Tiểu sử:

Lý lich tóm tắt: Trần Đại Bản, sinh ngày 25/12/1943 tại Huế, tỉnh Thừa Thiên.

1958 học tại Trường Quốc Học Huế. Năm 1959 theo gia đình vào Đà Nẵng học tại Trường Trung Học Công Lập Phần Chu Trinh, đậu bằng Tú Tài I.

Vào Đà Lạt học lớp Đệ Nhất Trường Trung Học Trần Hưng Đạo.

Sau khi tốt nghiệp làm Hiệu Trưởng Trung Học Tư Thục đệ nhất cấp Đức Trọng/ Đà Lạt/ Lâm Đồng 1962-1963.

Từ 1964-1967: dạy học tại các trường Trung Học Tư Thục Thăng Long, Văn Học.

Trình diện nhập ngũ theo Lệnh Tổng Động Viên năm 1967. Ra trường với cấp bậc chuẩn uý tại Trường Võ Khoa Thủ Đức.

1972-1975: Trưởng Ban Điều Hành kiêm SQ Phụ Tá Phòng Tổng Quản Trị Tiểu Khu Tuyên Đức cho đến ngày đi tản chiến thuật 30/3/1975 ( cấp bậc sau cùng: Đại Uý).

Sau ngày mất nước 30/4/75, trình diện học tập cải tạo (tù cải tạo) và được tha tháng 4/80, trở về địa phương với 3 năm quản chế ( qua các trại tù Tổng Trại 8, Hàm Trí /Tuy Hoà/ Phú Khánh(mật khu Lê Hồng Phong), trại A30/Tuy Hoà/Phú Khánh, với 3 ngàn tù binh từ thiếu uý-Trung Tá và tù hình sự.

Đến HK theo diện HO ( HO1) ngày 22/2/1990.

6/9-7/93: làm việc tại CACI International Inc..,Rosslyn, Virginia, chức vụ: litigation document coding.

7/93-12/12: làm tại các trường Trung, Tiểu Học với nhiều chức vụ khác nhau. Chức vụ cuối cùng là Building Suppervisor cho Trường học (5 năm).

Về hưu 31/12/2012 tại FairHill Elementary School.

2012-2015:Trưởng Ban Văn Nghệ Hội SVSQ/TVKTD.

2016 đến nay: Hội Cao Niên/ Virginia, Uỷ Viên Thường Trực/ Nhiệm kỳ 2 năm:2016-2018.

Tổ chức CTVN/ Hát Cho Nhau Nghe tại gia hàng tháng, đã được 11 lần và tạm nghỉ cho khi hết đại dịch Vũ Hán

Trang Thơ của thi nhạc sĩ Trần Đại Bản

TÌNH YÊU MÃI MÃI

(Cảm xúc khi đọc một bài thơ)

 

Những hạt mưa buổn thánh thót rơi,

Lá thu theo gió rụng bên đồi.

Từng đàn ô thước bay về tổ,

Theo đám mây trôi tận cuối trời.

  

Em ở nơi này, anh ở đâu?

Bao năm xa cách tím thu sầu.

Tình xanh tha thiết đâu còn nữa,

Lỗi hẹn nay đành hẹn kiếp sau!          

 

 Em nhớ ngày xưa anh khẻ nói’

Anh hứa yêu em đến trọn đời.

Hai đứa cùng nhau thề hẹn ước,

Nhìn anh lệ ứa lúc ra khơi.         

  

Rồi tháng năm trôi về dĩ vãng,

Tình yêu muôn kiếp vẫn em mang!

Tình trong giây lát hằn ghi dấu,

Yêu mãi ngàn đời lệ chứa chan.

 

Em hỏi tình này anh nhớ không?

Bao năm xa cách vướng tơ lòng.

Ngưu Lang, Chức Nữ mùa thu đến,

Em vẫn phương này, lệ nhớ mong!

 

Đại Bàng

Trần Đại Bản

ĐÀ LẠT NIỀM THƯƠNG VÀ NỖI NHỚ

 

 

Đà Lạt bây giờ xa quá xa,

Tiếc nhớ, ai không khỏi ngậm ngùi.

