là một người đọc nhiều, và hiểu rộng, nhưng chúng tôi cũng xin mạo muội có nhận xét: ảnh hưởng của Maugham vượt ra ngoài nước Anh, lan tràn khắp thế giới, như văn chương là ngôn ngữ chung của loài người. Chính cả các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn của chúng ta cũng đã chịu ảnh hưởng của Maugham (và thêm Guy de Maupassant, một tác giả người Pháp 1850-1893). Chẳng thế, có sự tương đồng rất đậm nét giữa cuốn Đời Mưa Gió của Nhất-Linh viết chung với Khái-Hưng và  Of Human Bondage của Maugham… và trong nhiều tác phẩm khác, chúng tôi nhận thấy phảng phất tính lãng mạn, tình tiết éo le bất ngờ trong văn của cả ba người. Riêng Nhất Linh, trong cuốn Giòng Sông Thanh Thủy, có đoạn đã nêu đích danh Maugham trong một cảnh miêu tả một đêm trăng .

Trong một  bài tiểu luận về sáng tác (A Traveller In Romance, Uncollected Writings, 1901-1964, tr 93 ) Maugham có một lời khuyên đến những kẻ tập tành viết văn ( xin lược dịch ) như sau :

 “bạn nên viết về những điều mình biết…bởi vì , nếu viết về những thứ quý vị không biết, sẽ đưa đến lỗi lầm khôi hài…”, rồi căn dặn thêm: “ nhà văn nên viết lên sự thật như họ đã nhìn thấy, về những  điều họ biết…dù cho đó là đề tài cũ…nhưng nếu người viết có cá tính,  nhìn nó với một nhận thức riêng, vẫn gây cho độc giả sự chú ý…một tác giả có thể luôn luôn muốn ở vị trí khách quan, nhưng tâm tính, thái độ riêng của họ với đời sống, vẫn là cá biệt, và sẽ tô đẹp quan điểm của mình.”

Một khi đã yêu mến ai, sẽ dễ chịu ảnh hưởng và muốn noi gương người đó, như một người con ngoan đối với ông cha. Có lẽ chúng tôi,  cũng vì lý do hâm mộ, và thầm phục nên tôn Maugham như một vị thầy. Thế nhưng, hôm nay, chúng tôi là đứa học trò hư đã không nghe theo lời khuyên của thầy, dám cả gan viết về một đề tài mà mình  không thông suốt, hiểu biết tường tận!

Xin quý độc giả, và sư phụ (ở dưới chín suối), nghe lời biện bạch của đệ tử :

Mặc dầu không hiểu biết tường tận, để có thể viết lên một bài tham luận đăng trong sách Giáo Khoa ,nhưng  những lời phiếm luận viết ra đây là trong vòng của sự hiểu biết giới hạn của mình, và quan trọng là viết đúng với sự việc tác giả nhìn thấy, và theo nhận thức của riêng cá nhân, hy vọng cũng có chút giá trị về giải trí, không phải là học hỏi như một bài giảng của vị giáo sư.

Có lẽ điều quan trọng không phải là biết nhiều, mà là biết rõ cái mình không biết và có tính mơ mộng, sáng tạo của nghệ sĩ, như Einstein đã nói “ sức tưởng tượng đáng kể  hơn sự hiểu biết”.

Nghệ thuật xuất hiện từ khi có loài người, từ bốn chục ngàn năm trước (qua những điêu khắc bằng ngà hay các hình vẽ trong hang đá) , và từ đó, luôn có mặt bên cạnh con người, tự nhiên như bầu không khí, và ngày nay được thể hiện qua mọi vật dụng hằng ngày. Tuy vậy, từ các nhà hiền triết Hy Lạp của nền văn minh Tây Phương, và Trung Hoa cổ xưa, cho đến gần đây hơn, nhiều nhà văn, triết gia đã cố gắng, như Leon Tolstoy, mổ xẻ,suy luận về một định nghĩa cho nghệ thuật, nhưng cũng không sao hoàn chỉnh được.

Các triết gia đương đại đưa đến một kết luận, cho rằng, về căn bản, nguồn gốc của nghệ thuật là một vấn đề triết học, nên không thể nào định nghĩa rành mạch!  Để dễ cho việc nghiên cứu và bàn luận, nghệ thuật được phân chia ra theo 7 loại hình ( Kiến trúc ,điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn học, kịch nghệ và điện ảnh ), nhưng hiện nay, khi nói đến nghệ thuật ( art ) người ta thường hàm nghĩa là nghệ thuật thị giác ( hội họa, kiến trúc và điêu khắc, visual art ), còn văn học là nghệ thuật về ngôn từ , văn bản ( văn chương, literature )…

Một bài viết phê bình về nghệ thuật ( thị giác ) như hội họa chẳng hạn, có đối tượng là một bức tranh,  nhưng không thể là hội họa ( bài văn không thay thế tấm tranh được), và luôn luôn phụ thuộc vào bức họa, thế nhưng, một bài phê bình văn học trở thành một tác phẩm riêng rẽ , độc lập, như một đứa con.

Do một sáng tác độc đáo, lạ đời về một tấm ảnh chụp cái bồn đi tiểu, của Marcel Duchamp triển lãm năm 1917, đã bị phản đối cho là quá tục tĩu và không thể nào là một công trình nghệ thuật. Sau đó đưa đến nhiều tranh cãi, bàn thảo…nhưng cuối cùng, mọi người cũng phải công nhận bức ảnh chụp đó là một tác phẩm nghệ thuật.

Kết quả tranh luận đưa đến một định nghĩa được nhiều người công nhận là hoàn chỉnh nhất (đại ý):

“Nghệ thuật là công trình do con người cấu tạo từ cảm xúc, tư duy ( không phải có sẵn trong thiên nhiên như khúc gỗ hay hòn đá có hình thù đặc sắc…), và đã được tác giả cho nó danh hiệu là nghệ thuật ( art )…”

Định nghĩa mới mẻ này rất rộng rãi, nhấn mạnh đến một điểm mấu chốt: đó là nếu ai có sáng tác và coi nó là nghệ thuật, vậy nó là nghệ thuật ! ( Thí dụ: nếu tôi vẽ một vòng tròn hơi méo, và đặt tên là Méo Mó, bức tranh đó là một công trình nghệ thuật)

Không như toán học, dựa vào lý luận và chứng minh, văn chương được xem như một lời tâm sự, viết ra từ cảm xúc để mua vui ( Nguyễn Du ), giải trí là mục đích chính, tất nhiên còn nhiều chủ đích khác của tác giả ( như giáo dục, tuyên truyền.v.v… ).

Sau lời rào trước đón sau, chúng tôi xin trở lại với đầu đề của bài tiểu luận này (Phê Bình Nghệ Thuật Và Nghệ Thuật Phê Bình) và xác định mấy chữ Phê Bình Nghệ Thuật đứng trước để chỉ một ngành nghiên cứu về phê bình, còn Nghệ Thuật Phê Bình, trong đó hai từ nghệ thuật được sử dụng như một động từ, có nghĩa rộng , nói chung, ví dụ như nghệ thuật chơi cờ, nghệ thuật nấu cơm.v.v…

Theo Wikipedia Tiếng Việt, phê bình văn học (nghệ thuật về ngôn từ) được định nghĩa như sau:

“Phê bình văn học là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới.”

Ngành  phê bình văn học bắt đầu phát triển khi sách vở được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Lúc tiên khởi, một số nhà văn nhà thơ đứng ở vai trò phê bình và trở thành một thứ siêu độc giả, tự coi như họ hiểu rõ tác giả và tác phẩm để thẩm định, giản dị là khen hoặc chê một sáng tác. Có lẽ từ đó, mới có sự phân chia ra các trường phái văn học, đưa đến bút chiến, tranh cãi trên diễn đàn…

Đối tượng của phê bình là tác phẩm, và là đứa em song sinh của nghệ thuật, đi đôi với nhau như hình với bóng . Nhưng, phải chăng nhà văn vẫn có thể diễn tả một cái bóng mà không cần đả động đến cái hình.

Thường, lời phê bình đầu tiên cho một tác phẩm được ghi trong tựa đề, hoặc lời mở đầu của cuốn sách, có thể do chính tác giả hoặc người khác viết ra, mục đích giới thiệu, thường là có ý khen, cho in trước phần nội dung của văn bản và cũng có khi đặt sau văn bản, trường hợp này được gọi là lời bạt (khác với nhan đề hay đầu đề là tên đặt cho tác phẩm ). Tất nhiên : khen hay chê đều mang tính chủ quan, nên dễ sai lạc, do đó, vấn đề được đặt ra là cần có một tiêu chuẩn khách quan, như thước đo, để thẩm giá , định lượng chính trực một tác phẩm văn chương. Theo Nhất-Linh, hai tiêu chuẩn quan trọng nhất là sự thử thách của không gian và thời gian: nếu độc giả ở bất cứ nơi đâu và ở vào thời đại nào đọc vẫn thấy hay, tác phẩm đó sẽ có giá trị trường cửu, thí dụ như hai cuốn Chiến Tranh Và Hoa Bình của Tolstoy,và Đỉnh Gió Hú của Emily Bronte.

Trái lại, theo quan điểm thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo của Trung Hoa, văn học có mục đích di dưỡng tinh thần cho người viết và truyền bá tư tưởng đến người đọc, tương tự như quan điểm Duy Vật Mác-Xít, cả hai đều xem nghệ thuật có một giá trị rõ ràng, và mục đích phục vụ ( cho giai cấp vô sản) , từ đó văn học trở thành một công cụ tuyên truyền ! Muốn vượt thời gian và không gian, văn chương cần đứng ngoài đạo đức và tư tưởng và là món giải trí, mua vui thiên hạ như cụ Nguyễn Du chủ trương ! Có tác giả đi xa hơn cho văn học là môn chơi, và ở đời, chỉ có chơi là chính ! Maugham đã viết ( đại ý): “…một khi tác giả muốn đóng vai trò nhà truyền giáo hay tuyên truyền, họ không còn là một nghệ sĩ nữa…”

Từ đó, nhà nghiên cứu văn học phân ra hai quan điểm: nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh! Thực tế không thể có ranh giới giữ hai quan điểm trên, và cả hai đều là hai thái cực không có mặt trong văn học.

Chúng tôi suy đoán một cách thiển cận  ( vì không chứng minh nổi) : văn chương cần mang tính nhân bản và hướng thượng, vì con người chỉ thỏa mãn hoàn toàn khi có hành động tốt lành, hay vươn lên một lý tưởng cao đẹp ( nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử) ? Như vậy, cuối cùng phê bình lại quay về tiêu chuẩn cái đẹp như mấy triết gia Hy Lạp chủ trương từ ngàn xưa ? Ấy, ấy… như vậy, chúng ta lại trở lại cái vòng luẩn quẩn vì cái đẹp là một quan niệm chủ quan tùy theo phong hóa và thời gian!

( Các nhà phê bình văn học có đưa ra nhiều lý thuyết, lý giải sâu sắc chi ly về tiêu chuẩn phê bình, khó hiểu vượt qua trình độ của chúng tôi, và tiếc là ra ngoài phạm vi của bài viết này !)

Trong khi đó, nhà văn Tolstoy lại phủ nhận toàn bộ giá trị của phê bình nghệ thuật. Ông viết :

 “Phê bình nghệ thuật là điều phi lý và không cần thiết, vì lẽ bất cứ tác phẩm nghệ thuật đích thực nào cũng có khả năng tự biểu hiện tư duy và cảm xúc mà mọi người đều cảm nhận được… mọi sự lý giải các tư duy và cảm xúc đều là thừa, vì nghệ thuật truyền cảm xúc và trải nghiệm theo một cách mà lời nói không thể nào diễn tả lại được… giảng dạy nghệ thuật đồng nghĩa với tiêu diệt nghệ thuật, tiêu diệt cá tính của nghệ sĩ. ”.

Đi ngược với quan điểm cực đoan của Tolstoy,  Oscar Wilde ( 1854-1900) viết  “bản thân phê bình nghệ thuật cũng là một nghệ thuật, phê bình là một sự sáng tạo theo nghĩa cao cả nhất của từ đó. Phê bình thực chất vừa có tính sáng tạo lại vừa độc lập….Đối với nhà phê bình, tác phẩm nghệ thuật đơn giản chỉ là một sự gợi ý cho một tác phẩm mới của chính nhà phê bình. Tác phẩm mới này không nhất thiết phải giống với cái mà anh ta phê bình”

Chẳng khác gì, dù cho là con, nhưng khi trưởng thành, trở nên độc lập với cha mẹ và có cuộc sống và cá tính riêng , như người ta thường nói : cha mẹ sinh con, Trời sinh tính ? Như vậy, phê bình văn học và phê bình nghệ thuật vừa cần có sáng tạo, vừa đòi hỏi suy luận, và trở thành một bộ môn riêng của nghệ thuật.

Sau đây là một thí dụ về tính sáng tạo của phê bình nghệ thuật :

Vào cuối Thế Kỷ thứ XIX, một số họa sĩ Âu Châu tập trung ở Paris quyết định từ bỏ quan điểm hiện thực cố hữu (vẽ đúng như cảnh thật, sát với thiên nhiên ) thay vào đó,  chủ trương diễn tả theo nhận thức, cảm giác ( vẽ như họa sĩ cảm nhận thiên nhiên), và cho ra mắt nhiều bức họa sử dụng màu sắc sặc sỡ,ấn tượng.

Nhà báo Louis Leroy của tờ Charivari , sau khi đến xem triển lãm của những họa sĩ trong một môn phái mới này vào tháng 4 năm 1874, có viết một bài phê bình về bức “Ấn tượng, mặt trời mọc” của Claude Monet ( Impression, Soleil Levant) , in lại dưới đây, và đã chê bức tranh đó chỉ đáng là một bản phác họa, vẽ nháp, (sketch),  nhưng đã tình cờ cho khai sinh từ “trường phái ấn tượng“.

 

 

 

 

 

 

Nhờ có lời mỉa mai về “ bọn ấn tượng” (với ý chê bai) khi phê bình bức họa của Monet mà Leroy đã vô tình đặt tên cho một môn phái hội họa quan trọng và lừng danh! Trong trường hợp này, đôi khi chê vẫn có giá trị hơn lời khen tặng ?

Trong thí dụ dưới đây, là trường hợp nhận xét của người viết và phản ứng của người đọc lại khác hẳn nhau:

Đó là nhà văn Nhất-Linh đã tự phê bình, và khác với quan điểm chung, không coi trọng mấy cuốn tiểu thuyết đã tạo nên danh cho mình, như Đoạn Tuyệt, Lạnh LùngHai Vẻ Đẹp.

Ông tự đánh giá như sau : Sự hoan nghênh những truyện đó, nhất là Đoạn Tuyệt, những lời khen ngợi của các nhà phê bình, sau này đã làm cho tôi khó chịu một cách thành thật ( trích trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết của Nhất-Linh).

Còn nhiều nhà văn mới viết, và thường khi ra mắt tác phẩm lần đầu, trong bài mở đầu, hay có ý khiêm nhường, không dám tự nhận là một nhà văn, và chỉ coi mình là một người kể chuyện. Tương tự cũng có nhà phê bình văn học có ý khen một tác giả, và có lời lẽ như : “ tuy nhiên chưa là nhà văn, nhưng tác giả là một người kể chuyện tài tình ! “

Xin có hai nhận xét :

Thứ nhất : theo đúng định nghĩa (được công nhận rộng rãi : một người viết trở thành một nhà văn khi có tác phẩm được xuất bản và phổ biến), như vậy, tác giả , dù là của một tác phẩm đầu tay, tất nhiên là một nhà văn chính cống, không thể chối cãi được !

Thứ hai: không nên phân biệt vai trò của nhà văn với người kể chuyện. Theo thiển ý, mọi tác phẩm văn, thơ, đều là kể về một câu chuyện ( dùng ngôn ngữ, văn bản viết ra , để diễn tả, thay vì lời nói)… từ truyện thơ Kiều cho đến cuốn tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình, và như tất cả mọi tác phẩm văn chương khác, đều là về một câu chuyện…và cụ Nguyễn Du lẫn Leon Tolstoy đều dùng văn, thơ để kể một câu chuyện, họ cũng chỉ là những người dùng ngôn ngữ kể câu chuyện, trong khi đó, người kể chuyện , tất nhiên dùng lời nói để diễn tả .Có thể nhiều người coi nội dung của văn chương phải khác hơn là một câu chuyện, như cần chứa đựng triết lý cao siêu, khó hiểu ? Câu chuyện nào cũng chứa đựng triết lý, hay bao hàm ngụ ý, đó là tùy theo nhận thức của người đọc, và độc giả có toàn quyền suy diễn.

Hai nhận xét trên cho thấy phê bình không phải là dễ, và tuy có thể dễ hơn sáng tạo, nhưng đòi hỏi sự hiểu biết chuyên môn và suy luận.. Đến đây, lời khuyên của Maugham lại văng vẳng bên tai chúng tôi, và trở thành lời dậy dỗ chí lý : “nên viết về điều gì bạn biết”.

Đứng trên phương diện kinh tế, mọi vật dụng trên thị trường đều có giá, bao gồm cả sách văn chương được bầy bán ở hiệu sách. Đánh giá tác phẩm, phê bình văn học trở thành một nghành phục vụ , thay mặt độc giả lựa chọn sản phẩm…còn nếu cố ý khen để được trả công, nhà phê bình trở thành người viết mướn hay nhà quảng cáo!

Tất nhiên, có sự phân biệt giữa hai giá trị của một tác phẩm văn chương: giá trị về nghệ thuật và kinh tế.  Cả hai đều quan trọng, và thường đi đôi với nhau; truyện có hay, sách mới bán được. Như vậy, gián tiếp, quảng cáo cần thiết cho sự phổ biến tác phẩm và nếu thành công, sẽ là một khích lệ cho tác giả. Thế nhưng, còn nhiều nghệ sĩ ( Việt-Nam ) rất e ngại quảng cáo cho tác phẩm của mình, đôi khi còn ngại cả danh hiệu nhà văn, như ta thường nghe nhiều vị than thở, thanh minh:

 “tôi không dám tự nhận là một nhà văn…tôi chỉ viết để viết…viết chỉ là nghiệp dĩ…và tôi chỉ là người kể chuyện !”

Nghệ sĩ không nên có mặc cảm như vậy, nhất là vào thời điểm và hoàn cảnh của xã hội tư bản, nền kinh tế thị trường, khi tiền bạc có ảnh hưởng đến nhiều lãnh vực, nhất là chính trị .

Liên quan đến việc xuất bản , xin kể quý độc giả một câu chuyện :

Cách đây đã lâu, tình cờ, chúng tôi được một người bạn tặng cho một tập thơ, do một nhà thơ nổi danh từ lâu đời ( thời thập niên 50 cho đến gần đây) sáng tác. Cụ là một thiên tài xuất khẩu thành thơ, còn được mệnh danh là vị chưởng môn của thi văn đàn hải ngoại. Chúng tôi có nghe tiếng cụ từ lâu, khi còn đi lính phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà ở đường Hồng Thập Tự (cũ), ngay sát bên cạnh nơi cụ làm việc một thời gian dài.

Trao tập thơ xong , anh bạn còn tiết lộ đặc biệt về tác giả: mặc dù làm thơ rất sớm, sáng tác sung mãn, nhưng cho đến khi có tuổi, cụ vẫn chưa có một tác phẩm xuất bản. Vào cuối đời, sau khi được đàn em, thân hữu, và gia đình đề nghị và khuyến khích, cuối cùng cụ đồng ý cho in một tập thơ để đời, lưu lại cho hậu thế.

Thế nhưng, vị chưởng môn trong văn đàn của chúng ta đưa ra một điều kiện:  không được cho mang đi xuất bản, vì theo ý cụ :” thơ không phải để bán !” cho nên khi in xong, chỉ gửi tặng thân hữu. ( Trên trang bìa sau, có in đậm hai chữ : Không Bán !

Cầm tập thơ trên tay, lòng tôi bỗng ngẩn ngơ, rồi cảm thấy bâng khuâng giây lát, bởi vì: tâm tính của tác giả phảng phất như của một kẻ sĩ thời xa xăm nào đó; rồi hình ảnh ông đồ già trở lại trong trí nhớ của tôi:  

Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? ( Vũ Đình Liên ,1936)

Trái ngược với chưởng môn, tôi chỉ là một kẻ tập tành viết lách, nên sau mỗi lần cho ra mắt một tác phẩm , thường hao hức muốn có độc giả chiếu cố, và mong cho bán được dăm ba cuốn, như thế là cảm thấy vui rồi.

Câu chuyện đến đó, tưởng thế là chấm dứt…chợt gần đây, tình cờ tiếp xúc với một thứ nam của cụ, và có dịp nhắc đến tập thơ, chúng tôi tỏ ý tiếc tác phẩm  không được cho in và phổ biến, nên, mạo muội đề nghị ( biết cụ đã qui tiên ) là đem xuất bản để quần chúng có cơ hội mua thưởng thức, và anh đã trả lời ( đại ý) :” vì chỉ là một đứa con trong đại gia đình còn nhiều anh, chị em… có lẽ một ý kiến sẽ không đáng kể và khó được chấp nhận…”. ( Trao đổi với anh Phạm Hoài Bắc, cựu phóng viên Quân Đội VNCH )

Quyết định của vị chưởng môn khiến chúng tôi nghĩ đến trong văn học sử thế giới, có nhiều trường hợp tương tự, như nhiều văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, đã có ý tiêu hủy sáng tác của mình, xin đưa ra hai thí dụ:

Nhà văn Franz Kafka (1883-1924): vào cuối đời, đã để lại bản thảo (chưa xuất bản) cho hai người bạn với lời dặn dò là đốt hết sau khi ông qua đời. Nhưng một trong hai người là Max Brod, đã không theo lời dặn và đem xuất bản như thường. Và, ngày nay, những cuốn sách đó được coi như là các tuyệt tác của Kafka.

Còn họa sĩ Claude Monet (1840-1926), ở thủa hàn vi, phải chịu cảnh khó khăn , nghèo khổ, và vì không muốn tác phẩm lọt vào tay các chủ nợ nên ông tự phá hủy tranh của mình.

Tất nhiên, nên tôn trọng ý nguyện của người sáng tác, và chúng tôi có  quan điểm khác với vị chưởng môn, và tự hỏi : Một khi đã viết, là để cho có người đọc, vậy , tại sao lại giới hạn độc giả ? Giữa thân hữu và quần chúng,  có khác gì nhau ? Hơn nữa, phải chăng, sáng tác là nhằm mục đích chia xẻ và phục vụ ? Nghệ sĩ, cũng như tất cả mọi người, rồi cũng phải ra đi, còn lại chăng là những sáng tác của họ, vậy sao chưởng môn không để lại cho hậu thế chút quà vui ?

