Ngoài giờ công vụ

                                      Đào Hiếu Thảo

Saigon 1972

Để chuẩn bị cho kế hoạch tái thiết và phát triển quốc gia thời hậu chiến, chính phủ và quân lực Việt Nam Cộng Hoà khuyến khích các công chức, quân nhân, cán bộ học hỏi thêm ngoài giờ công vụ. Đạt kết quả xuất sắc trong việc trau dồi thêm khả năng và kiến thức chuyên môn, các viên chức quân, dân, chính được tưởng thưởng xứng đáng như thăng ngạch, trật, cấp bậc và bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng hơn. Ngoài ra, chính phủ cũng cấp học bổng xuất ngoại du học cho những ứng viên tốt nghiệp bậc cử nhân sau một cuộc khảo sát để học bằng Master tại Hoa Kỳ. Một số sĩ quan Không Quân Việt Nam được gởi qua Mỹ theo ngành truyền tin, điện tử, khí tượng, quản trị, tài ngân, giáo dục, khoa học, kỹ thuật…

Một trong những Niên trưởng đi du học Hoa Kỳ là Trung tá Cung Thúc Cần, tức nhà thơ Không Quân Cung Trầm Tưởng được bà con biết đến qua bài thơ nổi tiếng “Tiễn Em” do Phạm Duy phổ nhạc. Tôi có duyên được gặp ông ba lần trong những hoàn cảnh khác biệt, lần đầu là trên chuyến bay hồi năm 1970 từ San Francisco về Saigon, ông Cần mới tốt nghiệp bằng cao học ngành khí tượng ở Colorado, tôi vừa hoàn tất khoá học căn bản ngành thông tin báo chí từ Indiana. Lần gặp nhau sau này là lúc hai anh em cùng bị Việt Cộng dồn xuống tàu Sông Hương tại Tân Cảng Thủ Đức vào tháng 7 năm 1976 để di chuyển ra miền Bắc mà các anh em gọi là đi “Đại Hộc Máu” lấy bằng “Phó Tiến Sĩ Lao Động Khổ Sai”. Trung tá Cần và tôi không gặp nhau trong ngục tù nào ở miền Bắc cho đến khi Việt Cộng phóng thích tôi năm 1981. Rời những trại tù ngoài Bắc, xuôi Nam rồi đến trình diện xin việc tại Trung Tâm dịch thuật ở đường Pasteur, Saigon, tôi gặp lại ông ở đây, nơi mà nhiều trí thức thời VNCH chờ đợi  hàng ngày, mong có được một việc làm chính thức để được vào “hộ khẩu” tức tờ khai gia đình và có nghĩa là mua được gạo theo tiêu chuẩn với giá chính thức thay vì ngoài chợ đen đắt gấp 10 lần, được trả lại “quyền công dân” và không bị đày đi “Vùng Kinh Tế Mới” ở Miền Tây, Miền Đông, Vùng Cao Nguyên nơi rừng thiêng nước độc để khai khẩn đất đai, làm ruộng, đào kênh, chăn nuôi, đốn gỗ…

Trở lại chuyện chuẩn bị cho thời kỳ hậu chiến, ngoài các sĩ quan xuất ngoại du học, nhiều bạn trong khoá Không Quân chúng tôi được gởi về Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ học các ngành kỹ sư công chánh, công nghệ, hoá học… Tất cả đều hưởng lương theo cấp bậc hiện tại trong lúc học toàn thời gian. Tôi không được cái may xuất ngoại du học hay học tiếp trong nước vì không có học bổng ngành khoa học nhân văn, báo chí, ngoại ngữ hay văn chương nên tôi chỉ có thể tự túc trở lại trường sau giờ hành chánh.

Sau khi hoàn tất khoá học thông tin báo chí, từ Mỹ trở về nước năm 1970, tôi ghi tên theo học Ban Pháp Văn tại Đại Học Văn Khoa Saigon. Tuy nhiên trong nhiệm vụ binh nghiệp đầu đời, làm phóng viên chiến trường, sĩ quan thông tin, giao tế báo chí, tôi thường đi công tác xa trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật, có khi ở các mặt trận ngoại biên, mà trường Đại Học Văn Khoa thì lại không hoạt động ngoài giờ hành chánh nên việc học hỏi của tôi lúc ấy rất khó thực hiện.

Đến năm 1972, Viện Đại Học Vạn Hạnh của Giáo Hội  Phật Giáo Thống Nhất mở ra nhiều phân khoa và môn học mới,  trong đó có Ban Báo Chí thuộc ngành Khoa Học Nhân Văn do Giáo sư Nguyễn Đăng Thục làm Khoa Trưởng. Thầy Thục từng là Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Saigon và giảng dạy  môn Triết, Văn Chương, Văn Minh Việt Nam mà tôi từng theo học.

 

Để tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời khuyến khích những quân nhân, công chức muốn học thêm, Đại Học Vạn Hạnh Saigon chấp thuận cho các ứng viên đã hoàn tất chương trình hai năm đầu đại học được thu nhận vào ngay năm thứ 3 để theo học hai năm chót bậc cử nhân. Đại Học Vạn Hạnh cũng tổ chức những lớp học ngoài giờ hành chánh và mở cửa suốt ngày thứ bảy.