Văn Học, Thăng Long, trường xưa cũ,

Đức Trọng, Thăng Long, nhớ một trời.

 

Từ chốn lao tù tôi trở lại,

Thành phố u hoài vắng tiếng ca.

Những người bạn cũ nay đâu cả?

Học trò tản mạn bốn phương xa!

 

Tôi đi trong nỗi niềm cô quạnh,

Người thấy tôi chào- mắt ngó lơ.

Có lẽ người ta vì quá sợ,

Sợ vì liên hệ, phải làm ngơ?

 

Một hôm trên bến xe đò xuống,

Người lính năm xưa ngó sững sờ.

Chạy đến ôm tôi, buồn nức nở :

“Đại uý trông gầy, quá khác xưa!

Đại uý làm gì nên tội nhỉ?

Mà sao tù tội đến bây giờ?”

…………………………………………….

Ba, bốn công an nhìn soi mói,

Vội vàng tôi nói lãng, chặn lời:

“Hôm nào rảnh rỗi anh thăm viếng,

Sẽ cùng tâm sự nỗi niềm riêng.”

 

Vật đổi, sao dời nay mới thấy,

Giáo sư môn toán dạy cùng trường.

Tôi muốn hỏi thăm, thầy ái ngại,

Áo bằng bao cát đã sờn vai!

Xe đẩy, thân, yên đầy bao bị,

Ve chai kiếm sống, kiếp lưu đày!

 

Buồn gởi vần thơ lên trang giấy,

Nhớ về dĩ vãng, tháng năm trôi.

Nay ta yên sống phương trời mới,

Đà Lạt, dành riêng một góc trời.

 

Trần Đại Bản (2013)

 

TÌNH YÊU VÀ MÙA HẠ

Mỗi năm hè đến tôi còn nhớ
Ngày đó còn mang tuổi học trò
Mùa hoa Phượng nở mùa ly biệt
Có kẻ theo chồng tuổi mộng mơ

 

Hạ đến rồi đi, hè trở lại
Bao lần tạm biệt tiễn người đi
Buồn vui lưu bút ghi trang giấy
Kỷ niệm ngàn năm để nhớ hoài

 

Lại một đêm hè trên phố xưa
Gặp người em gái núp che mưa
Hai đứa quen nhau từ dạo ấy
Tình yêu chấp cánh nói sao vừa

 

Mỗi lần hò hẹn anh còn nhớ,
Bóng dáng em xưa vẫn đợi chờ.
Đôi bờ vai nhỏ, ôm hôn má,
Dưới bóng trăng thề vương ý thơ

 

Một hôm em nói theo cha mẹ,
Về chốn quê nhà cách biệt xa.
Hai đưa hai nơi sầu lẻ bóng,
Tình thư trao đổi vẫn đậm đà

 

Ngày tháng xa rồi anh vẫn trông,
Thư xanh em gởi ấm tơ lòng.
Nhưng rồi thư đến không nhiều nữa?
Em bỏ tình anh đi lấy chồng!

 

Tình yêu tuổi trẻ là như thế,
Mấy ai quên được mối duyên đầu?
Tình yêu vĩnh viễn trên trần thế,
Tinh đầu bất diệt, nhớ thiên thu!

 

Virginia, June 4th 2020

Đại Bàng

 

QUÊ HƯƠNG và THẢM HỌA

                          Thơ Đại Bàng

 

Lâu quá không về thăm xứ Huế,

Nhớ ngày cắp sách tuổi còn thơ.

Nhớ trường học cũ bên sông nhỏ,

An Cựu trường xưa vẫn ngóng về.

Thành Nội đền xưa hồn cố quốc,

Tịnh Tâm sen tỏa ngát mùi hương.

Văn Lâu reo rắc chèo khuya nước,

Nam Bình ai oan khúc thê lương.

Mậu Thân giặc đến gây tai họa,

Trương Tiền nhịp gãy cách ngăn đôi.