Bài viết này (dưới dạng một phiếm luận), dường như đã đưa tới thắc mắc, và tạo ra nhiều câu hỏi hơn là giải đáp về đề tài (đơn giản) là khen hay chê, và cuối bài lại đưa đến chỗ mơ hồ. Tất nhiên do lỗi tác giả không am tường về phê bình văn học và đã viết lung tung, chẳng ra đâu, vào đâu ?

Nếu phê bình nghệ thuật là một bộ môn của nghệ thuật, phần lớn dựa vào suy luận và nghiên cứu,  và muốn trở thành một nhà phê bình, rất khó khăn. Thế nhưng, ai ai cũng có thể bàn về vấn đề nghệ thuật của phê bình, như tác giả bài phiếm này.

Có lẽ tựu chung Nghệ thuật là giải trí, và không để giải quyết vấn đề nào cả, nên không có gì là cao siêu và khó hiểu  ./.

Hai Buổi Chia Tay Ở Gare du Nord

* Ngọc Cường

 

   Nhà cửa ở Mỹ rộng rãi, trông sạch sẽ như mới xây, và có vườn tược bao quanh, nhưng như mọi thứ trên đời, được cái này lại mất cái kia, vì được xây bằng vật liệu tiền chế rẻ tiền, nên so sánh với bên Tây, không bền chắc bằng, nó mong manh, dễ đổ như một căn nhà giấy !

Vốn sẵn có tính hiếu khách , người Việt tỵ nạn ở xứ Cờ-Hoa, sau khi mua được một căn nhà tương đối khang trang, rộng rãi, họ vui vẻ, hãnh diện được mời bạn bè đến chơi, đôi khi bày ra chuyện ăn nhậu…như tiện thể khoe cái dàn máy Karaoke mới sắm, rồi rủ khách phương xa ngủ lại, và coi đó như là một chuyện nhỏ trong kiếp sống tha hương .

Trái lại, ở phía bên kia bờ Đại Tây Dương,trên đất Pháp,nhất là dưới bầu trời Paris, khung cảnh có khác: thành phố này cổ kính;phố xá thường nhỏ hẹp,nhà cửa chật chội, đắt đỏ…tâm tình bà con ta có phần đổi thay: họ ít muốn nói tới chỗ ở của mình; đôi khi còn tìm cách lờ đi , như một kẻ lỡ ngoại tình không muốn nhắc đến đứa con rơi. Có thể, dân ta ở bên Tây coi căn-nhà khiêm nhường của mình thuộc về cõi riêng tư; cho nên, ngoài gia đình ra, không muốn một ai dòm ngó hay lai vãng tới. Không phải thực tâm họ muốn lạnh nhạt với đồng hương, nhưng do hoàn cảnh lâu ngày, đã thành thói quen; cũng như những hệ lụy vô hình, trói buộc con người : sống lâu năm ở đâu, dễ trở nên nạn nhân của phong tục nơi đó.

Tất nhiên, đằng sau còn có nhiều lý do khác nữa, nhưng tựu trung là do kinh tế: ở Mỹ đất đai rộng mênh mông, công ăn việc làm có nhiều, và buôn bán có phần thuận lợi, nhà cửa cũng trở nên dễ mua và rộng rãi. Đối với dân Hoa Kỳ, căn nhà là một điều kiện cho cuộc sống được hạnh phúc, một phần trong cái gọi là “Giấc Mơ Mỹ Quốc” mà họ vẫn tự hào cho nền văn hóa non trẻ( The American Dream ).

Ở Pháp, sinh hoạt đắt đỏ,và dù là cái nôi của lý tưởng cao đẹp: Tự Do, Công Bằng và Bác Ấi, nhưng người dân lại khó làm giàu , ít có cơ hội tiến thân, nhất là đối với các kẻ di dân tỵ nạn chưa thông thạo tiếng Tây. Dù cùng là gốc da trắng, bề ngoài cùng mắt xanh mũi lõ, nhưng văn hóa hai nước khác nhau, như một trời và một vực: Dân Tây lè phè, làm việc tà tà, ăn chơi lại phây phả, và ít coi trọng nhà cửa và xe cộ; trong khi đó, người Mỹ làm việc hùng hục như muốn chạy đua với cái đồng hồ,về đến nhà lo làm vườn,cắt cỏ,sửa sang cửa nẻo phòng ốc…

Như hai mặt của một đồng tiền, dân bên Tây coi trọng sự riêng tư của mình ( và kẻ khác), và để tránh cho khách rơi vào tình trang khó xử , không nỡ từ chối lời mời đến thăm nhà, phải chịu cảnh phiền toái, do chủ nhân quá hãnh diện về tệ xá của mình, nói thao thao bất tuyệt về căn nhà, rồi đưa đi thăm từng phòng, giải thích dài dòng, cốt để khoe nhà, rồi khoe thêm chút của, và đôi khi còn kèm theo chuyện khoe con cháu nữa, khách trở thành bị mời !!

Biết hoàn cảnh bên Pháp như vậy,cho nên lần này qua Paris, và cũng như mọi lần trước, Chương không ngạc nhiên khi Nguyên vẫn hẹn gặp chàng ở một tiệm ăn ngoài phố.

Dù đã qua Pháp nhiều lần, nhưng Chương chỉ biết mang máng Nguyên ở Ivry-Sur-Seine, một thị xã ngay sát Quận 13, nơi tập trung khu buôn bán, chợ búa và các tiệm ăn Á Đông.

Lần chót là cách đây hai năm, Chương qua Paris gặp lại hai người bạn là Nguyên và Khôi. Nhưng chuyến đi lần này chỉ còn có Nguyên, vì Khôi vừa mất vào cuối mùa Đông năm qua.

Bốn mươi năm trước, ba đứa quen nhau vào năm cuối Trung Học, khi ngồi chung lớp Đệ Nhất ở trường Chu Văn An.

Sau khi đậu Tú Tài, Nguyên và Khôi qua Pháp du học, còn Chương lêu bêu ở Sài-Gón rồi đi lính; từ đó ba đứa mất liên lạc: xa cách về không gian và khác nhau về hoàn cảnh; tưởng chừng họ đã quên nhau.  Chẳng khác gì các đôi tình nhân, thời gian âm thầm trôi, lặng lẽ chia cách bạn bè không luyến tiếc…

 

Nếu không có chuyến đi Pháp của Chương lần đầu cách đây mười năm, có lẽ ba đứa chẳng bao giờ có thể gặp lại nhau…Phải chăng tất cả như số mệnh do con tạo sắp xếp cả?

 Đến Paris, ngạc nhiên và bất ngờ trước vẻ đẹp lãng mạn, với không gian kỳ diệu khác hẳn bên Mỹ, và như tiếng sét ái tình, bị thu hút vào trong một thế giới khác lạ; và trong không gian huyền ảo đến nỗi Chương mê muội tất cả những gì dính líu đến thành phố mang danh là “ thành phố của ánh sáng” , hay “kinh đô của tình yêu “.

Dù rộng mênh mông và đông đúc, trên 11 triệu dân , nhưng trong giới du học sinh Việt-Nam ở Paris, cũng không bao nhiêu người và như họ quen nhau gần hết. Quan trọng là sinh viên du học vào năm nào và có khuynh hướng Quốc Gia  hay là thành phần “ Việt kiều yêu nước” !

Biết có hai người bạn học cũ đang sinh sống ở Pháp, Chương nhờ người anh tìm kiếm nên dễ dàng liên lạc lại được với Nguyên trước, rồi qua Nguyên, gặp lại Khôi.

Sau bao năm xa cách và dù trước kia cũng chẳng thân lắm, nhưng không ngờ Nguyên vui vẻ hiếu khách, chịu khó xách cái xe cà khổ, bé tí, đưa hai vợ chồng Chương và Thủy đi thăm Paris. Loại xe có bốn chỗ này nhỏ đến nỗi tài xế không cần bằng lái xe.

Sau chuyến đó, nhờ có bạn ở Paris, nên mỗi lần qua Pháp, Chương lại điện thoại cho hai người bạn đồng môn để cùng hẹn hò đưa nhau đi chơi.

Tình bạn giữa ba đứa tưởng đã đi vào quên lãng, bỗng trở lại thân thiết như thủa nào, có lẽ nhờ vào sự kỳ diệu của Paris là mẫu số chung, hay vì ba đứa  đến cái tuổi chưa hẳn già nhưng không còn trẻ, nên thường luyến tiếc dĩ vãng, thuộc loại ăn mày kỷ niệm ? Là tù nhân của quá khứ, ba đứa có thể ngồi nói chuyện cũ,  kéo dài như không bao giờ dứt; đôi khi nhắc lại nhiều lần một kỷ niệm vui mà không thấy nhàm chán hay ngại ngùng.

Có một điều lạ, khó hiểu như chuyện đời : khi kẻ ở Mỹ như Chương yêu mến Paris bao nhiêu, thì hai người dân parisien lại ghét nó bấy nhiêu. Nhất là Khôi, qua Pháp từ lâu nhưng luôn mồm chê dân Tây kiêu căng khinh người… than phiền về thành phố Paris bẩn thỉu, ô nhiễm… khiến Chương hoang mang, đâm ra nghi ngờ sự thành thật của bạn mình, như anh muốn lên tiếng cốt để được góp chuyện, vì thường Khôi chỉ lầm lì ngồi yên lặng  như pho tượng. Hay vì một lẽ thường tình : con người vốn ưa thích cái gì họ chưa có, hơn là đang có?

 

Nhờ có người anh du học sang Pháp từ nhỏ, và khi anh về hưu, bỏ Paris đắt đỏ dọn về sinh sống ở làng Jaux,  xây được một căn nhà rộng rãi để hưởng tuổi già. Sẵn có chỗ ăn chốn ở, nên những chuyến đi Tây của Chương cũng đỡ tốn kém; và như vậy, Thủy không ngại cho chồng đi chơi và ở lại lâu.

Về hưu sớm, trong khi Thủy vẫn còn tiếp tục đi làm, Chương đôi khi đi du lịch một mình. Nói là du lịch cũng không đúng lắm, Chương thường đến thăm những chỗ có người thân quen, và không quan tâm đến danh lam thắng cảnh.

Đến Paris bốn năm bận nhưng chưa lần nào Chương muốn leo lên tháp Eiffel.

Mỗi khi đi xa, Chương thích giao tiếp với người địa phương , được hòa với đồng dân bản xứ, tìm hiểu về cuộc sống của họ là điều thích thú nhất, và tự cho mình là một kẻ lãng du, đi lang thang hơn là một du khách, đi du lịch để ngắm cảnh, hoặc chụp ảnh lưu niệm, mang về treo lên tường coi như một thành tích, có ý khoe khoang những nơi đã từng đặt chân đến.

Đến Paris, ngao du phố phường như một parisien chính cống, hay ít ra có được kỷ niệm tuyệt đẹp như thi sĩ  Không Quân VNCH Cung Trầm Tưởng là lý tưởng nhất, khi ông viết lên mấy câu thơ lãng mạn về Paris:

Mùa thu Paris

Trời buốt ra đi

Hẹn em quán nhỏ

Rưng rưng rượu đỏ tràn ly…

Có lẽ hình ảnh đẹp đẽ và lãng mạn ấy chỉ có thể xẩy ra với tuổi đôi mươi và ở vào thời kỳ xa xưa nào đó, đã qua lâu rồi. Giờ đây, Paris chỉ còn lác đác mấy quán nhỏ, và thay vào đó là những tiệm ăn nhanh McDo,  và những cuộc biểu tình hàng tuần của đám áo gilê vàng ! Cảnh tượng đã đổi thay, hay chính lòng người đã chai đá?…

Đáng lẽ chưa tính đi vào tháng Tư này, và muốn chờ cuối mùa Xuân cho ấm áp mới qua Tây, nhưng vì có tin Khôi mất, và lại, có sale bất ngờ, Chương mua vé ngay và xách va-ly bay qua.

Trong lòng như mở cờ, vì được rong chơi Paris vào mùa Xuân thì còn gì đẹp bằng…Nhưng đến khi đặt chân xuống tới phi trường Charle de Gaulle , vừa bước ra ngoài, chàng hơi thất vọng vì thời tiết vẫn còn lạnh như mùa Đông chưa chịu ra đi…

 

 

Sau bữa điểm tâm kiểu Tây chính cống gồm cà-phê với bánh croissant ở nhà ông anh, Chương lấy xe buýt từ Jaux tới ga Compiègne để vào Paris.

 Trên tuyến dài 80 cây số đi mất khoảng một giờ, ngồi trong toa vắng khách, lơ đãng nhìn bên ngoài, phong cảnh cây cối xanh tươi, chứng tỏ mùa Đông vừa qua ở bên này không đến nỗi lạnh như ở Mỹ, nhất là vùng Dayton, Ohio, nơi gia đình chàng định cư từ khi vượt biển qua Mỹ, giờ này cây cối còn trụi lá và cỏ cháy vàng bên đường…

Xuống tàu ở nhà ga gare du Nord, xong phải lấy thêm hai chuyến métro, Chương leo lên ở trạm Olympiade, gần khu chợ Tăng Frères. Theo chỉ lời dẫn của Nguyên, chàng thả bộ trên phố Ivry, rồi rẽ dọc theo con hẻm nhỏ băng qua phía Choisy để tìm tiệm ăn hẹn nhau mang một cái tên ấm cúng: Quán Miền Tây.

Người bạn cho biết đó là một nhà hàng nhỏ, nằm khuất ở đầu hẻm, nhưng có đủ thứ, đặc biệt là món lẩu dê ngon nhất ở Paris.Qua điện thoại,Nguyên nhắc đi nhắc lại với Chương  “Moa phải đưa toa đến tiệm này, chủ nhân là thằng em nuôi của moa, chỉ có ở đó toa mới ăn được tô lẩu dê đặc biệt miền Tây …”Mặc dầu chưa bao giờ được thưởng thức món lẩu dê, nhưng Chương tin vào sự chọn lựa của Nguyên, vì trước kia vốn con nhà giàu ở Sài-Gòn, sành điệu ăn chơi, lại qua Pháp sớm nên có nhiều kinh nghiệm về ẩm thực của Paris.Hơn nữa, trời lạnh mà có tô lẩu nóng hổi cũng thú vị, nhất là sau hai ngày đã ăn quá nhiều, cho đến phát ngán, mấy món pa-tê và súc-xích ở nhà người anh.

Chương rảo bước trên hè phố hẹp, vắng vẻ hơn hai con đường lớn bắc ngang là Avenue d’Ivry và Avenue de Choisy, con hẻm chật chội nên không có cây hai bên đường, một bên là nhà lầu cao, còn bên kia là hàng rào trông vào khu vườn của những chung cư. Văng vẳng từ phía trong vườn có tiếng cười đùa khúc khích của trẻ con được cho ra ngoài chơi, khiến chàng cảm thấy ấm lòng trong bầu không khí se lạnh.

 

Sau khi tới phi trường ở Roissy, Chương đến ở nhà người anh ở Jaux,  một ngôi làng nhỏ cổ kính và vắng vẻ, và sau vài ngày nhỉ ngơi, chưa đi chơi đâu ngoài chạy xe một vòng qua thành phố Compiegne kế cận. Ông anh lớn tuổi, đi lại có khó khăn, nên hai anh em ở nhà nói chuyện gẫu về những kỷ niệm cũ của gia đình,như hai ông già lâu mới được gặp lại, cùng tìm về quá khứ. Là người anh cả đã góa vợ từ lâu, sống một mình trong một chung cư nhỏ kể từ khi qua Pháp; anh chỉ có thằng  con trai đã lập gia đình đi làm ở xa. Nó lấy vợ đầm nên ít về thăm bố, anh bất lực, nhưng không buồn lòng, thắc mắc gì việc này, vì có lẽ đã quen sống một mình, độc lập với con. Cũng có thể anh bắt bộc phải chấp nhận, vì nó là thằng Tây con, có lối sống theo chủ nghĩa cá nhân…Khi  Chương hỏi anh về công ăn việc làm của cháu,anh chỉ cười đáp:“Nó thông minh và giống chú hồi nhỏ..” Nhưng khi nói xong, giọng anh trầm xuống như thực tế thì anh cũng nhớ con, mà rõ ràng đành chịu cuộc sống lẻ loi,vì hòan cảnh không được ở gần cháu nội.Xem ra hai cha con anh vẫn  thương nhau, nhưng họ quen tôn trọng sự riêng tư một cách quá đáng, đối xử như hai người khách lịch lãm ! Đôi khi Chương tự hỏi tại sao giữa hai anh em của mình,cùng cha cùng mẹ,mà cuối đời hay hậu vận, như danh từ của mấy ông thầy bói, lại khác nhau như trắng và đen, ở hai phương Trời xa cách ngàn dậm ? Phải chăng đó là số mệnh của mỗi người không ai thoát ra được:Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao…

 

Dưới ánh nắng ấm áp, Chương bước đi thong thả trong lòng phơi phới khỏe khoắn, như một người mới khỏi bệnh …,và chợt nhận ra còn sớm, chàng đi chậm lại, nhưng cùng lúc thấy mình đã đi lố vì đã tới đầu bên kia đường Choisy rồi mà không thấy tiệm ăn đâu.

Theo lời chỉ của Nguyên, nhà hàng phải nằm giữa hai con đường lớn đó?

Đứng lại ở ngã ba, đông người qua lại, Chương thấy  khung cảnh ở đây hao hao giống khu Dakao xưa, khúc con đường Đinh Tiên Hoàng, khi còn mang tên là rue Albert Premier, chỗ ngang với Phan Đình Phùng, trước thời di cư 1954, thủa đó còn bờ hè rộng rãi và bóng mát của hai hàng cây cao…Đó là SàiGòn của một thời thuộc địa xưa đã xa…Bất chợt một ý tưởng thoáng trong đầu: Phải chăng Chương yêu mến Paris vì nó gợi lại hình ảnh của Sài-Gòn năm xưa?…

Bầu trời Paris sáng hôm nay trong vắt, một màu xanh ngọc bích vẫn như muôn thủa ngự trị trên cao; và không gian như bừng sáng, nhờ ánh nắng chiếu rọi xuống, xuyên qua tàng lá cây lấp lánh như những tia chớp. Tuy không còn lạnh gắt như ban sáng, lúc rời nhà nhưng hiện những cơn gió se se thổi nhẹ, tạt vào mặt cũng khiến Chương rùng mình, ớn bên gáy như còn sót lại dư âm của mùa Đông chưa chịu tan biến hẳn. Một cảm giác lâng lâng xuất hiện, khiến Chương ý thức đang sống trọn vẹn trong hiện tại và không gian chung quanh đây là một xác tín rõ rệt là mình thật sự hiện hữu, và rõ ràng đang có mặt ở Quận 13 của Paris, mà không phải là Dayton, Ohio lạnh lẽo.

Riêng bây giờ, được sống hoàn toàn cho mình, cho hiện tại, không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh và tha nhân,Chương mới có được giây phút thức tỉnh này… rồi tự hỏi: Phải chăng khoảng khắc này mình mới đang thật sự sống, hoàn toàn nhận thức hiện tại,không còn quá khứ và tương lai,thời gian như ngừng lại..,đắm mình trong một thế giới huyền ảo mơ hồ hân hoan và mãn nguyện. Rất tiếc nó đến không lâu, chỉ xẩy ra trong chốc lát và vụt qua đi…. và như một cái máy, phản ứng của cơ thể đưa Chương ngay về với thực tại của cuộc sống rối răm thường ngày?

Sau vài phút xao xuyến, và như thức giấc sau một cơn mộng đẹp, Chương quyết định bước quay trở lại  đường hẻm chàng vừa đi qua để kiếm tiệm ăn có tên Miền Tây thêm một lần nữa…Vừa lúc đó, một người đàn ông Á Đông có tuổi, đang chậm rãi và lầm lũi kéo cái túi đi chợ có bánh xe, đi ngang qua trông như bao người lạ vô danh khác trong đám đông..Dường như sáng nay là ngày đi chợ trong tuần… Ông ngước nhìn thấy Chương, cái nhìn có nét băn khoăn như cố nhớ xem chàng có phải là một người quen nào đó.. Rồi như thất vọng, ông  vội quay đầu tiếp tục bước đi. Thoáng qua, trông ông ta chẳng có gì lạ với bộ quần áo ấm trên mình đã cũ, nhưng gương mặt có vẻ thông minh, sáng sủa của những ông giáo già, về hưu…Tự nhiên Chương liên tưởng đến Khôi, vì đã có một dạo Khôi cũng ở trong một chung cư cao tầng gần đây, buổi sáng cũng kéo túi chợ như ông già này đi mua thức ăn, cô đơn trong một thành phố tất bật được mệnh danh là Kinh Đô của Ánh Sáng này…

Vài năm sau khi về hưu, Khôi đã dọn về sống ở vùng ngoại ô và chết ở đó. Cái chết của Khôi có nhiều bí ẩn:  Có thể do sơ sót quên tắt nút ga trên bếp… mà cũng có thể anh đã cố tình làm như vậy , vì không muốn sống nữa… Nhưng cuộc đời vốn phức tạp, đôi khi ngang trái như cái chết của anh: Học hành xuất sắc mà lại không thành công, cuối đời nghèo nàn và cô quạnh…Phải chăng như lá số tử vi đã tiên đoán là hậu vận của Khôi xấu? Chẳng lẽ không ai thoát ra được số mệnh, và một khi đã có tài thường đi đôi với gian truân vì “chữ tài liền với chữ tai một vần” ?

Cả ba cùng học một lớp ở Chu Văn An: Khôi học giỏi nhất, đậu hai mảnh bằng Tú Tài đều hạng Bình, và sau khi xong chứng chỉ dự bị khoa học MPC rất khó khăn ở Sài-Gòn, anh thi đỗ luôn vào cả hai trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Phú Thọ và Đại Học Sư Phạm Sài-Gòn. Đang lúc phân vân chưa biết chọn học trường nào, anh xin được học bổng của tòa Đại Sứ Ý ở Sài-Gòn sang La-Mã  du học về Hóa Học.

Cùng ngồi chung một bàn lớp Đệ Nhất B4: Chương, Nguyên và Khôi  thân nhau, cùng chia sẻ bài học, nhất là về Toán và Vật Lý. Nhà Khôi nghèo nhất trong ba đứa, nhưng Khôi luôn luôn là kẻ hiểu bài nhanh nhất và giải các bài toán bao giờ cũng xong trước hai bạn, khiến đôi khi Chương ngờ ngợ Khôi đã làm qua bài toán đó một lần rồi mà không nói cho hai bạn biết, cốt để làm tăng sự vẻ thông minh của mình!