Mồ chôn tập thể dân vô tội,

Năm ngàn chôn sống bãi tha ma.

Ngự Bình xác chết nằm phơi nắng,

Quanh những đồi hoang vết máu dầy.

Nhà thờ núp bóng người di tản,

Lũ giặc nằm vùng đến trói vây.

 

Vĩ Dạ ngủ say gà chưa gáy,

Bờ lau bụi chuối ngã sau hè.

Giặc về giết hại người đồng loại,

Máu đã vung tràn khắp cỏ cây.

Ai về xứ Huế cho tôi nhắn,

Gửi bó hương hoa đến nguyện cầu.

Hồn thiêng sông núi còn ghi dấu,

Người Huế muôn đời vẫn thấm sâu./.

 

Đại Bàng

Trần Đại Bản

 

ĐẤT NƯỚC TA ƠI!

 

Việt-Nam ta nhỏ bé,

Với lịch-sử lâu đời.

Biển nuôi ta là mẹ,

Mất biển hết ra khơi!

 

 

Mác-Lê nói giải-phóng,

Cho thế-giới loài người.

Thực chất là hoang tưởng!

Trong thế kỷ hai mươi.

 

 

Bốn ngàn năm Văn-Hiến,

Ông cha dựng cơ đồ.

Từ ngày búa liềm đến,

Đất nước càng xác xơ!

 

 

Biển đảo không còn nữa,

Dân tình quá điêu linh.

Bao nhiêu năm mở cửa,

Vẫn chưa thấy bình minh.

 

 

Hiến-Pháp thiếu rõ ràng,

Giải trình theo nhiều lối.

Người dân đưa lên mạng,

Bắt nhốt đồn công-an!

 

 

Luật biểu tình cho phép,

Trong Hiến-Pháp có ghi.

Biểu tình vẫn bị dẹp!

Khi người dân thực thi.

 

 

Bao người dân vô tội,

Dưới chế độ độc tài.

Biến người dân vô tội,

Thành tử tội tương lai!

 

(Bốn câu sau…đấu tranh cho tử tù Hồ  Duy Hài hiện đang được nhiều  người dân trong nước và Hải ngoại ủng hộ)

 

Đại Bàng

Trần Đại Bản

 

THÁNG TƯ ĐEN 

 

 Tháng Tư năm ấy xa rồi,

Nhìn về quê cũ đứng ngồi không yên.

 Tháng Tư là THÁNG TƯ ĐEN,

Bây giờ lãnh đạo càng hèn hơn xưa.

 

Giặc Tàu ức hiếp dân ta,

 Từ trong đất nước, ngoài là biển đông.

Nông dân cực khổ ra đồng,

Đến ngày gặt hái chỉ mong được mùa.

 

Cầu cho mưa thuận gió hòa,

 Mới mong có những đồng ra, đồng vào.

Biển đông sóng vỗ mưa rào,

 Ngư dân đâu có ngày nào bình yên!

 

Đến khi tôm cá đầy thuyền,

Ghe Tàu đến cướp đảng quyền dửng dưng!

Ngư dân khốn khổ vô cùng,

 Đảng ta vẫn cứ lạnh lùng- vô phương!

 

Dân oan nay đứng đầy đường,

Không nhà không cửa những phường xin ăn.

Cô – Na Vũ-Hán tràn lan,

Bao giờ mới có vinh quang ngày về!

 

 Đại Bàng

Trần Đại Bản

Xuân Này Đến – Nhớ Xuân Xưa

 