Nguyên cũng là học sinh giỏi, đỗ hạng Bình Thứ. Chỉ có Chương là học lình xình, loại trung bình, và đậu được cái bằng Tú Tài là may mắn lắm rồi. Vào cuối thập niên 1960, Khôi xuất ngoại, rồi Nguyên cũng lên đường qua Pháp du học tự túc. Trong thâm tâm, vốn mang mặc cảm tự ty với hai người đồng môn Chu Văn An, Chương cho họ thuộc học sinh ưu tú, đã đỗ đạt rồi sau này sẽ cầm chắc chức vụ cao cấp trong chính quyền bất cứ đâu , trong nước cũng như ở ngoại quốc; và tương lai sẽ sáng lạng, trong khi bản thân chàng sẽ như thân phận con sãi ở chùa lại quét lá đa!

Ba đứa xa nhau từ đó, và sau khi đã trải qua bao gian truân của cuộc đời, Chương mới liên lạc lại được hai người bạn học cũ,  lúc cả ba đều đã quá tuổi trung niên.  Qua Mỹ trễ,  Chương không có cơ hội và điều kiện đi Pháp ngay vì còn nghèo,  bận rộn đi làm để sinh tồn, dồn hết thời giờ và sức lực chăm lo gia đình cho được an cư lạc nghiệp.

Phải đợi gần  mười năm sau, nhờ có người anh ở Pháp mua vé cho, Chương mới lần đầu được đến thăm kinh đô của ánh sáng. Từ chuyến đi đó, ngạc nhiên về vẻ đẹp lãng mạn của Paris, và cảnh êm đềm, cổ kính của làng mạc, miền quê nước Pháp, đâm mê mẩn; và từ sau đó, cứ vài năm lại  kiếm cớ qua chơi Kinh Đô Ánh Sáng .

Sau khi có công ăn việc làm, cuộc sống ổn định,  nên gặp lại hai anh bạn, Chương bớt mặc cảm tự ty, dù sao đã có tuổi, hiểu đời hơn,hay nhờ tình yêu của vợ ban cho và có mái ấm gia đình, chàng có thêm chút tự tin. Biết mình biết người hơn, Chương cũng dễ dàng chấp nhận cuộc sống và những người xung quanh, hơn lúc còn trẻ, khi là một tên lính nghèo của thời chinh chiến, có cuộc sống bấp bênh lây lất trong một xã hội bất công và rối ren…

Không biết do hoàn cảnh, hay tâm tính con người đổi thay, khi gặp bạn cũ ở Paris, Nguyên lại vui vẻ và niềm nở sốt sắng đưa Chương đi rong chơi. Thường hẹn nhau ở khu Á Đông, đến đón Chương bằng chiếc xe Renault nhỏ bé, Nguyên chở bạn đi khắp các Quận của Paris, từ những ngõ ngách đến những quán nhỏ xập xệ nhưng lãng mạn, từ khu Saint-Germains-des-Prés cho đến khu sinh viên Quartier latin …Cứ như thế, đôi ba lần sau, mỗi khi qua Pháp là như có được sự khích lệ của bạn cũ, Chương lại gặp Nguyên và Khôi.

Càng biết nhiều về Paris, Chương dần dần cảm nhận thấy  trên những con đường thơ mộng đó, không hẳn hoàn toàn chỉ có ánh sáng vui tươi, mà đôi khi vẫn tràn đầy bóng tối và nỗi u uẩn cô đơn trong tâm hồn những con dân parisiens.

 

Lần trước, cách đây hai năm, Chương gặp Khôi trong chuyến đi vào cuối Thu, thời tiết Paris bắt đầu chớm lạnh, thành phố bớt du khách, phố phường vắng hẳn đi, như đượm thêm vẻ lãng mạn,với lá vàng rơi bị gió cuốn xoáy vòng trên hè phố rồi cuộn tròn đầy bên các gốc cây…Mấy cô đầm cũng diện hơn, khoác vào người chiếc áo măng-tô dài, trên cổ quấn khăn quàng …nhưng họ bước đi rất nhanh, tiếng giầy bốt cao nện xuống vỉa hè kêu lộp cộp, nghe vội vã như mấy cô đang sợ lỗi hẹn với ai?

Mùa Thu như lộ ra cá tính của Paris: cổ kính, trưởng giả và bí ẩn như một cô gái quý phái sang trọng, nhưng kiêu sa.

Cũng như mọi lần, Nguyên xách cái xe cà khổ chở hai thằng bạn đi thăm viếng các nơi. Để dễ bề ngắm cảnh, Nguyên để Chương ngồi đằng trước. Vừa lái Nguyên vừa nói huyên thuyên, giải thích về lịch sử các danh lam thắng cảnh, lưu lóat như người hướng dẫn du lịch. Còn ở băng sau, Khôi luôn yên lặng, trầm ngâm như trong đầu anh đang tìm cách giải một bài toán rắc rối, hay anh thấy rằng không ai cần đến sự có mặt của mình.

Sau cả ngày thăm viếng tứ tung,đến chiều cả ba đều mệt mỏi, và vì có việc phải đi, Nguyên quyết định thả Chương và Khôi xuống ở Gare du Nord, rất tiện cho Chương lấy xe lửa đi Compiégne  về nhà ông anh ở làng Jaux kế cận,  còn Khôi thì bắt một chuyến xe RetR đi Sevran về căn phòng nhỏ, chỉ bằng cái closet mấy căn nhà bên Mỹ.

Xuống tới nhà ga thì trời tối, những chuyến xe lửa đi xa ra khỏi Paris, như đi Compiegne, trở nên thưa thớt. Mua vé xong, Chương mới biết phải chờ cả tiếng xe mới chạy. Thấy vậy, Khôi tình nguyện nán lại nhà ga cùng chờ với bạn vì không có việc gì phải cần về nhà sớm. Chương rủ bạn đi vô trong quán cà-phê trong nhà ga. Lúc đầu Khôi ái ngại, sợ tốn thêm tiền người bạn từ bên Mỹ sang mà đã cả ngày đi đâu cũng dành trả… nhưng rồi cũng đành chiều ý Chương : “Ừ đi thì đi…Tớ ít khi đi ra ngoài lắm, chỉ nằm nhà đọc sách thôi. “

Giữa hai người bạn của Chương ở Paris, khi xưng hô với nhau,  Nguyên thường dùng từ toa , moa của Tây; còn Khôi lại vẫn gọi bạn là cậu và xưng tớ như thủa còn học chung ở Chu Văn An.

Hai đứa bước vào quán, gọi hai ly cà-phê crème.

Ngồi vào bàn, thấy Khôi cứ nhìn quanh như có vẻ gì không thoải mái, chưa biết thực sự vì sao, Chương bèn kiếm chuyện hỏi thăm bạn: “Cậu đọc sách cả ngày không chán hả? Mà cậu thích đọc loại nào?” Như đã nghe nhiều người hỏi như vậy, Khôi trả lời nhanh: “Tớ chuyên về vật lý quantum, lượng tử, hơi khó hiểu nhưng hấp dẫn lắm với tớ…” Nói xong chàng ta cười mỉm chi một cách bí mật. Không biết gì về môn vật lý khó hiểu này, Chương đành quay sang hỏi thăm về cuộc sống của bạn: “Này Khôi. Tớ còn nhớ là lúc du học, cậu có học bổng đi Ý mà cớ sao sau cậu lại qua ở Paris vậy?”

Vừa lúc ấy,người phục vụ mang cà-phê ra. Không trả lời Chương ngay, Khôi thư thả bỏ thêm đường vô tách, khuấy lên rồi đưa lên môi nhấp một ngụm… có khuôn mặt chữ điền, tóc luôn húi cao như nhà binh, Khôi toát ra vẻ thông minh lanh lợi, nhưng đôi mắt như không có hồn: khi cười chỉ ở miệng, còn cặp mắt thì vẫn lặng lờ không chút thay đổi. Dường như ít chú ý đến bề ngoài, quần áo anh lúc nào cũng xốc xếch như mặc không đúng size , mượn tạm của ai. Bề ngòai trông như một anh thất nghiệp nghèo nàn nhưng Khôi vốn tính tình hiền lành, không thể hại đến ai nếu có gặp ở ngoài đường, có lẽ cũng do cái dáng mảnh khảnh và ốm yếu…

Sau vài ngụm cà-phê, và như bắt buộc phải trả lời người bạn, Khôi nói nhanh: “Ồ…cái chuyện xa xưa ấy mà.Có gì đâu, học bổng của bọn Ý nó bắt tớ học về hóa học, mà tớ chỉ thích vật-lý. Sau hai năm học ở Rome, chán quá nên sẵn có dịp qua thăm Nguyên ở Paris về, thấy giáo dục Đại Hoc bên Tây hay hơn, tớ bỏ qua đây …Thế là arriverderci Roma luôn!” Nghe Khôi giải thích như có cái gì không ổn: Bỏ học bổng của chính phủ Ý, một thứ học bổng quý giá mà bao sinh viên trong nước lúc ấy mơ mà không có được… Chương đâm nghi Khôi đã không nói hẳn sự thật. Biết tính người bạn vốn ít nói, kín đáo, không muốn tỏ lời tâm sự cùng người khác,Chương không hỏi thêm nữa,chỉ ngồi yên lặng,như giữa hai  người có sự cách biệt của một bức tường vô hình vừa đang chắn ngang…Nhưng,câu nói của Khôi bằng tiếng Ý có nghĩa giã từ La Mã mới thốt lên,khiến Chương liên tưởng ngay đến câu chuyện tình buồn trong cuốn phim cũ với bản nhạc mang cùng tên như vậy…Hay chính cũng là câu chuyện tình dở dang của Khôi?

Vốn có tính khép kín, nên cuộc đối thoại với Khôi như bế tắc, sau đó, Chương không còn nhớ rõ là hai người có nói thêm với nhau gì nữa, hay chỉ còn những lời hỏi thăm xã giao thông thường, nhạt nhẽo…Đến giờ phải đi, vội đứng lên, cả hai như thoát nạn, không muốn kéo dài thêm sự yên lặng vô duyên…

Tiễn bạn tới bến xe hỏa, bắt tay từ giã Chương, Khôi vội vã bước đi ra phía cầu thang  xuống tầng dưới, nơi có các bến métro…Dáng đi lắc lư, đầu cúi xuống , Khôi khuất dạng sau đám đông…

Đó là hình ảnh cuối cùng của Khôi trong trí nhớ…

Hôm nay, Chương băn khoăn thắc mắc về cái chết của người bạn thông minh: có dư điều kiện để có một cuộc đời yên ổn và sung túc như nhiều dân du học bên Pháp, mà sao cuối đời Khôi lại sống bất ổn khó khăn đến độ tự tìm đến cái chết?

Lúc còn trẻ, cho tự tử là một hành động yếu đuối, bệnh hoạn của những kẻ sợ sống, chạy trốn nghịch cảnh , hoặc đó là phản ứng bốc đồng trong lúc khủng hoảng của những kẻ tâm thần, nhưng gần đây, Chương nhận ra tự tử là làm chủ được định mệnh, của cuộc sống, trong đó bao gồm cái chết, và quan trọng hơn cả là cần phải  can đảm mới thực hiện được. Đã nhiều lần có ý nghĩ tự tử, nhưng xem ra cũng chỉ dám để cho ý nghĩ thoáng qua trong đầu, Chương chưa bao giờ bị đưa đẩy đi đến chỗ thực hiện, có lẽ vì bản năng sinh tồn mãnh liệt, hoặc do hèn nhát không chừng?…Có lẽ trên thế gian, không ai là không có một lần nghĩ đến tự hủy mình, nhưng từ tư tưởng sang đến hành động, dường như cách biệt nhau một thời gian lâu dài như vô tận, và không gian cũng khác hẳn nhau ,như tỉnh với cơn mơ vậy!

 

Đang rảo bước [ Và đúng như trong nhiều hoàn cảnh hàng ngày trong cuộc sống – khi cố tìm vật gì thì chẳng thấy, và khi không để ý đến, lại tự dưng kiếm ra ], Chương nhìn thấy bảng tên của nhà hàng. Chàng thầm nghĩ, có lẽ lúc nẫy mình đã không chú tâm để thấy tấm bảng hiệu quá nhỏ, lại sơn một màu tối… Hơn nữa, mặt tiền của tiệm ăn chỉ chiếm một căn nhỏ, dễ lẫn vào các căn nhà khác..Hay là vì không gian diễm lệ của mùa Xuân nơi đây đã thu hút mất tâm hồn mình?

Khi Chương đẩy cửa bước vào trong tiệm ăn, đúng lúc đó, Phát, người chủ quán Miền Tây, đang đứng quan sát nhìn quanh để đôn đốc nhân viên phục dịch và trong lòng hân hoan khi thấy mới chớm trưa của một ngày trong tuần mà bên trong đã đông khách: Họ ngồi chiếm gần hết mấy bàn ăn của căn phòng nhỏ.

Tiệm ăn đang ồn ào cười nói, và xực mùi thức ăn đặc biệt Á Đông như làm tăng thêm sự ấm áp  ngày đầu Xuân của một Paris lạnh lẽo. Thấy Chương mở cửa bước vào, do linh tính bén nhậy Phát đoán ra ngay là người bạn của Nguyên, bèn đến gần chào đón:- Ông ở Mỹ qua phải không ? Mời ông vào đây ngồi.

Vừa nói Phát vừa chỉ tay vào trong, rồi nói thêm:-Anh Nguyên thích bàn trong góc này thôi.

Đã đứng tuổi, Phát trông trắng trẻo như một người ít khi ra nắng, gốc người Hoa nhưng nói tiếng Việt chuẩn, một giọng dân Miền Tây đặc sệt, hơi quê mùa và thường đồng hóa với giản dị, nếu không khác biệt cách ăn mặc thì rất khó đoán ra ông ta người Việt thuần túy hay có gốc Hoa.

Vẫn tự hào về nhận xét tinh vi đáng giá người lạ của mình, có lẽ là do từng sống như kẻ bên lề xã hội, Phát dễ trở nên nhậy cảm với tha nhân.

Lúng túng, và hơi ngạc nhiên,Chương đáp lại:

-Ủa sao ông biết tôi vừa bên Mỹ qua, và lại là bạn anh Nguyên nữa?

-Trông cách ăn mặc, đi đôi giầy Nike này thường là khách Mỹ,.. Hơn nữa, anh Nguyên mới téléphone nói sẽ đến trễ một chút vì có con chim chết sáng nay…Ổng mê chơi chim lắm. Cái apartement nhỏ xíu mà chứa cả chục lồng chim!

Vừa nói, Phát với cái menu trên quầy đưa mời Chương :- Ông uống trà chờ ông Nguyên nhe?

Nói xong, như bận rộn, không chờ cho Chương trả lời, Phát vội vàng đi ra sau bếp.

Ngồi xuống ở một góc bàn, với tay mở thực đơn ra nhưng chưa vội đọc, Chương ngước mắt đảo nhìn quanh tiệm ăn :Đa số khách là dân Tây, chỉ có bàn kế bên mình đây là có ba cô gái người Việt đang đọc thực đơn, tiếng một cô nói vang qua :“Tao đói quá,kêu nhanh nghe tụi bay..Gọi một con gà đen nhe…”

Nghe đến “gà đen”, Chương liên tưởng đến món gà ác hầm của người Hoa, một món mà chàng không thích vì mùi vị thuốc Bắc và cái màu đen trông liên tưởng đến thứ thịt gà bị hư. Chàng để menu xuống và chợt nhớ tới lời ông chủ tiệm về con chim của Nguyên, đặc biệt là ông này còn biết chỗ apartment của Nguyên ở:  “Có lẽ ông này thân với Nguyên chăng? Mình là bạn học từ thời Trung Học mà còn chưa biết rõ Nguyên ở đâu, mà ông này lại biết. Chắc hắn có liên hệ gì với bạn của mình… ” Chương nghĩ thầm rồi định trong bụng sẽ hỏi chuyện ông ta…Không rõ  sao Chương cứ đinh ninh ông ta là chủ nhà hàng, có lẽ vì thấy ông ta tiếp khách và tính tiền, nhưng cũng có thể Chương lầm? Thường, theo kinh nghiệm sống, nhận xét đầu tiên của chàng về ai vẫn thường đúng, ít khi sai.Cũng có thể Chương chỉ nhớ những lúc đoán trúng, và như trí nhớ cũng được chọn lọc để tự đánh lừa chính mình chăng?

Từ bếp đi ra, trên tay cầm bình trà và hai tách màu trắng, Phát để lên bàn:

– Xin chờ một chút cho trà ngấm…Ông qua Pháp chơi được bao lâu? Bên Mỹ ông ở Cali hả ?

Biết ông ta chỉ hỏi cho có lệ, như đã hỏi bao khách hàng khác, Chương đáp:

– Không, tôi ở tiểu bang Ohio.

Phát có khuôn mặt thanh tú, đôi mắt nhỏ nhưng đen và sáng, cái mũi vừa phải đều đặn trên khuôn mặt chữ điền nam tính và thông minh. Đặc biệt cách ăn vận sạch sẽ: áo sơ mi màu sáng có sọc ngang dài thời trang của người Hoa, trông gọn gàng như một công chức cũ, nhìn Phát không có vẻ như các mấy ông chủ tiệm ăn Á Đông, thường xốc xếch hay lem luốc như vừa ở trong bếp nấu nướng đi ra. 

Một cách xã giao, Phát hỏi tiếp:

-Chỗ ông ở có nhiều người Việt không ?

Chương cũng trả lời cho qua :

-Không, ít lắm…

Thấy một cô giơ tay rồi liếc nhìn như tìm kiếm, Phát đến chỗ bàn mấy cô Việt-Nam lấy order…xong xuôi nhanh nhẹn đi vào bếp …

Ngồi nơi bàn trong góc,nhìn sinh hoạt của tiệm ăn,Chương thấy sự khác biệt: Bên Mỹ nhà hàng thường rộng rãi và khang trang hơn; bàn ghế ở đây nhỏ và kê sát nhau, khách ngồi nghe và thấy rõ bàn bên cạnh ăn gì và nói gì…

 Một lát sau, Phát đi ra , trên tay bưng mấy lon nước ngọt để trên bàn cho mấy cô gái. Chương để ý thấy đó là các lon coca, loại nước ngọt mà đã lâu lắm chàng không đụng đến.

Có lẽ đã rảnh tay, muốn tiếp chuyện với Chương, Phát mở lời tâm sự:

– Ông ở bên Mỹ là may mắn, chứ tụi tôi bên này làm ăn khó khăn lắm.Ở đây chỉ có người già là sướng hơn bên Mỹ,có y-tá đến nhà chăm sóc, và có cả người dọn dẹp, nấu nướng, chính phủ trả hết…nhưng mà cũng là do tiền thuế của dân thôi, như bọn tôi buôn bán đóng đủ loại thuế, mệt nghỉ. 

Nghe nói đến sự so sánh giữa hai nước, Chương không muốn ý kiến của mình có thể thành tranh cãi, bèn đáp:

– Riêng tôi thích cuộc sống bên Tây hơn. Bên Mỹ làm việc mệt quá, ngoài ra tụi tư bản bóc lột cũng dữ lắm, dân lao động là khổ thôi. Hơn nữa, đồ ăn bên này ngon hơn ở Mỹ nhiều…

Thấy cửa tiệm đông khách , nhất là vào một ngày trong tuần, Chương nói có ý khen:

– Ngày thường mà tiệm đông khách quá…Ông là chủ nhà hàng phải không ?

 Nở nụ cười tươi,Phát đáp:

– Đúng rồi, tôi mở được hai năm nay. Tiệm cũng đông khách, nhưng thuế cao nên cũng đủ sống thôi. Bên này khó làm giàu, không như bên Cali. Tôi có người bà con làm móng tay bên đó mà có khá tiền , mua mấy cái nhà, mỗi cái giá cả triệu đô…

Nghe nói, Chương nghĩ đúng: Cũng mới đi qua San Jose về, chàng để ý là trong số bạn bè, nhà của họ giá cũng cả triệu, không có nhà nào rẻ hơn, như vậy thì họ cũng là triệu phú rồi còn gì ? Chả bù ở Ohio, nhà cửa chỉ vài trăm ngàn là cao ráo và rộng rãi…

Miền Tây là một nhà hàng nhỏ, khoảng 7, 8 bàn mà giờ đây chỉ còn lại một bàn trống. Anh phục vụ người Á Đông đang bưng thức ăn ra cho khách. Mấy cô gái Việt ăn uống ngon lành và nói chuyện luyên thuyên không ngừng: họ dư thừa sức lực và tràn đầy nhựa sống, như mấy cô  con gái 17 bẻ gẫy sừng trâu ? Nhìn họ, Chương nghĩ thầm “Ai nói họ là phái yếu được, ăn uống dữ tợn như mấy con hổ cái!” Nghe giọng tiếng Bắc của các cô vẳng qua, nhưng khác hẳn giọng Hà-Nội của người di cư 54, Chương đoán họ là các tiểu thư con ông cháu cha,hay đại gia hiện ở trong nước được qua đây du học(?)

Nhận thấy Phát vẫn đứng cạnh bàn, không có vẻ bận, Chương gạ chuyện :

– Xin cho hỏi anh tên là gì, và là bạn Nguyên lâu chưa?

 Với cử chỉ thân thiện, Phát kéo ghế ngồi xuống bên góc đầu bàn, trả lời :

– Tôi tên Phát, khi mới qua Tây có đi làm nhà hàng của ông Nguyên, tôi nghĩ mình như đàn em dưới trướng của ổng…Ông Nguyên khó tính nhưng tốt bụng, mới quen không biết như vậy đâu, chơi lâu rồi mới khám phá hiểu ra điều đó, ổng kín đáo lắm…

Nghe Phát bật ngờ thổ lộ về Nguyên mà Chương chưa hề biết, khiến chàng đâm ra tò mò,muốn dò hỏi thêm, nhưng lại nghĩ thầm là có lẽ nên thăm hỏi về nhà hàng đã  rồi sẽ tùy câu chuyện đưa đẩy mà dò hỏi về người bạn mình sau, như vậy sẽ khéo léo hơn…Bỗng Chương nhớ đến lời Thủy dặn dò mỗi khi đi đâu một mình…Như những bà vợ tự coi là đảm đang và tính toán giỏi, Thủy luôn góp ý chồng về cả lời ăn tiếng nói khi giao thiệp, lẫn vấn đề mua bán, nhất là với người Việt ở Cali.Chương đã từng bị lừa khi đi mua hàng bên đó, vì không biết trả giá nên cứ hay bị mua hớ. Thủy tỏ ra còn bực mình hơn chính nàng bị hớ, như kẻ chơi bài mà chược đang chờ ván mủn cun thì đột nhiên bị ù phỗng tay trên.

  •  

 

Xe ngừng ở trạm Porte de Choisy, Nguyên cố lách qua đám khách đang đứng đông nghẹt để bước ra khỏi tramway– loại xe điện chạy trên mặt đất giống như ở Hà-Nội, nhưng có nhiều toa hơn nên trông y hệt chiếc xe lửa, nhưng chỉ chạy chậm chạp trong vòng thành phố Paris-.

Xuống tới đường, chàng rảo bước hướng về khu chợ Việt-Nam để đến Quán Miền Tây cho kịp giờ hẹn với Chương. 

Biết tính người bạn ở Mỹ rất réglo, luôn giữ lời hứa đúng giờ, làm việc gì cũng đâu ra đó: Dù ở xa tận Compiègne nhưng Chương sẽ đến đúng giờ. Biết thế nào mình cũng sẽ bị trễ nên trước khi rời nhà, Nguyên đã gọi cho Phát, người chủ tiệm để nhờ nhắn lại với Chương là cứ yên tâm ngồi chờ. Nguyên cũng không quên nhờ Phát tiếp chuyện bạn mình cho đỡ buồn…

Là người Việt gốc Hoa, gia đình Phát đã hai đời sinh sống bằng nghề buôn bán ở chợ Biên Hòa,  nhưng lại lấy vợ người Việt và là em họ của Khôi. Ông nội Phát trôi giạt tới Biên Hòa từ tỉnh Phước Kiến bên Tàu sau Đệ Nhất Thế Chiến với hai bàn tay trắng. Nghe kể lại, khi chưa có nhà cửa ông ta có đêm phải ngủ ở một trạm bán rau giữa chợ.Thế mà,nhờ thông minh và cần cù,sau này ông ta trở thành một Bang Trưởng ở Biên Hòa. Vẫn giữ nề nếp Trung Hoa, nhưng đến đời cụ thân sinh ra Phát lại cho các con đi học cả trường Tàu lẫn trường Việt. Nối gót cha, Phát làm chủ tiệm tạp hóa ngay giữa chợ. Khi Cộng Sản vào, cho bị đánh tư sản nên cuối năm 79, gia đình Phát đăng ký bán chính thức chuyến vượt biển tới đảo Galang. Sau 6 tháng ở đảo và bị từ chối đi Mỹ, thất vọng và sợ kéo dài cuộc sống bấp bênh ở trại đảo, vợ Phát viết thư nhờ Khôi bảo lãnh qua Pháp. Lúc đó Khôi cũng đang thất nghiệp lêu bêu sống ở Paris,  không đủ điều kiện bảo trợ tỵ nạn, nên cầu cứu đến Nguyên nhờ bạn làm giấy tờ bảo lãnh cho gia đình Phát. Hồi ấy, Nguyên cũng mới mở tiệm phở, đang cần người phụ việc nên sẵn sàng. Khi bảo lãnh cho qua tới Paris, Nguyên đưa Phát vào làm việc ngay cho nhà hàng. Nhanh nhẹn và thành thật, rất đáng tin cậy, Nguyên nhận Phát như một người em nuôi. Tiệm phở phát đạt, đông khách, nên trong bụng Nguyên vẫn tự coi mình nấu phở ngon nhất Paris, nhưng chỉ được vài năm thì thua lỗ. Tiệm phở đóng cửa vì lý do Nhàn, người vợ cũ đã phản bội Nguyên, chàng đã phải giao tiệm cho nhân viên quán xuyến nên tiệm trở nên bê bối, phở nấu mất ngon đi, và công tác phục dịch cũng luộm thuộm đã làm mất khách…Thật ra không rõ ai phản bội ai, có lẽ Nguyên lăng nhăng trước với mấy cô chạy bàn: đầm có, lai có và cả người Việt lẫn Miên. Câu chuyện tình của vợ chồng Nguyên khởi đầu đẹp như mơ nhưng dần dần trở nên phức tạp, chỉ còn đầy gian dối và tính toán.

Chàng vẫn tiếc là Phát lúc đó đã nghỉ làm và chạy vô Quận 16 đầu quân cho một nhà hàng Tây sang trọng. Nếu còn có Phát, Nguyên ngĩ là tiệm phở chắc vẫn tồn tại vì thằng em nuôi này ngay thẳng và đàng hoàng như phần đông người gốc Hoa…

Đi nhanh một quãng thì thấy tim mình đập mạnh và nhanh, Nguyên đành bước chậm lại, trong bụng hơi lo vì cách đây 3 tháng, Nguyên vừa bị một coup đau tim, gọi cấp cứu và phải nằm nhà thương 3 ngày để bác sĩ bỏ mấy ống thông mạch vào 2 chỗ bị nghẽn.Cố định thần cho lòng mình lắng xuống, giảm bớt cơn giao động, nhưng chàng vẫn còn giận trong bụng: ấm ức Mai, cô bạn gái, hay đúng hơn con bồ nhí, vì chính nó đã làm con chim hoàng yến yêu quý bị chết. Nguyên cho là cô ta đã quên thay nước cho chim trong mấy ngày chàng đi xuống thăm con gái ở dưới Lyon.Nghi ngờ con bé, tuy đã hứa nhưng đã không đến chung cư của Nguyên chăm sóc mới khiến con canarie hoàng yến lăn đùng ra chết sáng nay. Con chim này tuy có tuổi nhất trong năm con, nhưng cũng chưa hẳn là đã già, nó chỉ mới sáu tuổi. Mua ở Hòa Lan đúng năm năm trước, lúc nó chỉ một tuổi, là trống nên nó hót điêu luyện, có giọng thanh thót.Mỗi buổi sáng,mình nó hót bên cạnh trong khi Nguyên uống cà phê và  ngồi xem tê-lê. Sáng nay, dở tấm màn che lồng chim ra: Hỡi ôi, nó nằm bất động dưới đáy, ủ rũ yên lặng …

Ly dị đã trên mười năm, Nguyên sống một mình ở Paris. Còn Nhàn, vợ cũ, đã dọn xuống Lyon với người chồng Tây, gần gũi với đứa con gái. Nhân dịp vợ chồng Nhàn đi chơi xa, đứa con gái rủ Nguyên xuống nghỉ ngơi và phụ trông nom đứa cháu ngoại duy nhất… Tình yêu của Nguyên và Nhàn lúc mới gặp nhau say đắm nồng nàn bao nhiêu thì lúc bỏ nhau càng khô khốc và bệ rạc như kẻ thù truyền kiếp. Họ lôi những tật xấu của nhau ra bêu rếu cốt để làm nhục người kia. Nhưng thời gian tuy vô can mà cũng âm thầm xoa dịu vết thương lòng của họ. Và bây giờ thì Nguyên cảm thấy dửng dưng, dù chàng vẫn chẳng muốn gặp lại Nhàn. Đứa con gái hiểu bố, nên cũng cố tránh cho bố mẹ khỏi phải gặp nhau.

Hôm con gái lái xe đưa bố ra ga lấy xe lửa về lại Paris, Nguyên bịn rịn chia tay với đứa cháu khi thấy nó quyến luyến khóc đòi ông ngoại bế… Thoáng qua, chàng thấy ân hận, tiếc là đã vì mình mà gia đình tan nát, ảnh hưởng đến con cháu . Người đàn ông dễ lăng nhăng mà lại không dứt khoát; trong khi đó, Nguyên biết một khi Nhàn đã quyết định là không gì thay đổi nữa, như nước làm vỡ bờ rồi….Giờ đây, mỗi khi đau yếu,Nguyên tiếc không được Nhàn chăm lo cho như thủa ban đầu cùng chung sống. Tự ái vẫn mãnh liệt hơn dư âm của tình yêu. Sau khi bỏ nhau, bồ bịch với mấy cô gái sồn sồn, Nguyên chưa bao giờ tin vào mấy cô bồ nhí đó được, nhất là mấy cô gái ở Hà-Nội qua sau này, tụi này moi được tiền xong là bỏ rơi chàng ngay, không chút do dự, chúng còn tàn nhẫn hơn cả mấy cô Đầm da trắng tóc vàng sợi nhỏ! Ít ra, bọn đầm còn ngay thẳng, yêu đương thì rất nồng nàn, mà khi chán nhau họ vẫn thành thật, nói lời chia tay mặc dù chỉ lạnh lùng như một câu chuyện nói với người lạ. Nguyên không thể ngờ dân Hà -Nội, một thời được mệnh danh là dân thanh lịch của đất ngàn năm văn vật, bây giờ đã sản xuất quá nhiều thứ ma cô, lừa đảo đến như thế! Kể cả giọng nói lich lãm của người Hà Thành xưa, nay âm điệu ấy cũng đã thay đổi, khó nghe và quê mùa như dân từ một vùng dất nào khác dọn đến Hà-Nội. Gái Hà Thành nay nổi tiếng khắp thế giới nhờ tiếng chửi tục!

Muốn tạm quên chuyện chim hoàng yến, Nguyên cố tập trung suy nghĩ đến buổi hẹn hôm nay với Chương.. như một sợi giây chuyền liên hệ với nhau: Chàng nhớ lần nào có Chương qua Paris là ba đứa bạn cùng hẹn nhau đi ăn như trưa nay.Dù cái chết của Khôi gần đây không làm buồn lòng mấy, Nguyên nghĩ đó như là một giải thoát cho bạn mình: Khôi đã có một cuộc sống cô đơn và nghèo nàn, tâm tư như một người mất hồn, lúc nào cũng bị bất ổn, mà luôn luôn vất vả vì không có tiền. Đã vậy Khôi rất cứng đầu, từ chối lời khuyên hay chỉ dẫn của Nguyên nhằm giúp đỡ kiếm việc làm, cũng như tích cực xin quyền lợi của chính phủ như trợ cấp nhà ở loại HLM, tên tắt của chương trình housing của Pháp. Chỉ trông cậy vào món tiền trợ cấp thất nghiệp nhỏ nhoi sau một thời gian ngắn đi làm phụ giáo, Khôi thuê một căn studio nhỏ ở Sevran. Mấy năm gần đây, lại bị thêm bệnh phong thấp và cao máu, mà Khôi  chưa bao giờ đi khám bác sĩ để có thuốc uống. Mấy lần giục và Nguyên đã tình nguyện đến đón chở, Khôi vẫn nhất định không chịu đi khám bệnh. Không tin vào thuốc Tây, cho là tự mình chữa lấy còn hay hơn, Khôi dùng thảo dược để chữa cho mình.

Khi còn trẻ,Khôi học giỏi và thông minh nhất trong ba đứa, nhưng như trời sinh có tài hay có tật, chàng  thêm có tính kiêu ngạo. Vốn ganh tỵ từ nhỏ, Nguyên còn ghét lây cái tính tự cao tự đại của bạn mình. Bao năm chung sống ở Paris nhưng hai đứa ít gặp nhau, chỉ từ khi có Chương liên lạc lại, Nguyên mới  gặp Khôi nhiều hơn trước. Nhưng khi chứng kiến sự sa sút và nghèo khó của Khôi, Nguyên xúc động, mà không biết có thể giúp được gì hơn là lâu lâu gọi hỏi thăm, hay rủ Khôi đi ăn uống. Những khi ngồi đối diện, hai người như đang ở hai thế giới khác nhau, câu chuyện giữa họ như hai làn sóng khác tần số không tri âm được. Nguyên không thể hiểu nổi Khôi…Và chỉ đến khi Khôi chết, Chương gọi qua hỏi thăm, Nguyên mới bắt đầu tìm hiểu về quá khứ của Khôi …

 

Bỗng trông thấy Nguyên ló đầu bước vào quán, Phát lên tiếng gọi lớn :
-Anh Nguyên vào trong này nhe!

Một tay cởi khăn quàng, còn tay kia tháo mũ nỉ ra, lách qua mấy bàn ăn Nguyên bước vào phía trong, đến gần, chìa tay ra bắt Chương, nhưng không quên hỏi thăm Phát :
Bonjour Phát, khỏe không cậu ? Độ này tiệm ra sao ? 

Kéo ghế ngồi xuống, Nguyên nhìn Chương ngỏ lời :

– Xin lỗi toa , moa đến trễ vì mấy chuyện lăng nhăng ở nhà…

Nhìn cái đầu hói chỉ còn lưa thưa tóc hai bên vành tai của người bạn parisien và dáng mệt mỏi, do đi bộ hấp tấp, Chương cười đáp :

– Không có gì…Moa ngồi đây nói chuyện với ông chủ, cũng vui. Còn nhận dịp lại được biết thêm sinh hoạt bên Tây…Moa đi chơi mà, đâu có gì gấp đâu…Thăm dân cho biết sự tình là chính thôi !

Để ý thấy Nguyên ăn bận luộm thuộm,nhiều lớp áo dầy, mặc dù trời không đến nỗi lạnh lắm, Chương cho là dân bên Pháp lúc nào cũng mặc cho ấm phòng xa cần đi bộ lâu và chờ đợi xe metro hoặc xe lửa. Bên Mỹ, dù có lạnh cách mấy cũng chẳng cần, động một tý là nhảy lên xe rồi…
Đột nhiên thấy bạn như già hơn ba năm trước,Chương đoán là sau cơn bệnh và mổ, sức khỏe của Nguyên hẳn có hơi sa sút. Dù ăn mặc xuề sòa nhưng nếu để ý kỹ, quần áo của bạn vẫn là loại đắt tiền, bên Pháp gọi là “đồ marque “tức có nhãn hiệu nổi tiếng như Pierre Cardin, Lacoste, hay Gucci

Tiến đến gần, vòng tay qua bàn, Phát đưa ra tờ menu và Nguyên đỡ lấy nhưng không cần mở ra đọc,           chàng lên tiếng gọi luôn thức ăn như đã nằm lòng:  

– Toa cho ông bạn moa bên Mỹ ăn thử đĩa gà đen, rồi cho tụi moa thêm cái lẩu dê đặc biệt …Chắc cho bọn moa uống trà nóng đi nhe !

Nói xong xoa tay ra vẻ đắc chí, Nguyên cởi cái ngoài ra, quay người máng lên thành ghế, xong đưa tay gỡ kính ra, rồi rút khăn tay ở túi áo ra lau …xong đeo vào… Phát cầm lấy tấm menu rồi bước vào trong bếp.

Để có chỗ gác tay lên bàn, Nguyên đẩy cái chén và đĩa vào phía trong. sau khi đã ổn định chỗ ngồi, nhìn Chương hỏi thăm :

– Lần này qua chơi được mấy ngày, có tính đi đâu chơi ngoài Paris ra không ? Bà Thủy không đi theo lần này, toa cũng được tự do đấy nhé!

Nói xong, miệng nở nụ cười thân thiện, và khi nhếch mép, làn da quanh hai đôi mắt của chàng nhăn lại thấy rõ.  Vốn thuộc giòng giõi con nhà giàu nổi tiếng ở Sài-Gòn, dù có ăn mặc có phần xốc xếch nhưng Nguyên vẫn còn nề nếp và vẻ sang của dân có máu mặt. Có lẽ trong cử chỉ, lối ăn nói hoặc vì khuôn mặt trắng trẻo và đầy đặn, chàng có đôi mắt to đen nằm sau đôi kính cận, cân xứng với cái mũi cao và dầy. Mỗi khi nói, Nguyên vung tay lên như một ông Tây nói chuyện, hay như ông thầy đang giảng bài cho học sinh nghe…Và như cần phải nói ngay với bạn, Nguyên xuống giọng, với vẻ trang nghiêm nói :

– Số tiền hai trăm đô toa nhờ ông anh ở Compiègne đưa cho moa để phúng điếu Khôi, moa đã đưa hết cho Loan, vợ của Phát rồi. Gia đình Khôi không có ai ngoài Loan là cousine duy nhất bên này. Không có tụi nó lo đám ma, có lẽ moa chẳng biết làm sao. Hai đứa nó làm lễ cầu siêu cho Khôi trên chùa Khánh An và tro cũng để luôn trong đó. Phát nó là dân Tàu nên rành cúng kiếng và …cũng dị đoan lắm, toa nhìn coi…

 Vừa nói, Nguyên vừa chỉ xuống bàn thờ ông thần Tài đặt dưới quầy tính tiền:
– Lúc sống, Khôi chẳng tin vào đạo nào. Nó là một một thứ khoa học gia, tự coi mình như một academicien, nhưng khi chết thì xem ra cũng nương linh hồn nơi cửa Chùa!

Nói xong Nguyên lắc đầu như ra điều hoang mang, không hiểu nổi cuộc đời  và Đạo Pháp.Còn Chương lại ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên được nghe nói đến sự liên hệ của vợ Phát với Khôi. Mấy lần trước chàng qua Pháp, Nguyên không hề nhắc đến vợ chồng Phát và Loan, và bây giờ Chương mới hiểu tại sao Phát biết rõ về Nguyên như một người nhà, quen đã lâu và thân như bà con trong họ. Dân Việt ở Paris nếu cùng một phía thì có lẽ quen nhau hết, vì Cộng Đồng gốc Việt ở đây chia ra hai phe rõ rệt:  Quốc Gia và đám Việt kiều, trước kia có thêm nhãn hiệu yêu nước, nay đã lột bỏ hai chữ tuyên truyền đó.

Có vẻ như không muốn nhắc đến chuyện buồn về Khôi nữa, Nguyên hỏi Chương :

Plan của toa hôm nay làm gì?… Uổng quá, xe của moa bị hư nên không đưa toa đi đâu được…Nhưng hôm nay moa rảnh, bọn mình có thể lấy métro đi loanh quanh cũng tiện…Nếu toa thích xem tranh bọn họa sĩ impressionist , bọn mình đi Musée Quai D’Orsay, xong tạt qua khu Les Marais , của dân Do-Thái dạo phố rồi kiếm quán nhỏ ngồi uống cà-phê?

Thấy người bạn không trả lời mình, dáng như đang trầm ngâm suy nghĩ, Nguyên đoán có lẽ Chương thất vọng vì không có xe hơi  và phải đi bằng métro, ngại không nói ra? Nhưng thật ra, Chương đang thả hồn băn khoăn về cái chết của người bạn xưa, một người tuy học giỏi nhưng xấu số, cuối đời gian nan và cô đơn tại một thành phố vui nhộn nhất thế giới…Chợt liên tưởng đến vụ đau tim của Nguyên, xẩy ra cũng vào khoảng lúc Khôi mất, Chương hỏi thăm :

– Cái vụ đau tim của toa đã chữa khỏi chưa ? Ăn uống bình thường lại chứ, hay là phải kiêng, ăn uống theo régime?

 Ra vẻ triết lý và làm như không quan tâm lắm đến sức khỏe, Nguyên cười đáp:

– Sống chết có số cả, moa thà chết no, còn hơn là chết đói. Ở bên Tây mà không thưởng thức bơ sữa, pa-tê, xúc xích làm sao được toa…c’est l’ impossible !

Nói vậy, nhưng trong ánh mắt Nguyên vẫn thoáng qua nét như lo lắng ngầm, gợn buồn về tình trạng sức khỏe của mình. Đôi khi do yếu đuối, chàng tránh không nghĩ đến hoàn cảnh già nua và sa sút của chính mình, và rồi chạy trốn vào những thú vui cho quên đời : Uống rượu, ăn nhậu hay đen đỏ cờ bạc, bỏ tiền đi đua ngựa, đá gà trên Lille hoặc xuống tận Monaco thử thời vận. Khi trúng cá hoặc được bạc thì Nguyên cho là có lời, còn những lần thua đậm, thì chàng lại coi như huề, đổ lỗi tại vì gần thắng mà hóa ra thua, rồi hứa sẽ để lần sau gỡ lại…, như tự bào chữa cho hành động ăn chơi của mình. Ngoài ra, ít khi tự hối lỗi về sự tan vỡ của gia đình, trái lại Nguyên lên án Nhàn đã bỏ chồng , chạy theo tiền bạc và giàu sang của ông Tây trẻ hơn nàng. Nhưng, điểm lại, nhớ đến hình ảnh hôm từ giã con gái và cháu ngoại, chàng chợt cảm thấy ân hận, và như là lần đầu tự nhận thấy mình có lỗi: Đã gián tiếp xô đẩy Nhàn vào tay thằng Tây con. Tận trong đáy lòng, biết mình không tự chủ trước cám dỗ của mấy cô gái đẹp, và như con ngựa đã quen đường cũ, Nguyên vẫn chứng nào tật nấy…

 

Cả hai tạm ngừng nói, họ như đều trầm ngâm…Từ sau bếp,Phát đi ra, trên tay bưng đĩa đồ ăn, đến để giữa bàn: Đó là món gà đen Nguyên gọi lúc nẫy. Nhưng không phải là món gà ác hầm thuốc bắc mà chỉ là một nửa con gà rô-ti nằm trên cái đĩa hình bầu dục, chín mọng , được chặt miếng sẵn, nằm gọn ghẽ, bên cạnh là một chén nước sốt cà chua.

Chương bỗng bật hỏi :- Con gà này đâu có đen hả toa ?

 Nguyên cười đáp:- À , gà đen ở đây là gà nướng theo kiểu của người Tây đen ở Phi Châu, bên này gọi tắt là gà đen vậy thôi…

Gắp một miếng vừa phải: nhúng ngập vô chén sốt bên cạnh; xong đưa lên miệng cắn ăn thử,Chương cảm thấy da gà giòn tan dần trong miệng; thịt gà nạc mềm nhưng không khô, được nướng vừa khéo, hương vị quyện với mùi sốt cà chua đậm đà vừa ngọt vừa chua, ngon hơn gà rotisserie quay thường mua ở các chợ bên Mỹ. Có lẽ cả Nguyên và Chương đều đói, nên chỉ một chập là họ đã ăn gần hết đĩa gà đen…

Khách ra vào bắt đầu thưa dần, và tiếng ồn cũng lắng xuống hơn trước. Trong khi chờ món lẩu dê, Chương hỏi Nguyên :

– Toa có tin gì thêm về nguyên nhân cái chết của Khôi không? Hôm trước toa phôn cho moa, có nói là giấy khai tử  không ghi gì rõ nguyên nhân tử vong?

Đưa khăn ăn lên, lau qua miệng, Nguyên đáp :

– Tụi Tây không có ghi gì hết, chỉ đề là chết , mặc dầu rõ ràng là do ngạt hơi ga thoát ra từ lò bếp…Có lẽ thông thường nếu tự tử thì cũng để lại thư hay dấu hiệu nào đó. Đằng này, Khôi sống một mình, hàng xóm chung quanh không nhận có điều gì khác lạ từ ngày hôm trước đó cả…

Gắp miếng gà còn sót trên đĩa, nhai chậm chạp.., Nguyên như chợt nhớ ra điều gì, nói tiếp:

– Để moa hỏi thăm Loan, vợ Phát, xem họ biết thêm gì nữa không…Vì không có ai thân ở Paris, Khôi được vợ chồng Loan-Phát lo cho nhiều thứ. Và Loan là người được cảnh sát báo tin trước nhất, đã đến nhà xác nhận diện Khôi…

Như muốn dò hỏi thêm cho bạn, Nguyên quay người, thấy Phát đang đứng nơi cửa ra vào bếp, bèn gọi:

– Này Phát, Loan độ này có hay ra tiệm không?…Anh Chương đây cũng là bạn thân cũ, muốn hỏi thăm về cái chết của Khôi. Toa có biết thêm tin gì không ?