Mỗi mùa xuân đến hoa đào nở

Đà Lạt năm xưa vẫn nhớ hoài

Tết đến muôn hoa đầy phố, chợ

Ly, cúc, hồng, đào ươm nắng mai

Du khách ngàn phương đến ghé thăm

Trăm hoa đua nở đón xuân về

Những tà áo mới khoe sắc thắm

Tiếng guốc khua vang rộn vỉa hè

Ngày ngày pháo nổ vui đường phố

Già, trẻ hân hoan khắp mọi nhà

Duy Tân, Minh Mạng nhiều xe cộ

Xuân Hương, Thủy Tạ lắm người qua

Đồi Cù réo gọi vi vu gió

Cánh én tung bay tận cuối trời

Trời xanh, mây trắng mùa xuân tới

Bướm lượn, vờn hoa – cũng đợi chờ

Cam Ly thác chảy rền vang tiếng

Hò hẹn xa rồi vẫn nhớ ghi

Tình yêu ngày ấy sao miên viễn

Kỷ niệm sao đành khúc “Biệt Ly”

Đà Lạt bây giờ dẫu khác xưa

Bao năm xa cách vẫn mong chờ

Mùa xuân năm ấy không còn nữa

Sớm hẹn ngày về như ước mơ!

Trần Đại Bản (Xuân 2021)

 

 

Giã Từ Đà Lạt.

        Thơ Đại Bàng
 
Đà Lạt từ nay cách biệt rồi,
Lòng tôi lưu luyến quá đi thôi.
Đường xưa xóm vắng sân trường cũ,
Kỷ niệm trong tôi cả một trời.
 
Những chiều nắng đẹp trên đồi vắng,
Cành lá lưa thưa những đốm vàng.
Xuân Hương mặt nước hồ im tiếng,
Thủy Tạ xa mờ phủ khói sương.
 
Cam Ly thác đổ rền vang tiếng,
Thông reo vi vút lá vàng rơi.
Bích Câu hoa đẹp chiều thăm viếng,
Vạn Kiếp nhớ ghi vẫn muôn đời.
 
Mỗi mùa Xuân đến hoa đào nở,
Du khách mười phương đến ghé thăm.
Đà Lạt niềm thương và nỗi nhớ,
Người về xin gởi những vần thơ.
 
Tôi biết ngày đi khó trở về,
Nghìn trùng xa cách quá Người ơi!
Hẹn ước ngày mai khi trở lại,
Biết còn gặp lại cảnh, người xưa?

Đại Bàng
   Trần Đại Bản

Tình Em Gái Hậu Phương 

(Thân tặng những người yêu lính)

 

Tháng chạp còn mưa bay,

Trời rưng rưng lệ mờ.

Riêng mình em phương nay, 

Riêng mình em bơ vơ.

 

Anh xông pha chiến tuyến,

Em âm thầm quạnh hiu.

Xa xôi rồi kỷ niệm,

Anh còn yêu người yêu?

 

Trời còn mưa bay bay,

Nên hoa đào chưa nở.

Trời dâng buồn heo may,

Trở sầu em gái nhỏ.

 

Đường dài lên Pleiku,

Bao núi rừng cách trở!

Em thương xứ bụi mù,

Người em yêu ở đó!

 

Tháng chạp còn mưa bay,

Đường đi còn ướt nước.

Trời buồn dâng lên mi,

Tình em còn như trước.

 

Đường cao nguyên rừng núi,

Ánh sao trời long lanh.

Em xin làm cát bụi,

Quyện áo chiến ân tình.

 

Trần Đại Bản (Mùa Đông 2021)

VŨ HÁN VIRUS KINH HOÀNG

Cô Na từ Vũ Hán,

Gieo rắc nỗi kinh hoàng.

Ôi hồn ma Vũ Hán,

Gào thét suốt canh thâu.

Những xác thân đổ xuống,

Khắp lối xóm vỉa hè.

Những dịch nhân đến muộn,

Sắp hàng dài lê thê.

Cuối cùng rồi sẽ chết!

Bác Sĩ cũng phải hàng.

Người người đều mỏi mệt,

Biết ai mà kêu than!

Bốn mươi lò hỏa táng,

Liên tục suốt ngày đêm.

Thiêu xác người không ngán!

Bầu trời đầy quạ, kên.

Hỡi Thượng Đế đâu rồi!

Hãy xuống cứu trần gian.

Những người dân vô tội,

Đại dịch đã tràn lan!

Vi-rus từ Chai-na,

Gieo rắc khắp địa cầu.