Bước đến gần, Phát đáp :

– Vợ em lo hết chuyện hậu sự cho anh Khôi. Nó rành chứ em không biết gì ráo trọi…Nó đang làm giấy tờ thuế ở đằng sau bu-rô, để em gọi ra chào hai anh luôn…

Nghe một người gốc Hoa gọi vợ bằng  tiếng , Chương không lấy làm lạ, mà liên tưởng đến một kỷ niệm trong quân ngũ năm xưa :

Vào khoảng năm 1970, khi được điều động tạm thời phục vụ  một đơn vị văn phòng ở Sài-Gòn, thường là ngồi cà nhổng cả ngày lo mấy văn thư cho một ông Trung-Tá nổi tiếng tham nhũng, Chương ngồi chung một phòng nhỏ với độ sáu bảy anh lính tà lọt dưới quyền. Một hôm , ông xếp vừa đi về sớm thì  viên Đại Tá đơn vị trưởng gọi hệ thống inter-com vào văn phòng hỏi Trung Tá đâu. Người lính đứng gần máy, nhanh nhẩu đáp: “Nó đi dzề rồi !” Sau đó im lặng và là tiếng tắt máy…Một chốc lát sau, viên sĩ quan tùy viên bước vào kêu Chương lên trình diện ông Đại-Tá gấp.

Lần đầu tiên đứng trước đơn vị trưởng, trình diện cấp bậc, tên tuổi và số quân đàng hoàng nhưng Chương lại quên đứng ở thế nghiêm để chờ lệnh, liền bị ông lớn tiếng nạt :” Anh đứng nghiêm lại! Thiếu Úy mà quên cả Quân Phong Quân Kỷ hả? Anh có biết tôi là Đại Tá Cục Trưởng không” …Sau đó, ông hỏi đứa nào dám kêu vị Trung Tá là nó vậy . Chương bèn giải thích về gốc gác anh Hạ Sĩ là người gốc Tàu không nói rành tiếng Việt…Vị Đại Tá suy nghĩ giây lát…và sau đó ông bớt giận, phẩy tay, cho chàng về.

Chương thoát nạn và hú hồn vì cả chàng lẫn anh Hạ Sĩ kia đều không bị phạt . Sau này chàng mới biết là anh lính này đã có chạy tiền để về được đơn vị ấy… Không chừng chính viên Đại Tá có dính dáng đến việc thuyên chuyển này nên đã dễ dàng bỏ qua.

 

Cánh cửa từ bếp mở: Phát ra trước nhưng đứng lại chỗ tính tiền như tiếp tục công việc. Theo sau là một người đàn bà tầm thước, trông dáng khỏe mạnh nhưng khó đoán rõ tuổi của vợ Phát, độ khỏang năm mươi. Ở cái tuổi sồn sồn này, đàn bà thường rất khó đoán chính xác được: Có thể trẻ như bốn mươi, hoặc đã cận sáu mươi mà nhiều bà trông vẫn trẻ như năm mươi không chừng . Thường ra đàn bà dáng điệu nhẹ nhàng trông dễ trẻ trung hơn dáng nặng nề. Loan không đẫy đà  mà cũng không mảnh khảnh. Nàng ăn mặc gọn gàng, quần bó sát với áo thung ngắn tay để lộ hai cánh tay tròn trịa rắn chắc, trông  bình thường không xuất sắc nhưng dễ coi, nhưng có cái mũi hơi thấp và gẫy khiến cho Loan có vẻ bình dân hơn là quý phái…Nàng tiến đến bàn của Nguyên và Chương:

Bonjour anh Nguyên !

Quay qua Chương, nàng chào :-  Bonjour anh…anh mới ở Mỹ qua chơi?

Không biết có nên bắt tay một phụ nữ người Việt chưa quen hay không, Chương chần chừ…rồi chỉ ngồi yên, gật đầu chào.

Có lẽ đã được chồng nói trước về Chương, với giọng nói của người Miền Nam, Loan tự nhiên bộc lộ tính cởi mở và ngay thẳng, trái hẳn với tiếng chanh chua của mấy cô Bắc Kỳ ngồi bàn bên cạnh. Nàng có  khuôn mặt trắng trẻo, không phấn son, khác với giới phụ nữ bên Mỹ thường khi ra đường lúc nào cũng lòe loẹt như một ca sĩ sắp lên sân khấu…Chẳng thế mà nghề làm móng tay ở Paris ế ẩm, không thịnh hành được như ở bên Mỹ…

Nguyên lên tiếng đáp lễ :-Bonjour em , anh vẫn khỏe…Giới thiệu với em, đây là anh Chương bạn học từ nhỏ của anh và anh Khôi, mới từ Ohio bên Mỹ qua chơi…  

Nhìn về hướng Loan, Chương lịch sự chào lại :- Chào chị..

Tự động kéo ghế ngồi đối diện với Nguyên, rồi quay nhìn Chương, Loan hỏi :

– Anh bên Mỹ ở Ohio là ở đâu vậy? Kỳ này qua chơi được bao lâu và có tính đi chơi xa đâu không anh?

Với giọng xã giao,Chương đáp lại :- Ohio là nơi khỉ ho cò gáy, cũng như vùng quê bên mình…À, thì chắc cũng đi loanh quanh Paris, rồi tính đi thăm Giverny, chỗ ông Monet cho biết cái vườn hoa của ông họa sĩ impressionist cuối cùng này…Biết để về Mỹ còn khoe vợ con, bè bạn… Nhưng anh Nguyên nói xe hư nên chắc lại thôi, không cần đi nữa…Ở đây, nhà hàng đông khách quá chị nhỉ . Đồ ăn nấu cũng ngon lắm. Xin gửi lời compliment pour le chef !

Chương tự dịch từ tiếng Anh qua nên chàng băn khoăn không biết có nói sai tiếng Tây hay không.
Loan mỉm cười đáp: -Cám ơn anh đã khen, dân Tây cũng thích món ăn của tiệm này lắm…

Ngồi ở đầu bàn bên kia, Nguyên tiếp tục hỏi thăm Loan :

– Mấy đứa nhỏ vẫn thường cả chứ Loan? Mà tụi nó lên Đại Học cả rồi phải  không?

Như đúng vào tâm điểm của một bà mẹ thương con, Loan hãnh diện khoe :

– Hai đứa con em đều vô trường Paris  huit. Thằng con trai nó học về informatique, còn cháu gái theo ngành Tâm Lý Học…Tụi em may mắn, hai đứa đều ngoan và dễ dậy bảo. Chứ mấy anh coi, con cháu Tây Đầm bên này ăn chơi khiếp đảm lắm.

 Nói xong, đôi mắt Loan sáng ngời đầy vẻ vui sướng.

Nguyên đưa lời khen và dọ hỏi Loan :

– Vợ chồng em đã lo chu toàn cho Khôi là tốt quá rồi…À mà tại sao anh Khôi có thể lơ đãng như vậy nhỉ. Ở bên Tây lâu rồi thì phải biết tắt ga khi nấu nướng xong chứ?

Như nhớ đến tiền phúng điếu của Chương, Loan ngỏ lời :

–  Cảm ơn hai anh đã giúp đỡ cho đám tang anh Khôi. Tội nghiệp ảnh đơn côi …Tụi em có ngỏ lời mời ảnh về ở chung nhà cho vui, nhưng mấy anh cũng biết, tính của ảnh khó khăn và rắc rối lắm…Ngay cả bồ bịch mà không có cô nào chịu đựng được! Khổng biết sao mà nói…nhưng em không nghĩ là anh ấy tự tử…vì, khi pompiers vô nhà,  trên bếp còn nồi ra-gu đang nấu mà ! Ôi bọn Tây cứ suy diễn lung tung, họ nghi ngờ cái này cái kia đủ thứ. Hơn nữa, tự tử hay không thì cũng đã chết rồi, có gì quan trọng mà thay đổi được chứ! Tài sản ảnh không có gì hết trọi, vậy mà họ cứ còn điều tra lung tung. Nếu ảnh mà có tiền trong băng thì chắc còn rắc rối lắm với tụi Tây.

Ra vẻ rành luật pháp, Nguyên nói:

– Bọn nhà giàu thì khi chết đi, con cháu tranh giành gia tài, nhà cửa, tài sản. Có khi họ lôi nhau ra tòa nhờ luật pháp giải quyết từng đồng…cho đến cái đĩa, cái bàn, cái ghế trong nhà. Nhiều khi, anh chị em đang vui vẻ, nhưng đùng một cái, cha hay mẹ chết, chỉ vì gia tài mà họ từ nhau, ghét như kẻ thù!

Vừa lúc người phục dịch mang mấy đĩa thức ăn đặt kín trên bàn …Thấy bún và rau thơm, Nguyên gắp ngay để sẵn vào đĩa…Phát chậm rãi bước ra, trên hai tay bê một lò bếp ga, tới gần bàn nói lời cảnh giác: – Nước sôi…nước sôi.

Ngó thấy chồng, Loan vội dọn chỗ trống để Phát đặt lò lên giữa bàn cái lẩu đang sôi bốc hơi.

Để cho khách tự nhiên, Loan đứng dậy kiếu từ:

Bon appétit. Mời hai anh dùng ngay cho nóng ! Lát nữa em sẽ ra nói chuyện tiếp, nhe.

Nàng vừa đứng dậy, nhưng bỗng như nhớ ra điều gì, quay lại nói :

– À anh Nguyên ơi…hôm trước em soạn đống hình cũ của anh Khôi, em có thấy một tấm hình có lẽ chụp ở Rome, chung với một cô gái Ý; đằng sau tấm hình có ghi tên Lydia. Không biết cô này có phải bạn hay bồ cũ gì của anh Khôi không vậy? Tụi em chưa hề nghe ảnh nhắc gì đến cô ta bao giờ?

Tay còn đang múc thìa lẩu xối lên bát, Nguyên trả lời :

– Anh chỉ nhớ có một cô sinh viên…Thời anh mới qua Pháp và nghe tin anh đang ở Paris, thì Khôi từ Rome qua chơi với một cô sinh viên người Ý nhưng anh quên tên rồi…

Làm như không tiện đào sâu thêm vấn đề, Loan yên lặng bước vào lại trong bếp.

Bữa cơm trưa hôm đó đáng ghi nhớ là chuyến đi Paris kỳ này trong bụng Chương mừng thầm đã được thưởng thức món lẩu dê ngon lành và đặc sắc. Đối với chàng, món ăn thường gắn liền với kỷ niệm về nơi chốn, như cứ trông thấy khoai lang, khoai mì là Chương nhớ tới thời gian tù đầy trong rừng sâu Việt-Bắc …
Trước khi về, Loan có ra chào hai người, nhưng có lẽ bận rộn công việc nhà hàng nên đã quên, không đả động gì thêm đến câu chuyện về tấm ảnh có cô bạn người Ý của Khôi.

 

  •  

 

Sau bữa ăn ở  Quán Miền Tây, Chương và Nguyên lấy métro đến thăm bảo tàng Quai D’Orsay, nằm bên bờ sông Seine.

Đi bộ lên xuống các trạm métro, dọc đường Chương cứ đòi ngừng lại ngắm cảnh, phố xá Paris. Khi tới nơi, lại vướng phải cái màn chờ đợi mua vé, chương trình đi chơi kéo dài hơn dự định… Lúc ở trong bảo tàng, đứng lại trước một bức tranh như đã quá quen thuộc vì đã được xem nhiều lần, Nguyên chỉ  lướt qua rồi dục bạn xem bức khác.Còn Chương thì hớn hở như đứa trẻ, cứ cố nán lại đứng ngắm mãi..

Bước vào phòng trưng bày “tuyệt tác phẩm” của Manet , bức tranh Điểm Tâm Trên Cỏ, Chương hồi hộp chợ đợi, lý do khi còn ở bên Mỹ, chàng vẫn ước ao được tới tận nơi để ngắm nó trực tiếp ngay trước mặt… cố chen chúc với đám đông du khách để được đến gần… khi được đứng trước mặt bức họa đang treo trên tường , ngắm trong giây lái…bỗng ngạc nhiên vì tự thấy mình lạnh lùng đến như trơ trẽn vô cảm, không có được sự rung động như lúc ở nhà ngắm nó in trên trang giấy nhỏ của mấy cuốn sách về hội họa! Tại sao vậy? Chương tự hỏi…Dường như ở nhà, trong yên tĩnh, không bị phân tâm chi phối bởi đám đông… nên chàng có thể tập trung vào bức tranh, thả hồn bay bổng trong tưởng tượng vì vậy cảm xúc mãnh liệt hơn là khi trực tiếp đứng trước nó, dù là bức họa thật…Phải chăng mơ mộng trong tưởng tượng là yếu tố quan trọng khi thưởng thức văn học và nghệ thuật ? Nếu quả thật như thế, thì cần gì phải có các nhà phê bình nghệ thuật phân tích dài dòng về bức họa, đưa ra một lô chi tiết về người họa sĩ và bức tranh, tất cả chỉ làm rối mù, khiến người thưởng ngoạn mất đi những cảm nhận thực của mình?

Viện bảo tàng Quai D’Orsay có nhiều khu vực. Lúc xem xong tầng lầu nơi trưng bày tranh của phái ấn tượng, bỗng Nguyên bước đi chậm lại, hơi thở khó khăn, mặt mày xanh rờn như tàu lá… Biết người bạn đang có vấn đề về tim, Chương bèn rủ Nguyên ngồi nghỉ ở cafeteria để uống ly nước giải khát…

Bên hai chai nước suối Perrier , họ tán chuyện gẫu với nhau, không cần ngắm tranh mà nhìn du khách ồn áo đi qua lại xung quanh. Biết bạn mình mới mổ để thông tim, Chương đề nghị ngưng chuyến đi chơi và sau khi nghỉ ngơi, cả hai nên đi về, bỏ dự định đi thăm khu les Marais.

Nhìn Chương với vẻ hơi ngại ngùng ,Nguyên nói như muốn biện minh :

– Giờ này cũng đã trễ rồi, bọn mình về là vừa. Đi thêm khu les Marais cũng không kịp cho toa về  lại Compiègne …Đến Compiègne rồi , toa còn phải lấy thêm chuyến buýt nữa mới về tới nhà …Thôi để dịp khác, khi nào xe moa sửa xong thì mình đi vậy…

Từ Quai D’Orsay, thay vì có thể lấy métro đi thẳng về nhà ở  Ivry-Sur-Seine, Nguyên tình nguyện đi với Chương cho tới nhà ga Gare du Nord, và, như lần có Khôi trước đây, chuyến đi chơi ở Paris cũng lại chia tay ở nhà ga này!

Tới nhà ga, cũng như hai năm trước, mua vé xong, Chương mới biết chuyến đi Compiègne không chạy ngay. Để cho người bạn bên Mỹ đỡ buồn, Nguyên ngỏ ý muốn ở lại cùng chờ …Và rồi hai người đưa nhau vào quán cà-phê… Nhưng lần này họ ngồi vào cái bàn khác, khuất ở tận trong cùng .

Ngồi xuống ghế, Nguyên cởi chiếc nón nỉ ra, cái đầu hói như làm nhô ra cái trán cao và rộng. Quay người lột  tiếp chiếc áo ngoài dầy, mắc lên thành ghế, chàng thở phào nhẹ nhõm như vừa thoát khỏi cuộc đi bộ đầy mệt mỏi. Ngoắc người phục vụ đến gần, cả hai cùng kêu cà phê à la crème.

Chợt nhớ tới Khôi, tò mò Chương hỏi Nguyên :

– Cách đây hai năm, khi lần chót moa qua Pháp – chắc toa không còn nhớ – bữa đó toa cũng đưa moa đi chơi Paris, lần đó mình đi xe hơi, đến chiều toa thả moa và Khôi xuống đây để lấy xe lửa về. Hai đứa moa cũng vô quán này ngồi uống cà-phê…Mà này Nguyên : hồi trưa cô vợ Phát có nói về tấm hình cô gái Ý…Có phải đó là bồ của Khôi không vậy?
Ngả người trên ghế, dáng thoải mái, ung dung tự nhiên như đây là nơi hàng quán là chốn quen thuộc của mình, khác hẳn Khôi ra phố lúc nào cũng như lật đật chạy trốn đám đông, Nguyên chậm rãi trả lời:

– Moa mới nhớ ra rồi…Chuyện xảy ra quá lâu, cũng cả hơn ba, bốn chục năm rồi còn gì …Khi ấy moa mới qua Paris, ở cái appartement nhỏ xíu thuộc Quận 5,dạo đó làm gì có khu chợ Quận 13 như bây giờ, chỗ Tăng Frères toàn là cửa hàng của bọn Rệp không thôi, sau này Ba Tàu và người Việt mới dọn đến và dần dà đẩy được tụi Rệp đi…Biết tin moa qua đây du học, từ Rome Khôi đã viết thư hỏi thăm nên hắn biết địa chỉ và… quả thật, vào một ngày đẹp trời, mùa Hè năm ấy; anh chàng xuất hiện, không đi một mình mà kéo theo một cô signorina , giới thiệu nàng tên là Lydia, nữ sinh viên môn Mỹ Thuật ở Rome. Cô này trông chẳng đẹp gì nhưng rất vui tính, lúc nào cũng nói chuyện líu lo như mấy con chim hoàng yến của moa…Moa có cảm tưởng nàng là loại femme fatale đó mà, cô ta nói tiếng Pháp ít thôi,  nên khi gặp nhau,câu chuyện giữa ba đứa thật nực cười: Trong khi hai đứa tụi nó nói với nhau bằng tiếng Ý;thì moa với Khôi tất nhiên xài tiếng Việt; còn moa với cô nàng lại dùng tiếng Tây! Hình như tụi nó ở chơi có vài ngày, lúc ấy moa thấy anh chàng Khôi nhà ta hớn hở, vui hẳn lên…Nhưng moa không biết có nên mừng cho Khôi không, vì một đêm moa thấy Khôi về nhà một mình, hỏi cô bạn đâu, chàng ta buồn rầu đáp là “không biết !” rồi nằm vật ra trên giường…Vài ngày sau đó thì cả hai tụi nó biến mất, họ kéo nhau về Rome…

Nguyên ngừng nói, nâng ly cà phê lên uống…Muốn được nghe tiếp tục, Chương hỏi:

– Toa nói cô gái Ý là loại femme fatale, là nghĩa gì?

 Uống thêm một ngụm cà phê, Nguyên trả lời nhỏ nhẹ như thì thầm:

–  Cô nàng trông không đẹp lắm nhưng có lẽ do tính tình cởi mở và..nàng hút thuốc lá như cái ống khói nhà máy, còn uống rượu như hũ chìm. Moa có cảm tưởng nàng là dân ăn chơi, thích hưởng thụ, không phải là loại thùy mị, gia giáo để cho Khôi làm vợ…Nhưng biết làm sao được, anh chàng đã mê rồi…Le coeur as ses raisons que la raison ne connait point mà toa !

Như không thể chờ lâu hơn, Chương đứng dậy nói :

– Toa chờ cho moa một chút nhe,  moa cần đi toilette …mà ở đâu vậy hả toa?

Thò tay vào túi áo ngoài, móc ra mấy đồng bạc cắc Euro , Nguyên vừa đưa ra, vừa chỉ đường:
– Toa cầm mấy đồng xu này trả tiền… Đi ra đây, quẹo bên trái xong đi xuống cầu thang, dưới nhà ở xế  bên trái, toa sẽ thấy toilette… Nhưng phải trả tiền đó, không như bên Mỹ đâu cái gì cũng free !

Chương với tay nắm lấy tiền rồi bước ra khỏi quán… Ngồi yên, Nguyên đảo mắt liếc qua bàn bên, quan sát gia đình ông Tây, bà Đầm đang ngồi bên cạnh, và tự nhiên chàng chú ý đến thằng bé, có lẽ độ 2 hay 3 tuổi, cũng trạc đứa cháu ngoại, đang được bà mẹ đút thức ăn từ cái hũ thủy tinh nhỏ, như chai yaourt. Nó trông kháu khỉnh, đôi mắt đen thật to như lai Bắc Phi hay Trung Đông. Hình ảnh thằng nhỏ ngây thơ mong manh như bọt biển trên cát, khiến Nguyên liên tưởng ngay đến thằng cháu ngoại mình ở Lyon, rồi động lòng thương nhớ cháu một cách xao xuyến,và thấy lòng trùng xuống đầy mệt mỏi, đượm chút bâng khuâng…Bỗng chàng thèm khung cảnh êm ấm của họ..,. nhưng không dám nghĩ đến thêm nữa, sợ sẽ phải tự trách mình, ân hận là đã làm đổ vỡ gia đình, mất đi một thời êm đẹp, hạnh phúc…Và như để cố quên dĩ vãng đau buồn đã qua, Nguyên nhớ đến câu hỏi của Chương về Khôi, rồi nhẹ nhàng và tự nhiên như đám mây bay, kỷ niệm của ngày tháng còn là sinh viên, của hơn ba bốn chục năm trước,dần dần hiện ra trong trong tâm tưởng…

 

Thủa ấy… chân ướt chân ráo, vừa đặt chân tới Pháp, cái gì cũng bỡ ngỡ. May mắn có các sinh viên kỳ cựu qua trước hướng dẫn, Nguyên thuê được một căn gác nhỏ, tầng thứ năm, tận cùng trên nóc một căn nhà cũ kỹ ở Quận 5, với giá vừa rẻ lại được gần nơi tập trung đông sinh viên nên chàng cũng đỡ buồn và bớt nhớ nhà.

Sau một năm trau giồi tiếng Tây, nhờ học gấp rút, sang đến năm thứ nhì Nguyên ghi danh học Đại Học và cuối năm đó thi đậu ngay chứng chỉ dự bị về Khoa học.

Vào một buổi chiều mùa Hè năm thứ hai ở Paris, về nhà sau buổi họp với ban đại diện Tổng Hội Sinh Viên và như thường lệ, trước khi leo cầu thang về phòng, Nguyên ghé vô chỗ bà concierge để lấy thư.

Thấy có tờ giấy nhỏ nhét trong hộp thư của mình, chàng mở ra đọc, nghệch ngoạc có ghi giòng chữ bằng bút chì: “N. thân : mới tới , sẽ trở lại tối nay lúc 8 giờ, cho ngủ lại. Khôi.”

Đang lúc nhớ nhà, nhớ Sài-Gòn ra riết, Paris trở nên một thành phố vô duyên và tẻ lạt, bỗng có tin người bạn học cũ ghé thăm, Nguyên mừng rỡ như sắp được gặp lại gia đình. Đang nghỉ hè, hàng ngày, ngoài việc ra thư viện đọc sách  và lâu lâu đi sinh hoạt với Ban Đại Diện sinh viên, Nguyên mừng tin có bạn đến chơi, nhất là bạn đồng môn Chu Văn An cũ. Dù rảnh rang nhưng lại không có tiền nên vào buổi tối chàng thường nằm nhà đọc sách trong căn phòng thuê nhỏ xíu, chỉ đủ kê cái giường đơn và một ghế sa-lông nhỏ, bên cửa sổ là một cái bàn học. Tất cả đồ đạc, vật dụng trong nhà đều do các sinh viên trong Ban Đại Diện kiếm mua cho, hoặc là họ xin nhà thờ hay mấy anh sinh viên mới ra trường dọn đi xa.

Nằm trên giường đọc tờ Paris Match cũ, thoải mái chờ bạn đến. Bỗng có tiếng gõ,  mở cửa ra,  trông thấy Khôi trước mặt.. nhưng đứng sau lưng có thêm một cô đầm…Nguyên thốt lên:” Khôi! Mời vào đây, tệ xá của tớ đây…” Xong liếc nhìn cô gái, Nguyên ngạc nhiên hỏi:” Còn ai đây cậu?” Cả hai cùng nhau bước vào trong buồng. Nguyên chưa kịp đóng của thì Khôi đã lên tiếng giới thiệu bằng tiếng Việt:”Đây là Lydia sinh viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật ở Roma, bạn gái của tớ.” Rồi quay qua nói một tràng tiếng Ý với cô gái, có lẽ để giới thiệu Nguyên với cô bạn.

Kéo hai cái ghế duy nhất trong phòng cho hai người ngồi cạnh bàn học, còn mình phỗng lên trên giường ngủ, Nguyên  tò mò nhìn cô gái : Trông Lydia nhỏ nhắn, không cao lắm so với bọn Đầm nhưng cũng vẫn cao hơn Khôi một chút. Mái tóc đen láy làm nổi làn nước da trắng, khuôn mặt thon dài với cái cầm hơi nhọn, đôi mắt không to nhưng đen láy và linh động như lúc nào cũng sẵn sàng để cười, cái sống mũi hơi quặt như mỏ con chim, nàng toát ra vẻ sống động trẻ trung như một con chim sẻ. Lydia ăn mặc giản dị, áo thung và quần jeans đúng thời trang của giới trẻ thời kỳ đó. Ai mới gặp lần đầu đều có cảm tưởng nàng tính tình dễ dãi và ngây thơ.

Rất nhanh, nàng chào Nguyên :” Bonjour! Khôi nói về toa nhiều lắm. Bọn này đi cả ngày, qua mấy chuyến xe lửa mới tới được Paris đây! Mệt quá đi…Đúng là voir Paris et mourir. Căn phòng của toa cũng xinh xắn nhỉ? Khôi nói gia đình toa ở Việt-Nam là thuộc loại bourjeoirs , mà sao qua đây ở một căn buồng nhỏ xíu này?” Nàng cười nức nẻ, cái đầu nghiêng hẳn qua một bên như đứa trẻ đang đùa cợt. Lời nói tuy đúng văn phạm nhưng giọng không chuẩn, biết ngay là ngoại quốc nói tiếng Pháp.

Một cô gái bất ngờ lần đầu xuất hiện tại căn phòng vừa nhỏ vừa bừa bộn của mình khiến Nguyên lúng túng:” Mấy toa cứ tự nhiên như ở nhà nhe, faites comme chez toi! Mấy toa ăn cơm tối chưa? Ở dưới nhà, ngay góc đường có tiệm bán đồ ăn lặt vặt…” Không để Khôi trả lời, Lydia nhanh nhẩu đáp:”Tụi moa ăn rồi…Mà toa có rượu vang không? Moa muốn uống thử rượu của bọn Tây .” Nguyên đứng dậy :” Có ngay đây, rượu rẻ tiền vin de table thôi nhe cô cậu. “

Nói xong, cúi xuống gầm bàn, Nguyên lôi ra một chai beaujolais. Không sành rượu , chàng chỉ biết có loại này vì đã quen thấy ông cụ chàng xưa vẫn uống mỗi bữa cơm tối ở Sài-Gòn, nên qua đây mua uống thử. Sau này, khi tiếp xúc với bọn Tây Đầm dân bợm rượu, chàng mới khám phá còn rất nhiều thứ rượu khác ngon hơn nhưng cũng đắt tiền hơn nhiều.Có lẽ uống lâu quen vị, Nguyên thấy loại rượu này có vị đậm đà mùi trái cây, dù hơi chua nhưng hợp với nhiều loại thức ăn nên Nguyên mua vài chai để dưới gầm bàn. Không có cả mấy cái ly thủy tinh để uống vang, chàng lấy hai cái ly uống nước và một tách uống cà-phê cho ba người.

Nhờ may mắn, mới mua mấy mẩu pho-mai và khúc xúc xích dành cho bữa ăn sáng, Nguyên bày ra làm mồi nhậu. Trong khi Lydia loay hoay cắt nhỏ cái thỏi xúc xích bày trên đĩa như không quen việc bếp núc, Khôi hỏi thăm tình hình bên nhà vì báo chí và truyền thông đang nói nhiều về mấy trận đánh ác liệt ở Miền Trung và Cao Nguyên, toàn là cảnh bom đạn chết chóc..Như muốn trấn an bạn, Nguyên nói ngay: “Nếu cậu coi tê-lê bên này thì thấy ghê lắm, nhưng ở Sài-Gòn thì chỉ có trận đánh vào Tết Mậu Thân là ác liệt. Mỹ vẫn đổ thêm quân và dân Việt có tiền ở tỉnh thành vẫn ăn chơi lè phè… Làm như chiến tranh chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến dân nghèo, tàn phá nhất ở miền quê hay các tỉnh nhỏ…”
Lúc đó, Nguyên không nhớ là Khôi có gia đình đang sống trên Pleiku nên lo lắng về tình hình trên Cao Nguyên. Sau này, Loan qua Pháp, trong một lần tâm sự với Nguyên, nàng cho biết Khôi có người chị và gia đinh bị mất tích trong cuộc triệt thoái từ Pleiku xuống Tuy Hòa. Người anh rể là một Thượng sĩ phục vụ ở Quân Đoàn 2, lính văn phòng thuộc đơn vị Hành Chánh nẹn dù có ở lại cũng không đến nỗi, nhưng trong cơn hoảng loạn, nhất là khi vị Tướng Tư Lệnh đã dùng trực thăng bay về Nha Trang,từ đó mọi người hốt hoảng kéo nhau theo đoàn di tản trên con đường Tỉnh Lộ 7B kinh hoàng. Nói chung, ngoài Loan ra, coi như Khôi không còn ai là thân thuộc, họ hàng nữa.

Không cần chờ đợi chủ nhà, tự rót rượu đầy ly cho mình, rồi mới cho Nguyên và Khôi, đưa cho hai chàng thanh niên Việt-Nam cầm xong đâu đấy, Lydia giơ ly lên mời:“Allez,santé “Rồi nàng đưa lên môi uống một ngụm gần hết nửa ly. Khôi chỉ nhắp một vài ngụm xong để ly lại trên bàn, còn trong khi đó,cô gái Ý và Nguyên cứ thế mà nốc ngon lành. Sự có mặt của cô gái khiến hai người bạn không nói chuyện riêng bằng tiếng Việt được nhiều;và vì lịch sự, ba người nói với nhau bằng thứ tiếng Tây nhát gừng. Lâu lâu, Khôi lại chêm giải thích bằng tiếng Ý cho Lydia hiểu.

Suốt buổi, Khôi chỉ cầm ly rượu như cho có lệ, chăm chú nghe hai người nói chuyện. Còn Lydia thì cứ cà kê nâng cốc uống với Nguyên…Rượu vào lời ra, sau khi uống hết hai chai beaujolais, bầu không khí trong căn phòng trở nên ấm cúng và thân mật như họ là bạn thân tự lúc nào.

Là sinh viên Mỹ Thuật, Lydia thích nói chuyện hội họa, và theo câu chuyện, nàng còn có ý muốn đề cao nền mỹ thuật của nước Ý, nhất là vào thời Phục Hưng; trong khi đó, hai chàng thanh niên Việt-Nam chỉ ngồi yên, lắng nghe như bị bắt buộc. Nàng nói thao thao bất tuyệt, hăng say kể những câu chuyện tình của Romeo và Juliet…

Đêm đó, Lydia ngủ trên giường, Nguyên trải tấm drap dưới sàn cho hai chàng thanh niên nằm. Uống nhiều, say rượu nên khi ngả lưng xuống, Lydia và Nguyên làm thẳng một giấc cho đến sáng, chỉ có Khôi cả đêm cứ nằm thở dài như băn khoăn điều gì…

 

Có tiếng kéo ghế, như từ chốn đâu trở về,Chương ngồi xuống bên cạnh.Tỉnh cơn mơ màng,  Nguyên về với hiện tại ở Gare du Nord…Vừa cười, Chương cúi nghiêng mình nói nhỏ :

Toilette ở đây sạch sẽ hơn ở trong Paris nhiều. Mất tiền có khác!

Nói xong liếc nhìn đồng hồ tay:

– Còn hơn nửa tiếng nữa xe lửa mới chạy, toa kể tiếp cho moa nghe về Khôi …

Nguyên chậm rãi giải thích:

– Moa nghĩ Khôi đã yêu cô gái Ý đó, dù giữa hai đứa tụi nó chẳng có cái gì là mẫu số chung cả : Lydia tươi trẻ, sống vội hết mình chỉ cho hiện tại. Thiên về mỹ thuật, nàng bất cần đến ngày mai. Còn anh chàng Khôi nhà ta thì lúc nào cũng băn khoăn về physique des quanta , như muốn dùng lý trí để giải thích vũ trụ! Moa nghĩ hai đứa thương nhau, nhưng luôn luôn có một điều gì của đứa này làm cho đứa kia không thể chấp nhận được : Như Khôi đâu có chịu nổi tính bừa bãi của Lydia; ngược lại, nàng ta đâu có thể ngồi nhìn chàng lúi cúi suốt ngày tính toán…Đối với nàng, sống là hưởng thụ, vui chơi thả giàn như la doce vita…Bây giờ Khôi chết rồi mình mới dám đả động , bàn về chuyện riêng tư của lủy… Ngưng nói như trầm ngâm suy nghĩ, đoạn Nguyên kể tiếp :

-Vào năm 77 và 78 gì đó, moa có mở tiệm phở ở Quận 13. Moa nấu lấy, theo gôut phở Tàu Bay. Nhiều người ở đây nói là phở moa còn ngon hơn ở Sài-Gòn trước kia, và tất nhiên là ngon nhất Paris. Nói xong, Nguyên nhếch mép cười như nửa đùa nửa thật về lời tự khen của mình. Sở dĩ moa mở nhà hàng cũng là do bà xã moa, lúc đó vợ chồng moa bảo trợ cho gia đình hai đứa em vợ qua đây. Chúng nó không có nghề ngỗng gì, lại không chịu đi học nên chỉ có cách mở nhà hàng để cho tụi nó có việc làm, vừa có nghề lại vừa hy vọng làm giàu…Nhưng như nhiều dân Sài-Gòn qua Pháp hay Mỹ là cứ tưởng như cái gì cũng dễ dàng cả, qua bên này sẽ hái ra tiền. Rồi sau khi mở ra, mấy đứa đó lao động không quen, chẳng chịu khó, nên hóa ra một mình moa phải gồng cái tiệm mệt nghỉ…Cũng tại cái tiệm phở mắc dịch đó mà vợ chồng moa cãi nhau ỏm tỏi, rồi từ từ đưa đến bỏ nhau…Lúc đầu tiệm rất đông khách, moa có dịp quen biết nhiều lắm, có một bữa có một anh chàng người Việt du học bên Ý qua Paris chơi, ghé đến ăn, ngồi nói chuyện loanh quanh, hóa ra hắn có biết Khôi…Rồi tự nhiên hắn kể là tại vì thi rớt mà còn cãi nhau với ông thầy người Ý, nên bị đuổi khỏi trường và Khôi mới đành phải qua bên này học. Sau này, moa cũng không dám hỏi Khôi xem sự thật có vậy không…

Kể xong, Nguyên có vẻ buồn bã, ngồi yên lặng nhìn ra ngoài nhà ga…Chương cũng lây cái buồn man mác đó … trong lòng ngạc nhiên vì thi rớt là chuyện lạ khó xẩy ra với  người bạn đồng môn  vốn thông minh học giỏi, mà chỉ có biến cố động trời nào mới khiến Khôi chán học cho đến nỗi thi rớt. Ý nghĩ chợt lén qua trong Chương  “Hay là năm đó anh chàng Khôi bỏ lỡ mối tình đầu với Lydia… thất tình mới ra nông nỗi đó ?”.

Và làm như nhớ  điều gì, Chương chia sẻ , kể thêm câu chuyện về Khôi:

–  Sống nội tâm nhiều, nên có một lần thắc mắc là làm thế nào kiếm ra được sự thật và chân lý qua môn vật lý lượng tử, Khôi trả lời moa là: hành trình đi tìm sự thật còn quan trọng hơn cả chính chân lý nữa! Có thể là mặc dù cô đơn, bị thiên hạ coi như một kẻ thất bại trên đường đời, chính Khôi tự coi mình có sứ mạng cao cả hơn bao nhiêu người có tiền của, có địa vị khác trong xã hội: Đó là đi tìm sự thật, sống không chỉ như cây cỏ, sẽ vô vị và nhàm chán biết là chừng nào!

Ngạc nhiên về nhận xét của bạn, Nguyên lên tiếng :

– Ối chà, toa bênh vực Khôi dữ há! Tiếc lúc còn sống, bọn mình không có dịp ngồi nói chuyện nhiều với Khôi. Mà hắn đâu có nói gì bao giờ đâu, lúc nào cũng ngồi yên lặng như con hến. Moa nghĩ khác toa về Khôi, không phải nói xấu chứ Khôi có cái ego quá to, khinh thường thiên hạ, nhưng thật chất ra nó cũng chỉ như mọi người, có nhu cầu của con người : tình yêu, gia đình và sự nghiệp. Không ai có thể sống xa lánh người khác, không ai có thể sống một mình như một ốc đảo  trong sa mạc. Sự kỳ diệu của cuộc đời nằm trong những thứ nhỏ nhoi hàng ngày : được bế đứa con – đứa cháu, được gặp người bạn hay thường được dùng bữa cơm gia đình, chỉ có thế mới là cái chính của cuộc sống đó ông bạn ơi! Đừng có mơ mộng viển vông, hay là lên Chùa mà tu …Mà ngay cả trên Chùa cũng đầy rẫy hỉ, nộ, ái ố đó chứ …

 

Bỗng, từ trên cao, âm vang vọng xuống như thúc dục, loa phóng thanh báo tin một chuyến tàu sắp khởi hành đi Callais-Londres ở bến số 5. Gia đình người Pháp bàn bên cạnh vội vã đứng dậy: ông chồng kéo cái va-ly lại gần xong kéo fermeture đóng lại, rồi thu xếp đồ dùng trên bàn; trong khi đó, bà mẹ bế đứa bé. Họ lục đục xách túi đồ bước ra khỏi quán…
Chương nhìn vào chỗ họ mới ngồi, nhớ ra hai năm trước Khôi và chàng cũng ngồi ở cái bàn đó…Cảm thấy không nên nói nhiều về Khôi nữa, Chương hỏi thăm sức khỏe bạn mình:

– Bệnh tim của toa đã ổn định rồi chứ ? Toa cố giữ sức, kỳ tới moa qua còn chở đi chơi chứ?

Nói xong, cười mỉm chi…và nhìn thấy hai ly cà-phê đã cạn, Chương hỏi bạn:

– Toa ăn uống gì nữa không. Còn khoảng 10 phút nữa chuyến của moa mới départ?

Lắc đầu, Nguyên trả lời:

-Thôi, cám ơn toa. Hôm nay uống hơi nhiều cà-phê rồi, tim đập nhanh, tối sẽ mất ngủ.

Cái chết của Khôi lại quay về trong tâm tư, vì nó vừa mơ hồ vừa bí ẩn, Chương nghĩ đến những cái chết khác…Như trong sử sách, có nhiều nhân vật nổi tiếng và đáng nhớ là chỉ do cái chết của họ, khi còn tại thế thì cuộc sống họ bình thường đến độ vô danh…Ai cũng biết Lê Lai liều mình cứu Lê Lợi chứ đâu có ai còn nhớ được là lúc sống ông làm gì và là ai. Nhiều người trong chúng ta còn cứ tưởng hai ông chỉ có là họ hàng nữa? Dù cho cái chết là một phần của cuộc sống, nhưng đôi khi chết quan trọng hơn cả sống, vì trong một hoàn cảnh nào đó, chỉ cái chết mới xác định được tư cách, nhân phẩm con người. Phải chăng : to be or not to be, that is the question! Vấn đề là sống hay tự sát? Nhưng trường hợp của Khôi khác hẳn, anh sống bình thường như vô hình vô danh trong đám đông, và rồi cũng chết trong cô đơn và quên lãng của một người parisien!

Biết sắp phải chia tay nhau, Nguyên hỏi:

Plan của toa còn ở đây bao lâu nữa ? Ngày mai moa có hẹn đi tái khám tim. Bên này, phải chờ cả tháng mới gặp được bác sĩ, nhất là bàc sĩ chuyên khoa…Có gì bọn mình gặp nhau lại nữa, nhưng phải tuần lễ tới moa mới rảnh được.

Chợt nhớ đến chương trình đi Bordeaux , Chương trả lời :

– Moa còn ở Pháp một tuần nữa, nhưng ngày thứ Bẩy này sẽ đi Bordeaux thăm bà chị họ vài ngày… Thôi, có gì mình liên lạc với nhau nhe…Sắp đến giờ rồi, moa tà tà đi ra quai nhe, hình như ở voie số 5 thì phải…

Mặc dầu còn dư chút giờ, nhưng vốn yếu đuối, sợ cảnh chia ly,dù chỉ với một người bạn trai, nên muốn đi ngay để khỏi phải đương đầu với cảm giác buồn lòng kéo dài, Chương đứng dậy đưa tay ra chào … Nguyên cũng đứng dậy.  Hai người bắt tay nhau, họ làm một cách uể oải như bất đắc dĩ. Như để chối bỏ tình cảm, Chương nghĩ có lẽ đã bị mệt mỏi sau một ngày dài lang thang với mình, Nguyên cũng muốn đi về cho sớm…

Hai người cùng bước ra khỏi quán: Chương hướng đi thẳng ra bến xe lửa đậu, và cho chắc ăn, sợ có thay đổi vào phút chót, dừng lại trước tấm bảng khổng lồ để xem giờ khởi hành của chuyến đi Compiègne và ở bến số mấy; Nguyên rẽ bên trái để xuống cầu thang nơi có các chuyến métro…

Xem bảng xong, Chương nhìn theo Nguyên lắc lư bước đi dần dần khuất sau một đám đông đang từ đâu ùa ra như đàn kiến …

Không biết bao giờ mới có thể gặp lại Nguyên, ý nghĩ đó liên tưởng Chương đến hôm giã từ Khôi, rồi  một cảm giác man mác buồn ập tới khiến chàng khó thở…Chàng chợt nhận ra: hai cuộc chia tay với hai thằng bạn Chu Văn An đều xẩy ra ở đây, nhà gare du Nord;  lần trước với Khôi, nay đã thành người thiên cổ; còn kỳ này với Chương, mới bị bệnh tim.

Đột nhiên, một cảm giác lo âu nhẹ nhàng kéo đến, tràn ngập như xâm chiếm tâm hồn, khiến Chương mơ hồ lo sợ buổi chia tay hôm nay sẽ là một điểm gở giống lần trước. Dù biết là vô lý, như tin vào một chuyện bịa đặt, dị đoan… rồi, không biết từ đâu đưa đến, câu :“to be or not to be that is the questionSống hay tự sát, của Shakespeare lại văng vẳng bên tai chàng, như là lời tâm sự của chính Khôi trước khi chết !./.

 

Phát biểu của nhà văn Bùi Bích Hà  về tác giả Ngọc Cường

nhân dịp Ra Mắt tác phẩm Bâng Khuâng của tác giả năm 2018 tại quận Cam

 

Như hầu hết quý vị có thể đã biết, tôi đọc tác giả Bâng Khuâng từ ngày ông còn là một cậu bé chưa tới 10 tuổi, viết những đoản văn thật ngắn về những điều tỉ mẩn xảy ra trong cuộc sống đời thường hàng ngày.

Kể từ kỷ niệm xa xôi ấy, đến nay đã hơn nửa thế kỷ, tôi thực sự không còn nhớ chi tiết của bài viết ký tên Tường Cường, chỉ chiếm chừng nửa trang giấy khổ nhỏ của tờ Văn Hóa Ngày Nay, bộ mới, dưới sự chăm sóc của cố văn hào Nhất Linh. Tuy nhiên, ấn tượng sâu đậm về một Con Muỗi bị kẹt trong cái màn buông trên giường ngủ của cậu bé tác giả, ở lại rất lâu, rõ nét, trong trí nhớ tôi.

Mãi tới năm 2014, khi tác giả từ Ohio về quận Cam ra mắt tập truyện ngắn đầu tay Bèo Giạt, ông có nhã ý mời tôi nói ít lời về cuốn sách trong lần gặp mặt đầu tiên ấy, nghe tôi vui mừng nhắc chuyện cũ mà ông không hề hay biết, cũng không nhớ chính ông là tác giả đoản văn tôi đang nói đến, nên ông ngạc nhiên và bối rối ra mặt. Phần tôi, cũng bối rối không kém dù không chút ngờ vực về trí nhớ của mình. May mà ông là nhân vật có thật, đang ngồi trước mặt tôi, có tác phẩm trình làng, từng ký bút hiệu Tường Cường nay thay đổi chữ lót, trở thành Ngọc Cường để ghi nhớ tên cô con gái đầu lòng đã mất thời ông chinh chiến xa nhà. May hơn nữa là ông nhận có viết lách ngày còn bé vì không biết làm gì thời thơ ấu lang thang nhàn rỗi ây, chỉ không nhớ chuyện Con Muỗi.