Thiên tai hay nhân họa?

Loài người đi về đâu?

Đại Bàng

Trần Đại Bản

Virginia, March 20th, 2020

 

Kỷ Niệm Buồn

(Câu chuyện của một nữ sinh Dalat yêu một SQ Trường VBQGDL, mới ra trường không được bao lâu, đã tử trận trong cuộc chiến MHDL 1972)

 

Chiều buồn lang thang theo gió vàng rơi

Đường về mênh mang theo bóng chiều trôi

Xa cách bao năm người ơi

Gởi cánh chim bay về nơi

Kỷ niệm đầy vơi thương nhớ

 

Lòng buồn man mác theo ánh chiều rơi

Lạnh lùng sương rơi che kín hồn tôi

Cánh bướm tung bay trời mây

Bao lá thư xanh còn đây

Kỷ niệm nhớ nhung vô vàn

 

Quê hương dài chinh chiến

Ôi ngày chinh chiến lúc chia phôi

Dù ngày tháng năm dài

Vầng trăng chia cách nay còn thắm duyên

 

Mùa đông năm ấy cây lá tả tơi

Người bạn năm xưa mang đến buồn tin

Anh ấy nay không còn đâu

Chỉ có bao nhiêu vần thơ

Kỷ niệm sẽ không phai mờ

 

Trần Đại Bản (Mùa Thu 2020)

TRƯỚC CUỘC ĐỜI HÔM NAY

Thơ VI KHUÊ.   Nhạc TRẦN UYÊN THI

 

https://www.youtube.com/watch?v=eTCAJyOOlSo&feature=youtu.be

 
Cố Văn Thi Sĩ VI KHUÊ và phu quân cố Nhà Báo CHỮ BÁ ANH có công rất lớn trong việc Phát huy và Bảo tồn VĂN HOÁ VN.
Nhân dịp kỷ niệm ngày Bà vĩnh biệt chúng ta được 2 năm, HT muốn giới thiệu đến quí vị một bài thơ của bà do Nhạc sĩ TRẦN UYÊN THI( ái nữ của Văn Hữu TRẦN ĐẠI BẢN và cũng là cháu ruột của bà )phổ nhạc.
Một điều mà HT rất ngạc nhiên và ngưỡng mộ.TRẦN UYÊN THI phổ nhạc bài hát này khi cô mới 13 Tuổi và trình làng bài hát năm 14 tuổi(Lúc đó cô chỉ học nhạc với Thân phụ)
Với riêng HT cả NHẠC và LỜI cùng Ca SĨ trình diễn đều rất hay.Xin mời quí vị thưởng thức để tưởng nhớ đến VĂN THI SĨ VI KHUÊ.
Thân mến
Hồng Thuỷ
Chúc mừng Văn Hữu TRẦN ĐẠI BẢN và Hiền thê có ái nữ là một Nhạc Sĩ tài hoa.

Kính mời quý vị thưởng thức thi phẩm  của Lê Mỹ Hoàn được nhạc sĩ Trần Đại Bản phổ nhạc.

 

EM VẪN HẸN ANH VỀ

 Thơ: Lê Mỹ Hoàn

Nhạc: Trần Đại Bản

 Ca sĩ: Lý Thu Thảo

Khi Em Đến Tìm Tôi

Thơ: Phan Khâm

Nhạc: Trần Đại Bản

Ca sĩ : Đông Nguyễn

Nhạc phẩm Cùng Em

Thơ Cung Thị Lan

Nhạc Trần Đại Bản

Ca sĩ  Lý Thu Thảo

 

Mùa Xuân Cội Mai Già

Thơ: Phan Khâm

Nhạc: Trần Đại Bản

Ca sĩ : Đông Nguyễn

Kính mời quý anh chị thưởng thức nhạc phẩm 

KỶ NIỆM BUỒN 

do thi nhạc sĩ TRẦN ĐẠI BẢN sáng tác

 

 

Cung Thị Lan upload on May 22,2020, updated on  September 23,2020, February 08,2021