Sở dĩ tôi mạn phép lan man như thế chỉ để đi tới kết luận là sau ngần ấy năm tháng tích lũy những gì ông  tha thiết cưu mang, cần viết ra, tác giả Ngọc Cường của đầu thế kỷ 21 trong bối cảnh một nước Mỹ to lớn, quyền lực, hung hãn, phức tạp, vẫn y nguyên là Tường Cường của một thời trẻ dại, sớm mồ côi mẹ, trôi nổi giữa thành phố Saigon không có nơi an trú yên ấm cho thể tánh mỏng manh và đa cảm của cậu. Do bản năng sinh tồn hay do thiên khiếu sớm sủa báo trước văn tài, cậu bé Cường đi tìm nơi ẩn náu trong đám đông sinh vật hiện hữu xung quanh bằng cách chú tâm quan sát cuộc sống của những sinh vật nào cậu có cơ hội tiếp cận, bắt đầu bằng Con Muỗi. Cùng với tuổi đời, khung trời tuổi nhỏ của cậu ngày càng mở rộng. Hết quan sát và vui chơi thân thiện với loài vật, cậu hướng đến con người, vô hình chung, tạo ra một trường phái sáng tác riêng biệt.

Tôi gặp lại Tường Cường của thập niên 50 thế kỷ 20, sau rất nhiều phong ba, bão tố xảy đến cho Việt Nam ở một thời khoảng lịch sử nhiều biến động, thế nhưng tưởng chừng tác giả Con Muỗi vẫn y nguyên là ông với đôi mắt điềm tĩnh nhìn đời như một thiền sư an nhiên trước sự an bài không tránh khỏi của duyên nghiệp tiền định.

Cảm giác lập tức của độc giả khi đọc Bèo Giạt, như tôi đã chia sẻ trong lần ra mắt tập truyện cách nay bốn năm, là sự tẻ nhạt. Tựa như khi chúng ta xem một cuộn phim không có nhiều tình tiết hư cấu gay cấn, không có cả sự phóng tay làm ra số phận của các nhân vật theo ý riêng mà chỉ là một chuỗi nối kết những gì xảy ra cho các nhân vật của ông trong đời thường, được ghi lại bằng ống kính của một nhiếp ảnh gia nhìn thấu suốt sự bất lực của kiếp người. Cho tới nay, có lẽ không có nhiều tác giả có được sự khép mình để chấp nhận, để có cách nhìn khiêm nhượng nếu không nói là hàng phục của Ngọc Cường. Bên trong, bên dưới cảm giác nhạt nhẽo, nhàm chán, còn một cảm giác bi thương ít ai chịu nhìn nhận, mà, cho dù nhìn nhận hay không, nỗi bi thương vẫn đè nặng lên mỗi phận người. Tuyệt đối trung thành, một cách tỉ mỉ trong mỗi ghi nhận, ông cũng dùng đúng thứ ngôn ngữ tuyệt đối giản dị trao đổi hàng ngày giữa các nhân vật ông chọn đưa vào sổ thiên tào. Để tuyệt đối là một người kể chuyện đứng ngoài, ông giấu nhẹm mình, không chịu trách nhiệm về những vui /buồn hay may/rủi mà các nhân vật ấy phải nhận lãnh, trong đó có bản thân ông cũng cố lờ đi buồn/vui, may/rủi của chính mình.

Có một lý thuyết được công nhận rộng rãi, kể cả với nhà văn Ngọc Cường, rằng chính khán giả, độc giả của mọi công trình trước tác hay sáng tác được hình thành bởi các tác giả có tác phẩm, mới là những người thực sự kết thúc các tác phẩm ấy, cho chúng một linh hồn, một dung mạo và một ý nghĩa. Đọc Bèo Giạt, đọc Hệ Lụy hay đọc Bâng Khuâng của Ngọc Cường là trường hợp điển hình cho lý thuyết này.

Câu chuyện nào của ông cũng lơ lửng tầng mây, là những bức ảnh khoanh lại một mảng thời gian không đầu, không đuôi, như thể ai rồi cũng chỉ có một quãng đời để sống, với gặp gỡ rồi biệt ly ở nơi đến và nơi đi, bằng tiếng cười thoảng qua, bằng tiếng khóc ở lại, không bao giờ biết rõ xuất xứ cũng như chung cuộc của sự xuất hiện những khoảng khắc vô nghĩa ấy.

Hơn nửa thế kỷ viết trong cưu mang lặng lẽ hay viết xuống những mặt giấy lạnh lẽo, Ngọc Cường tạo ra một trường phái của riêng ông qua ngót nghét gần ngàn trang sách phản chiếu một nhân sinh quan nhất quán xuyên suốt ba tác phẩm tuần tự góp mặt trên văn đàn hải ngoại mỗi hai năm một cuốn, 2014, 2016 và 2018. Bày tỏ trong lời mở ở phần đầu cuốn Bâng Khuâng quý vị đang có trong tay, tác giả chia sẻ: “Do ngôn ngữ và chữ viết có giới hạn khi diễn tả hay tiếp nhận tư tưởng cùng cảm xúc nên không ai có thể tường tận hết được người viết muốn nói gì. Phật đã cảnh cáo các môn sinh trong câu “Như Lai xưa nay chưa nói lên điều gì cả.”

Ông ở trong và cũng ở ngoài tác phẩm. Ông viết để chữ nghĩa cất lên tiếng nói của chúng. Y như chúng ta ai cũng có một cuộc đời mà mình không thực sự làm chủ, tưởng là có hóa ra không, muốn thế này, nó ra thế nọ. Ngẫm cho cùng, nỗi bi ai đeo đẳng con người, kim cương hay châu ngọc long lanh có khác gì hàng mã? Biết vậy nhưng con người hết đời này qua đời khác, vẫn phải gánh vác thánh giá và chặng đường khổ ải trong nhọc nhằn vinh quang này, sau cùng, được giải thích bằng nước mắt yêu thương của Mẹ hiền Maria hay của Phật Bà Quán Thế Âm luôn đổ xuống thân phận con cái các bà như một cứu rỗi. Ngọc Cường ca ngợi tình yêu/tình thương, thấy trong đó sự an ủi: “Dường như ở làng Jaux hẻo lánh hay bất cứ nơi xa xôi nào khắp thế giới, một khi có tình yêu gia đình và tình thân của bạn bè, nơi đó có niềm vui và hy vọng.”  (Lưu Vong, tr. 94) “Phải chăng tình yêu chỉ có ý nghĩa khi làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn?” (Yêu và Hận, tr. 46) Độc giả sẽ gặp những câu trích dẫn tương tự rải rác ở nhiều nơi khác trong cả 3 tập truyện của NC.

Để minh họa những lời liều lĩnh vượt cả khuyên răn của Như Lai trong phần bày tỏ hôm nay, tôi xin mượn ba truyện kể của tác giả NC trong tập Bâng Khuâng, được chọn ra do chính tác giả, một văn hữu cùng họ tộc Nguyễn Tường và một người đọc phái nữ, là các truyện Long và Thủy (tr. 13) Lưu Vong  (tr. 79) và Mối Chân Tình (tr. 95) để giới thiệu cùng quý vị.

I.- Truyện Long và Thủy, ngay đầu sách, mô tả một đôi tình nhân thời loạn ly, đang trong tình cảnh sắp phải chia tay bên ngoài cổng phi trường. Long sẽ trở lại đơn vị với cuộc sống đầy bất trắc của người lính xưa nay chinh chiến mấy ai về? Thủy từ đây sẽ không còn là cô sinh viên vô tư đi bên lề vận mệnh đất nước như bao lâu trước mà bắt đầu biết lo âu thế sự. Thế nhưng trong giây phút chập chùng biệt ly ấy, cả hai “vẫn đứng yên một chỗ, không biết nói gì với nhau.” Nàng thì liên tưởng tới một cảnh trong phim Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết, khi người lính Đức còn trẻ bị bắn gục, trên tay còn nắm lá thư của người tình hậu phương báo tin nàng có thai, tỉnh bơ như chuyện của ai khác, liên tưởng nhưng không nghĩ chuyện liên quan tới chính mình cũng đang trong cảnh ngộ kẻ hậu phương, người tiền tuyến y hệt các nhân vật trong phim. Ngồi trong quán nước, họ tính nhẩm cả chuyện ai sẽ trả tiền món giải khát và khi Thủy “đưa cho Long ly rau má, chàng lắc đầu, nàng bèn uống một lèo hết ly.” (Tr. 22.)

Kể lại nguồn gốc cuộc tình, Thủy cho biết: “Hôm đó không phải là lần đầu hai người gặp nhau nhưng lại là thời điểm bỗng dưng nàng biết chắc chắn mình đã yêu, rõ ràng như định mệnh đã an bài.” Nghĩ về tương lai cuộc tình, Thủy chia sẻ dự tính chắc mà cũng không chắc của một cô dâu ngày cưới, lấy chồng thời chiến chinh: “Em sẽ đi dạy học, tiện thời gian lo việc nhà cửa, con cái nhưng đó chỉ là giấc mơ xa vời trước hoàn cảnh bấp bênh của Long.” Rồi nàng thấy tủi thân, bất lực, như bị một guồng máy khổng lồ nghiền nát mình.” (Tr.20) Rồi nàng nhận ra “cuộc đời của họ – gồm 4 người, hai chị em Thủy và Hà, hai người bạn Long và Châu- đều mong manh, bất định, như đám mây lơ lửng trên đầu đôi tình nhân trưa nay không biết sẽ trôi về đâu? (Tr. 20) Truyện kết thúc bằng câu hỏi vẩn vơ không có lời giải đáp của Châu lúc Saigon sắp mất và Châu sắp ra đi không có Hà theo: “Cớ sao người bạn thân thiết nhất của mình (là Long) lại có thể là người lính cuối cùng gục ngã cho cuộc chiến?” Không chỉ Long không có mặt, cả Châu cũng mơ hồ như chiếc bóng bên đường của ai khác vào giây phút hạ màn bi thảm trong vở kịch của họ.

Truyện “Long và Thủy” đóng lại bằng cảnh hai người lính già vô danh lạc lõng trong một tiệc cưới tràn trề bia rượu và tiếng nói cười huyên náo ở Bắc Cali. Họ nhắc tới Long và Thủy như chút kỷ niệm đã xa mờ trên dòng thời gian phôi pha.

II.- Truyện Lưu Vong, tr. 81, xoay quanh bữa ăn tối do vợ chồng Lan và Thọ thết đãi vợ chồng Oanh và Dũng tại nhà. Thọ là bác sĩ, chẳng biết duyên nghiệp bởi đâu, đã định cư ở Jaux, một ngôi làng nhỏ, cách Paris 60 cây số hướng Bắc. Chồng hành nghề thầy thuốc, vợ cặm cụi đi làm công chức cho thành phố mấy chục năm, họ xây được một dinh cơ đồ sộ bốn tầng lầu ở ven làng và sống sung túc. Bữa ăn tối tuy đãi bạn các món quốc hồn quốc túy, rau muống luộc đánh dấm cà chua, cá nục kho song vẫn theo lối Tây, uống rượu khai vị và tráng miệng bằng bánh hạnh nhân. Dũng vốn không ưa Thọ vì sự cách biệt giai cấp xã hội nên dù Thọ cầu thân, Dũng vẫn không muốn gần gũi nhiều. Chàng muốn vợ từ chối lời mời nhưng rồi vốn quen để vợ quyết định, chàng lại theo đi. Ăn xong, thấy nụ cười đắc ý trên môi Lan, hãnh diện vì bữa cơm ngon, thấy Thọ xoa bụng trong một cử chỉ thỏa thuê, khoe đã bảo được vợ phải đi chợ Tăng Frères để mua thức ăn hiếm quý mời bạn nhưng Dũng không bận tâm nữa mà thoải mái thưởng thức cái ghế bành đặt cạnh lò sưởi, hơi ấm lửa củi nhà Thọ dễ chịu hơn hẳn cái máy sưởi cũ kỹ nhà mình, thậm chí“cảm giác êm ái như đang được sống dưới mái ấm gia đình.” Hai vợ chồng đã hẹn nhau phải ra về cho kịp chuyến xe lửa cuối rời làng lúc 11 giờ đêm nhưng rồi họ để cho nhiều sự tình cờ lôi cuốn và cuối cùng ở lại không chỉ qua đêm mà cả ngày hôm sau nữa. Quan trọng hơn, thông qua cảm nghĩ đổi thay trong bản thân, Dũng nhận ra dáng vẻ ung dung, phong lưu quý phái của vợ chồng chủ nhà thật ra cũng đáng yêu, chỉ chính mình đáng trách vì đã xét người hời hợt. Biên giới giữa đáng yêu và đáng trách có thật mỏng manh, dễ xóa nhòa như thế không hay đấy là sự thỏa hiệp để mà sống, kiểu Bài không tên số 6 của Vũ Thành An, “Hãy cố yêu người mà sống, lâu rồi đời người cũng qua? Còn gì tội nghiệp hơn thế cho một kiếp nhân sinh? Sau cùng, nhân vật Mụ Hường trong cùng truyện khiến Dũng khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của hai chữ Lưu Vong, là mất quê hương và cũng mất chính mình, vong quốc hay vong thân như bóng với hình.

III.- Trong truyện Mối Chân Tình, tr. 95, tác giả mô tả cảnh đời khó nghèo của đôi vợ chồng Lan và Thân từ khi còn ở trong nước và trước nữa, khi họ còn là hai thành viên trong một nhóm nhỏ sinh hoạt Phật sự, lấy nhau trong mơ hồ, không biết do tình yêu hay chỉ là tình bạn mà chỉ “với một nội dung đơn giản là một khi đã là bạn với nhau, họ sẽ là bạn suốt đời như dấu ấn in đậm nét lên trang giấy trắng” (tr.102) Biến cố 30/4/75 xảy ra, Thân mang cấp bậc trung úy, chỉ huy một đại đội cố thủ ở Phước Tuy, không bỏ chạy theo Tiểu đoàn trưởng đã đào ngũ mà hô hào binh sĩ thuộc quyền bắn hạ cả xe tăng T54 của địch để rồi kẹt lại và phải trình diện vào trại cải tạo. Lan một mình lăn lóc, bươn chải chợ Trời nuôi hai đứa con dại và chồng tù tội vắng nhà. Nhiều đêm trên căn gác nhỏ, nhìn con thơ say ngủ, Lan vừa ứa nước mắt thương thân vừa hãnh diện không biết bằng cách nào mà mình có thể chu toàn cả hai vai trò làm mẹ và làm vợ tù như thế? Các nhân vật của Ngọc Cường sống lam lũ, vất vả, đếm từng giọt mồ hôi, nước mắt để sinh tồn nhưng luôn với tâm thế bơ vơ, lạc lõng, như những chiếc lá bị gió cuốn đi.

Thân trả nợ cải tạo xong, thời cuộc đưa đẩy cả gia đình qua Mỹ định cư. Hai vợ chồng, hai đứa con hội nhập khó khăn vào xã hội mới. Ngoài công việc của một nhân viên gác đêm để kiếm sống, Thân tìm khuây khỏa bằng cách lên chùa làm công quả để chỉ thấy cảnh chùa và cảnh Bolsa cũng na ná như nhau song chàng không có lựa chọn nào khác. Ngoài đi chùa, khi có cơ hội, Thân mời bạn bè tới nhà nhậu nhẹt, nhắc chuyện ngày xưa. Đứa con gái lớn lên, lấy chồng, sinh con đẻ cái và sống làng nhàng qua ngày với công việc của một cô thợ móng tay. Đứa con trai ham chơi, lang bạt, không chịu học hành, không chịu đùm đề vợ con như con cái nhà khác cho cha mẹ có cháu nội bế bồng. Thân giận lắm nhưng vẫn không từ bỏ được con. Lan vừa tạm ổn định cuộc sống thì biết là mình bị ung thư, phải làm hóa trị. Nghe chồng mời bạn tới nhà, chị phàn nàn “Tôi mệt quá mà anh còn kiếm thêm việc, tôi không dọn dẹp được đâu đấy, uống vừa vừa thôi, đừng để say quá rồi nói năng bậy bạ.” Nói là nói thế nhưng chập sau, chính Lan lại đề nghị chồng mời thêm bạn và tự nguyện móc túi đưa thêm tiển để chồng chợ búa, mua thêm rượu và thức ăn. Cứ như họ là những quân cờ dưới bàn tay của một kỳ vương đầy quyền năng và có lòng tốt đáng tin cậy như tác giả nhận định (tr. 105) Câu chuyện cứ thế mà kéo lê thê qua 14 trang giấy, mô tả cuộc sống của một tập thể nhỏ người Việt di tản quần cư ở tiểu bang California có đông người Việt nhất, cách sống, cách ứng xử của họ với nhau và với cảnh ngộ bất ưng, những buồn vui họ trải qua, nhiều tâm sự giống nhau và khác nhau tùy thuộc những thành công hay thất bại trong nỗ lực riêng; chuyện cha mẹ trong hai gia đình cố cựu đành quên ước hẹn hôn nhân cho con cái trong nỗi ngại ngùng vì địa vị xã hội nay quá chênh lệch; chuyện đi hay không đi biểu tình như một cách bày tỏ lập trường chống cọng vì tuy lập trường chỉ có một nhưng động cơ và quan điểm thể hiện không nhất quán từ góc nhìn của mỗi người; chuyện một ông đại tá như đại bàng gãy cánh trong tháng tư đen, chịu hàng phục nghịch cảnh để trở thành cai tù đối với anh em cùng trại giam, sớm tối tả tơi quát tháo anh em y như một nhân vật phường tuồng để rồi qua đây, chui nhủi vì hổ thẹn và cuối cùng xuống tóc đi tu; chuyện khi qua đời, có những cựu chiến binh quân lực VNCH lưu vong trối trăn xin đừng phủ cờ trên quan tài vì họ đã không có cái vinh dự hy sinh ngoài chiến trường..vv..

Cứ thế, cứ thế, chi tiết, tỉ mẩn, kiên tâm, Ngọc Cường ôm hết cuộc sống trong vòng tay, chăm chút, thương yêu quan sát, ghi chép. Không có gì lớn lao cả nhưng đó là những mảnh đời có thật dưới ánh mặt trời, những buồng phổi người đã cố gắng thở, những trái tim người đã cố gắng đập và sẽ không bao giờ được biết đến như những trang ngoại sử mà chính sử sẽ thiếu sót nếu không có ai thấy mình ở trong và ghi chép lại. Người chiến sĩ vô danh hy sinh trên mặt trận súng đạn được tri ân với đài tưởng niệm, được ghi công và tuyên dương bằng sử sách; người thường dân vô danh chết trên mặt trận sinh tồn của nhân loại không có lúc nào ngưng nghỉ cũng cần được quan hoài vì những đóng góp của họ để xây dựng xã hội. Đọc Ngọc Cường để có những giây phút thấm ngấm phận người và phận mình, là phiên bản của nhau trên dòng sinh mệnh vô tận chung, may ra chúng ta sẽ dễ dàng đến với nhau và xót thương nhau hơn, sẽ cùng nhau hoàn chỉnh bản nháp CON NGƯỜI, tác phẩm đầu tiên của Thượng Đế, một cách có ý nghĩa hơn .

Mạo muội chia sẻ vài nhận định thô thiển với ít nhiêu chủ quan của tôi hôm nay về tác phẩm thứ 3, Bâng Khuâng, của nhà văn Ngọc Cường, kính mong quý vị và tác giả lượng thứ mọi suy diễn hạn hẹp, sai sót chắc chắn phải có của chúng tôi, xin quý vị mỗi người hãy cầm một cuốn Bâng Khuâng về nhà, đọc để tự mình đón nhận những gửi gấm tâm huyết và chân tình của tác giả, để qua đó, thấy cuộc đời như giòng sông, chỗ sâu chỗ cạn nhưng luôn chan chứa sức sống bền bỉ của nhân loại, trong đó, mỗi chúng ta được vinh hạnh thấy có mình dự phần.

Nhìn Lại 72 Năm

Ngọc-Cường

LTG: Bài viết dưới đây là một đoản văn hư cấu, nhân vật “tôi” có thể không nhất thiết là tác giả. Điều này không quan trọng, vì ngày nay, ranh giới giữa thật và ảo rất mơ hồ, có khi một thế giới “ảo” trong đó có đồng tiền“ảo” và địa chỉ “ảo” đang lưu hành.
Tôi vừa được 72 tuổi, ở cái tuổi người xưa cho là “thất thập cổ lai hy”,nhưng ngày nay, tất nhiên không còn hiếm hoi, và đối với mấy bậc niên trưởng tám, chín mươi, họ vẫn coi những ông già ở tuổi 70 như là một đứa em còn trẻ, và tôi cũng đồng ý như vậy, vì tự coi mình , ít ra trên phương diện tinh thần, cứ ngỡ còn là một thanh niên : vẫn ham ăn, ham chơi và ham sống. Nhưng có lẽ có khác là bây giờ không còn sợ chết như khi còn ít tuổi hơn, lúc bốn năm mươi, lúc đang trong cơn “khủng hoảng của tuổi trung niên”, rất sợ chết, sợ mất đi những bình thường, nhưng tha thiết: bạn bè, công việc và vợ con. Về cái khoản sợ chết, thật ra, khi còn trẻ hơn, ở tuổi thanh niên, cũng ít ai lo lắng, vì còn đang khỏe mạnh, và lo toan đến những vấn đề “lớn”, như làm thay đổi xã hội … hay tâm hồn đang giao động, bị hành hạ vì yêu thương, nhớ nhung cô bạn học hay cô láng giềng đầu ngõ ? 
Vướng vào thể xác của một ông già 70, như bộ máy của một chiếc xe trên 100 ngàn miles, đương nhiên có nhiều trục trặc hay lủng củng,  bát đầu có hiện tượng “ba cao và một thấp”, như thiên hạ thường nói tới: cao máu, cao mỡ, và cao đường, và thấp khớp! Một ông bạn ở trên San Jose, khi nghe tôi có 3 cao, đã bật cười “ở tuổi của cậu, nếu không có cái cao nào, mới là có vấn đề !”
 Gần đây, sau khi về hưu, tôi tập tành viết lách, và sau đó đã trở thành một nhà văn  ( theo định nghĩa khi một người viết có tác phẩm xuất bản ). Nhưng, có một sự liên hệ, mà tôi cho là “kẹt” cho các văn sĩ, là thường được, hay bị ( tùy theo quan niệm của độc giả và chính tác giả nữa) cho là đương nhiên phải là một nhà trí thức, hiểu biết rộng và thông thái !
Tôi xin bác bỏ luận điệu này,và theo thiển ý: một nhà văn, tóm gọn chỉ là một người kể một câu chuyện, cốt mua vui cho thiên hạ, không hơn không kém, y hệt những người đẹp làm cái nghề lâu đời nhất trái đất , vì cả hai đều cốt sao “ Mua vui cũng được một vài trống canh”( Nguyễn Du). Văn hào Tố Như còn nói như thế,xá chi một nhà văn vô danh như tôi,có gì mà phải hãnh diện hay khoe khoang chứ? Có lẽ vì đã từ lâu đời, khi chữ nghĩa còn khó học và hạn chế, khi mà chỉ có vài giới trí thức, học rộng, mới dám viết lách cho thiên hạ đọc, và từ đó, danh hiệu nhà văn vẫn thường lầm lẫn với trí thức và trở thành giới ưu tú trong xã hội. Ngày nay, quý độc giả ghé qua tòa soạn báo Người-Việt , ngay chỗ hành lang, sẽ thấy trên tường,đầy rẫy sách bày bán, người viết có thể nhiều hơn người đọc, có gì để hãnh diện?Theo tôi, một nhà văn, quan trọng nhất là phải tôn trọng độc giả, vì nếu khi họ vừa “kể truyện” mà còn có thêm ý định cổ động hay lên án, đả phá điều gì, như vậy, bài viết không còn thuần túy là văn chương nữa, sẽ chỉ là tuyên truyền và là một vết nhơ, như những bài thơ của Tố Hữu khóc ông Xít-Ta-Lin…
Ở tuổi già, khi tương lai thu ngắn dần lại, người ta thích quay về với quá khứ xa xôi, cố bám lấy kỷ niệm cũ, như tôi đang làm ngày hôm nay :
Ngẫm nghĩ về quãng đời bình thường và tầm thường của mình, duy khởi đầu có một điều bất hạnh: tôi đã mất mẹ khi mới được 4 tháng. Bà cụ tôi qua đời vì bệnh lao sau khi sanh tới đứa con thứ 11. Biến cố này đã ám ảnh tôi rất lâu, nhưng hôm nay, bỗng như trong câu chuyện tái ông mất ngựa, thấy trong cái rủi đó, có thể lại đưa đến cái may khác: như nếu không là một đứa mồ côi mẹ, không chừng tôi đã không gặp và yêu một cô gái trở thành người bạn đời sau này, và đó là sự thiệt thòi vì không chung sống với cái “phần nửa tốt hơn “, my better half, của tôi.
Khi còn trẻ, hay mơ mộng và có chút lý tưởng, tôi nghĩ mình sẽ làm được rất nhiều chuyện “lớn lao”. Chẳng hạn như hoàn thành một cuộc cách mạng, làm thay đổi cả một xã hội, rồi biến thế giới thành một đại gia đình vui tươi, sung sướng, mà trong đó không còn ai khổ đau, giống như những người mác-xít đã thường rêu rao, hay xa hơn nữa trong lịch sử tiến bộ của lòai người thì có Đức Phật giác ngộ chỉ ra cho chúng ta con đường để đạt đến.
Nhưng chắc ai cũng đồng ý với câu “địa ngục được lót bằng những ý định tốt”, và đúng như người cộng sản đã tuyên truyền( tuyên truyền thôi, chứ khi họ hành động thì sai bét rồi mà vẫn ngoan cố không hề biết điều chỉnh). Và chính lịch sử cũng đã chứng minh: những gì không thích hợp với con người, không thuận thảo với lòng dân thì sẽ không tồn tại lâu được. Tiếc thay, mỉa mai thay, chỉ sau khi đã giết hàng chục triệu nạn nhân vô tội rồi phải đợi cho chính con người trên trái đất chủ động khiến cho khối Cộng sản thế giới mới sụp đổ, bằng sự kiện đã xẩy ra ở Liên-Xô và Đông Âu vào cuối thập niên 1980.
Thời thơ ấu, tôi được ông cụ gửi cho đi học một trường Tây gần nhà, nằm trên đường Hồng Thập Tự  (lúc đó có tên là Rue Chasseloup Laubat) và ngày nay nghe nói đã đổi tên nữa: đó là một trường tiểu học mang tên vị thánh Saint Martin de Pallières dành cho con em gia đình binh lính đóng ở thành Ông-Dzèm( đọc theo tiếng Tây là 11èm Régiment, tức Trung Đoàn 11 ) của quân đội thuộc địa của Pháp. Ngôi trường này rất nhỏ, nằm sâu trong trại gia binh của Trung Đoàn( đối diện với thành Cộng Hòa sau này)…Cho đến giờ này, tôi vẫn chưa hiểu tại sao một cái tên dài như vậy mà nó lại đã ăn xâu vào trí nhớ thằng bé 5 tuổi là tôi từ hồi ấy.
Vào ngày tựu trường đầu tiên, không phải bố mà lại là ông anh đưa tôi đến trường, anh ấy sau  là một luật sư, hiện đang ở trên San Jose. Sở dĩ tôi nhớ đến chi tiết này, là vì có thằng nhỏ bạn cùng lớp, nó đã tưởng anh ấy là cha tôi. Tôi vẫn còn nhớ là mỗi lần đau ốm ( tôi bị suyễn kinh niên khi còn nhỏ), cần xin phép thì ba tôi là người cầm cái bút máy viết trên một tờ giấy một hàng chữ Pháp gửi cho bà Đầm dạy tội học. Dường như nhờ đó, tôi bắt đầu mang máng hiểu được sức mạnh của chữ nghĩa. Ông cụ viết những chữ mà hôm nay tôi còn nhớ bắt đầu là : “ Je soussigné…”( tôi ký tên dưới đây …). Nét chữ ông viết rất đẹp, nhưng nếu chỉ nhìn thấy chữ viết ấy thì không thể biết được rằng ông là một người cha vốn lạnh lùng và nghiêm khắc. Hầu như suốt đời tôi chưa hề được ngồi nói chuyện cùng ông; hai cha con như hai đồ vật trưng bày trong nhà, luôn luôn và vĩnh viễn xa cách nhau!
Tôi học ở đấy 1 hay 2 năm, thì được chuyển qua trường Lamartine, cạnh hồ tắm thanh niên, trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, xế ngang trước mặt Sở Thú. Sau cả 70 năm, không biết ngôi trường này có còn  hiện diện ở Sài-Gòn nữa hay không? Hay như mọi thứ trên đời đều vô thường…Có điều lạ lùng là mấy năm học tiểu học trường Tây làm tôi khổ sở, vì không thể nào hiểu nổi văn phạm Pháp văn, nó rắc rối và khó hiểu quá, nhất là đối với một đứa trẻ bình thường như tôi.Và có thể do đó mà tôi đâm ra thù ghét ông tây – bà đầm, cùng tất cả những gì của Pháp. Đối với riêng tôi, họ chỉ là bọn Thực Dân bóc lột…Thế nhưng, sau hằng trên nửa thế kỷ, và nhất là gần đây ( khi qua Mỹ định cư) đã vào tuổi trung niên, tôi tự dưng lại yêu thích du lịch Paris, được nghe và nói bặp bẹ dăm ba câu tiếng Tây đã  học từ lúc nhỏ…; nhất là thích thú khi thăm viếng mấy ngôi làng nhỏ bé miền quê nước Pháp: cảnh trí hiền hòa, êm đềm và cổ kính. Nó có một vẻ xa xưa như trong truỵên cổ tích, và lãng mạn như trong tranh của Renoir! Tại sao? Tôi cũng chẳng hiểu nổi được sự thay đổi phức tạp trong tâm lý của chính mình…
Trong những năm khổ sở ở trường Lamartine, khó khăn khi phải học bằng tiếng Tây, tối đến về nhà,  tôi quay qua tự học lấy chữ quốc ngữ rồi tập đánh vần và viết được tiếng Việt. Được học tiếng mẹ đẻ, tôi như con chim sổ lồng, hớn hở cất cánh tung bay, mà không còn xa lạ như mấy verbe et vocabulaire francaise . Những cuốn Sách Hồng của Tự Lực Văn Đoàn viết dành cho thiếu nhi là lọai sách đầu tiên tôi tập đọc. Từ đó,chữ nghĩa đã mở ra một thế giới kỳ diệu cho đứa bé …Nhưng tất nhiên vì do tự học,  văn phạm và viết lách tôi có phần giới hạn…Cho đến bây giờ, tôi là một nhà văn viết sai văn phạm nhiều nhất trong văn đàn hải ngoại! Hai nhà văn (giúp hiệu đính mấy tác phẩm của tôi ) là PQB và BBH là hai nhân chứng cho sự kiện này.
Cuộc đời diễn ra ít khi hữu lý và công bằng mà thường nhiều mâu thuẫn. Những kẻ côi cút, có một tuổi thơ thiếu thốn tình thương như tôi, khi khôn lớn lại yếu đuối và rất cần được săn sóc chiều chuộng. Đâu giống như bàn chân chúng ta đi đất lâu chai lại,trở nên cứng cáp để chống chỏi với đường đời gian nan. Con tim thì khác hẳn, một khi đã bị xúc phạm rồi thì nó sẽ trở nên yếu đuối cả đời. Tôi thành thật nghĩ, nếu bà cụ còn sống nuôi tôi đến khôn lớn, thì chắc tôi không thể là một nhà văn được.Chỉ có những kẻ cô đơn, mới dễ nhạy cảm và sợ tha nhân, mới phải lo lắng tìm hiểu tâm lý người khác. Dễ bị ảnh hưởng của người xung quanh, nhà văn tò mò chú ý nghe ngóng câu chuyện của thiên hạ để viết lại thành những mẩu văn chương.  Nhà văn William Somerset Maugham có ý nghĩ tương tự, khi ông nói là nếu không mất mẹ sớm thì có lẽ ông đã trở thành một vị Don, giáo sư trường Oxford ( hoặc Cambridge), như người anh ruột của ông.
Tuổi trẻ của tôi không có gì đặc biệt đáng để viết ra đây, ngoài sự kiện là như mấy thằng con trai mới lớn, có nhiều kích thích tố đang lưu hành trong máu nên cũng chú ý đến các cô gái, mà thường bị thu hút bởi sắc đẹp của họ mà lại không có mối tình nào cả. Dễ xúc động thì cũng chóng quên và hời hợt với mọi thứ, chỉ muốn chạy trốn vào mơ mộng, sống với tưởng tượng vì nó đẹp hơn sự thật…
Những năm Trung Học, mỗi niên khóa thay đổi một trường, tôi đã gặp khó khăn với thầy giáo (hay bêu rếu, chế diễu học sinh) và tôi cũng không hợp với sự gò bó của nền giáo dục nhà trường. Không ai có thể chọn được cha mẹ, nhưng ít ra tôi nghĩ tôi có thể chọn được trường mình học.( Đây cũng là hậu quả của sự kiện tôi là út trong một gia đình đông con chăng!?)… Nhưng thế mà thật là kỳ diệu, tôi đã thi đậu hai cái bằng Tú Tài vào lúc 17 tuổi.
Năm 1968 có cuộc tấn công Tết Mậu Thân, đợt I rồi đến đợt II, địch quân đặt tên là Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa (TCK-TKN) , nhưng họ đã không chiếm được lâu bất cứ thành phố nào. Một trong những nguyên nhân là thật sự chẳng có ai khởi nghĩa cả, họ rõ ràng thất bại về quân sự và chính trị trong nước. Nhưng nhờ vào tuyên truyền và sự ngoan cố trợ giúp của hệ thống Cộng Sản Quốc Tế, cũng như phong trào phản chiến nổi lên trong quần chúng Mỹ và chủ trương thay đổi chiến lược của chính phủ Hoa Kỳ mà họ đã biến sự kiện thất bại quân sự của họ thành ra một thành công trên diễn đàn quốc tế! Chính trị vốn đã không còn vẻ lý tưởng như khi còn trẻ tôi thường nghĩ, mà hôm nay, tuổi đã trên 70, tôi biết cốt lõi của chính trị là quyền hành và thế lực, và quyền hành luôn luôn hủ hóa con người…
Ngày nay, kỹ thuật tuyên truyền của nhóm người “mang danh Cộng Sản”còn tinh vi khôn khéo hơn với trò chơi“chụp mũ”và “chia rẽ” cộng đồng, như ta đã thấy đang xảy ra trên các diễn đàn hải ngoại, nhất là ở thủ đô Bolsa…
Khi chiến sự tạm lắng dịu, tôi cùng anh bạn thân leo lên chiếc xe gắn máy Suzuki cũ kỹ, phóng lên Đà-Lạt, hy vọng từ đó xuống Phan Rang thăm bà chị. Nhưng có lẽ thực tâm chúng tôi quyết định đi cốt để chạy trốn, thăm gia đình chỉ là cái cớ, chạy trốn cái không khí ngột ngạt của Sài-Gòn, của chiến tranh, hay một xã hội đầy đau khổ, bất công và phi lý. Không ngờ đang chạy phon phon qua Định Quán, tới Phương Lâm bỗng kẹt lại vì Quốc Lộ 20 bị đắp mô, nhiều đoạn bị hư hại. Chiếc Suzuki mòn nhông nên khi chạy qua bùn lầy cao tới mắc cá chân thì sợi xích cứ tuột ra!…Và, như những cuộc phiêu lưu phải có gian nan và thiếu thốn mới kỳ thú, chuyến đi đã mang đến cho chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên.  Hơn nữa, chúng tôi chẳng có gì trên đời để mất,để sợ cả…Sau ba ngày đường, ngủ bờ ngủ bụi, tới được Phan Rang nắng ấm, gặp bà chị và ông anh rể, cả hai đều ngạc nhiên, trố mắt không tin.Có lẽ chúng tôi là hai người đầu tiên dùng đường bộ từ Sài-Gòn đã tới Phan Rang sau trận Mậu Thân!
Sau ba tuần lễ rong chơi ở Phan Rang với bờ biển Ninh Chữ hiền hòa ấm áp, bà chị đã không cho hai đứa tiếp tục dùng xe gắn máy về Sài-Gòn, nên cho tiền chúng tôi đi xe đò.Nhưng như hầu hết các thanh niên cứng đầu, hay “ngu si hưởng thái bình”, chúng tôi vẫn cứ thế mà xách xe phóng về đến Sài-Gòn.
Tuân thủ lệnh tổng động viên, tôi bị gọi đi lính và thụ huấn Quang Trung rồi Thủ Đức. Có một cựu chiến binh đã phát ngôn: một khi vào lính, dù chỉ một ngày, một tháng đi nữa, cả đời vẫn là lính, y hệt như một khi biết đi xe đạp thì sẽ không bao giờ quên, tôi nhớ mãi đồng đội và kỷ niệm ở quân trường.Trải qua chiến tranh và 7 năm quân ngũ, tôi đã từ biệt vài người bạn thân thiết và ông anh ruột.Họ đã nằm xuống để tôi có thể sống ung dung ở thành phố.Tôi không thể nào quên Cơ và Tường:Cơ là biệt kích nhảy xuống Trường Sơn mất xác. Còn Tường vì muốn tìm chút bóng mát đã đến một cây cao giữa cánh đồng lúa ở Bồng Sơn rồi vướng phải lựu đạn gài dưới gốc cây, anh chết bỏ laị mối tình câm với cô Út hàng xóm của tôi. Cũng như tôi vẫn bị ám ảnh bởi cái chết của ông anh, một người lính Thiết Giáp, độc thân nên tình nguyện lên chiếc GMC đi chuyến công tác thay thế cho một chiến hữu có vợ con, nhưng khi chạy qua mìn của Việt-Cộng, trên con đường làng thuộc tỉnh Cà-Mau, kích hỏa nổ tung khiến xác anh không toàn vẹn. Anh đẹp trai như Tây lai, có vài cô đeo, nhưng chưa có mối tình nào. Anh chết mới 26 tuổi, nếu còn sống, năm nay anh cũng đã 78 tuổi.
Chiến tranh nào cũng tàn nhẫn và phi lý, nhưng chiến tranh vẫn cứ thế mà tiếp diễn trên trái đất khi con người còn tức giận và dã man…Và sự đau khổ không ngừng khi hòa bình trở lại, vì hòa bình của một kẻ đầu hàng, và khi đất nước bị bắt buộc phải ‘thống nhất’, tôi bị sống trong tù đầy và đói khổ.
Khổng Tử, người được mang danh là vị thầy của muôn đời, “vạn thế sư biểu”,  đã cho rằng khi người đã 50 tuổi tất “tri thiên mệnh”, hiểu được chuyện trời đất. Có lẽ vị thầy này có rất ít học trò ngoan, trong đó không có tôi, vì chẳng hiểu nổi chuyện của chính mình, nói gì chuyện trời biển? Chuyện trời đất đã không biết, thì còn nói gì đến chuyện Thượng Đế.
Là một Phật tử không thông hiểu Đạo, nhưng tôi tin trong cái “không” có thể đưa đến “có”, và trong “có” vẫn có cái “không”,tương tự làn sóng trên biển cả, sóng không là biển nhưng cũng có thể coi như là biển.
Vật lý lượng tử (quantum physic) đã chứng minh là thời gian không có điểm khởi đầu hay lúc kết thúc. Như vậy thì không có chỗ cho Đấng Tạo Hóa ( Stephen Hawking trong cuốn The Grand Design)? Cũng là một Phật tử, tôi nhận ra sự nguy hiểm của cái ngã , nhưng tôi không hiểu Đức Phật dậy ra sao về cái ngã, vì tôi đâu có hiểu được Đạo. Dường như, Đạo chỉ có thể cảm nhận qua tu luyện mà thôi? Ông bạn “đắc đạo” hay “giác ngộ” của tôi trên San Jose đã cố gắng giải thích, thuyết pháp cho tôi nhiều lần, nhưng không tài nào tôi hiểu nổi cái ngã là gì. Tôi cho là ( theo sự hiểu biết của kẻ u tối) ngã có thể ví như là cái lòng kiêu ngạo,vị kỷ của cá nhân.Phải chăng mọi đau khổ, như chiến tranh chẳng hạn, xẩy ra do cái lòng kiêu ngạo, tự coi kẻ khác thua kém mình.  Như người Đức khinh và thù dân Do Thái, nên Đại Chiến thứ Hai đã nổ ra? Cũng như bọn người da trắng cho mình cao cả hơn da màu, họ bóc lột người Á Châu và Phi Châu, gây ra chiến tranh chiếm thuộc địa. Và gần đây, có kẻ cho Thượng Đế của họ( Allah) hơn Thượng Đế (God) của tôn giáo khác nên đã mưu toan giết người như giết kẻ thù truyền kiếp .
Tôi ít theo dõi tin tức hàng ngày, vì toàn tin về tranh chấp giữa Đảng Dân Chủ với Cộng Hòa, nhưng để ý thấy rằng trong Quốc Hội Hoa Kỳ, mấy bà dân biểu càng ngày càng đông mà quý bà làm việc hài hòa hơn mấy đấng mày râu, những kẻ chỉ thích xâu xé nhau. Phải chăng ta nên ra Luật cấm đàn ông làm chính trị, để chỉ toàn các bà thôi. Tôi nghĩ được vậy, Thế Giới sẽ thái bình và thịnh vượng hơn! Bên Anh Quốc có Nữ Hoàng, ở Đức có bà nữ Thủ Tướng thì đã sao? Làm cuộc cách mạng ngược đời !
Là một văn sĩ, tôi cũng xin viết vài dòng về công việc viết lách, lý do đưa đến nghề cầm bút, cũng như quan niệm về nghề văn của mình. Chẳng qua bắt đầu cũng từ gia đình mà ra cả : Tôi có 3 ông chú là văn sĩ nổi tiếng, rồi đến ông anh cả cũng là nhà văn dù kém danh hơn. Dưới con mắt non nớt của tôi, đời sống của mấy ông chú  rất ư là lãng mạn hấp dẫn, không kém phần ly kỳ. Kể từ nhỏ, đọc được tác phẩm của các bậc tiền bối, tôi bị ảnh hưởng không ít, và …cũng tập tành viết văn. Nhưng, như đã thưa với quý độc giả ở phần trên, tôi không rành văn phạm, lại nghèo từ ngữ và thiếu tài năng!
Không thể sống như cái bóng của một người khác, và như người xưa ( ông Socrate bên trời Tây ) đã nói “hãy tự biết mình” ! Sự thật quả là phũ phàng khi tôi tự biết mình không thể trở thành một nhà văn.
Điều này đã khiến tôi đau buồn không ít, và ngay từ khi còn là một thanh niên, tôi đã quyết định từ bỏ ý định làm văn sĩ .
Một hôm, lúc16,17 tuổi, tôi bỗng nghĩ ra ở trên đời này không phải chỉ có một thứ nghệ sĩ là các nhà văn, nhà thơ có tài, họ vốn bẩm sinh đã có sẵn khả năng sáng tác, nhưng cạnh đấy, cũng còn có người sở hữu một tâm hồn nghệ sĩ và sống rất bay bướm, dù không viết lách gì cả. Nhóm người này không có tác phẩm sáng tạo, nhưng chính cuộc đời của họ là một tác phẩm tuyệt vời. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến anh bạn Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù NT Út trên SJ, một chiến sĩ bay bướm, đạo Công Giáo nhưng lại thông hiểu Đạo Phật không thua mấy ông sư, anh vốn là một nghệ sĩ chưa chịu viết lách. Ước gì anh viết lại những gì anh đã kể cho tôi nghe…
Viết văn là phải có gì cống hiến độc giả, mua vui cho họ. Nếu không có năng khiếu thì ít ra tôi cũng đã có trên 70 năm kinh nghiệm sống, đã vào tù ra khám, đã đau khổ khóc đứa con nhỏ chết trên tay mẹ nó, trong khi tôi còn đang trong tù ngoài Bắc.Tôi không có tài nhưng được sự giúp đỡ (sửa bài) của hai nhà văn chuyên nghiệp ( nêu trên ) nên mới cho ra đời đến nay được ba đứa con tinh thần.
Đã thất thập cổ lai hy, tất nhiên cũng nên nghĩ đến chuyện hậu sự, tôi cũng đã ngỏ với vợ con rằng : mong sau khi chết,  tôi được cống hiến cái xác xấu xí của mình cho trường Y-Khoa Wright State, một ngôi trường gần nhà mà tôi trước đây có học qua 4 năm, và từ khi ra trường đến giờ chưa bao giờ có dịp trở lại, mặc dầu  vẫn chạy xe qua gần như mỗi ngày! Khi sống, tôi không có gì đóng gòp cho xã hội, ngoài việc đóng thuế đầy đủ hàng năm, vậy khi chết, ít ra cái thân xác này có lẽ cũng giúp cho mấy sinh viên y-khoa biết thực tế cụ thể về cơ thể học. Nhưng tôi cũng thông cảm với bất cứ quyết định nào của bà xã và các con, vì đám ma cốt được tổ chức là cho họ, những người sống, chứ không phải cho cái xác ướp đã bất động nằm đó! Nên tôi dặn thêm là “như em đã từng lo cho anh khi sống bao năm qua rồi thì khi anh qua đời, thôi tùy em liệu định….”
Thường có nhiều người hay hỏi tôi:“Bài học của đời anh truyền lại cho con cháu là gì?”. Tôi xin trả lời: lúc sống đã không làm chủ được hành động của mình,cũng không có tự do ý chí, đời tôi là do định mệnh đưa đẩy như một hệ lụy mà không một ai thoát ra khỏi được, vậy có gì để truyền lại !
 Phải chăng tôi chỉ đóng vai nhà văn Ngọc Cường như một nhân vật trong vở kịch đời mình… Nhưng không biết ai là tác giả nhỉ?