Nhờ những sáng kiến được đại học tư thục này áp dụng mà giới “sinh viên già” gồm các công chức, quân nhân, cán bộ như chúng tôi hưởng ứng nhanh chóng. Trong ngày khai giảng niên khoá mới, lúc bước vào lớp học buổi tối tôi thấy rất nhiều anh em trong quân phục thuộc Hải, Lục, Không Quân, Cảnh sát Quốc gia, vài anh thương phế binh ngồi cạnh các bạn trẻ sinh viên thuần tuý vừa xong năm thứ 2 Ban Báo Chí. Một trong những người bạn học là Hải quân Đại uý Nguyễn Văn Tần, sau này có lúc anh là Chủ tịch Cộng đồng người Việt Quốc Gia tại Vùng Washington DC, Maryland và Virginia. Anh bạn quân nhân thứ hai là Thiếu tá Tạ Trần Quân, xuất thân khoá 17 trường Võ bị Quốc gia Dalat, nguyên là Tuỳ viên Quân sự toà đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Malaysia. Vợ anh là chị Nguyễn Thị Ngọc Oanh, đã tốt nghiệp Cao học Ngoại giao cũng ghi tên cùng theo học.

 

Nhiều bạn học khác đã tốt nghiệp bậc cử nhân từ các trường luật, văn khoa, kỹ sư Phú Thọ, quốc gia hành chánh, sư phạm cũng cùng học tiếp hai năm cuối Ban Báo chí, đây là một môn học mới, thực dụng mà các trường đại học của chính phủ chưa có.

Năm 1972 là thời điểm “đắc địa” đối với tôi vì tôi được chuyển qua Phòng Tâm Lý Chiến giữ nhiệm vụ biên tập, phát thanh, truyền hình, thoát khỏi sự chèn ép của Trung tá Đ T D, Trưởng Phòng Thông Tin & Báo Chí/Bộ Tư Lệnh Không Quân.  Cùng năm, tôi được thăng cấp Trung uý hiện dịch và bổ nhiệm làm Quyền trưởng Khối Cổ động Tuyên truyền. Thời gian ấy tôi cũng được Bộ Tổng Tham Mưu và Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị/ Quân lực Việt Nam Cộng Hoà cấp phép cho hành nghề tư ngoài giờ công vụ để đọc tin tức, thời sự tại hai đài phát thanh và truyền hình Saigon vào ban đêm. Ngoài ra tôi cũng được hưởng sự châm chước của cấp trên nên ít khi phải tham gia vào công tác trực gác, ứng chiến, phòng thủ căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất. Một chiến hữu luôn giúp đỡ, thay thế tôi trong các phiên ứng chiến, trực hành quân là Trung uý, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông. Lúc tôi mới về phục vụ Chiến Tranh Chính Trị Không Quân năm 1970, anh Đông mang cấp bậc Trung sĩ và có thời gian anh làm việc với tôi. Anh thuộc gia đình khoa bảng có cha và vợ đều là nhà giáo, anh Đông rất hiếu học, mê đọc sách, tôi khuyên anh nên tự học thi lấy bằng tú tài để có cơ hội vươn lên. Sau đó, anh Đông thi đậu liên tiếp tú tài I và II Ban Văn Chương rồi ghi tên học Đại Học Luật Khoa Saigon. Vì có người anh ruột là Đại uý Biệt Động Quân, đầu hàng cộng sản, nên anh Đông không được theo học khoá sĩ quan vì lý do an ninh. Về sau, nhờ tinh thần phục vụ đắc lực, khả năng vượt trội, tư cách gương mẫu, Trung sĩ Phan Lạc Giang Đông được gởi đi học khoá sĩ quan đặc biệt Thủ Đức và được Thượng Cấp can thiệp cho anh trở lại làm việc trong ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân.

1975 đến – Sau sáu năm tù lao động khổ sai, anh Đông trở về Saigon, gia đình lâm cảnh khó xử, éo le nên anh vượt biển tìm tự do và tới định cư tại Seattle, Washington Hoa Kỳ giữa thập niên 80. Anh em chúng tôi cứ hẹn gặp nhau tại Washington DC, nhưng dịp may đã không bao giờ đến! Bạn thân của tôi, nhà thơ nổi tiếng Phan Lạc Giang Đông, một chiến hữu ưu tú của ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân đã ra đi cách đây gần 20 năm.

Tiếp tục với chuyện học hỏi thêm, sau giờ tan sở hàng ngày từ căn cứ Tân Sơn Nhất tôi đến thẳng trường đại học Vạn Hạnh vào buổi chiều, nghe thầy cô giảng, làm bài tập, thuyết trình… Các vị giáo sư gồm có quý thầy cô: Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Lê Thái Bằng, Nguyễn Văn Ngôn, Trần Như Tráng, Huỳnh Văn Tòng, Nguyễn Đăng Thục, Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Tường Tâm, Đại tá Nguyễn Đình Tuyến, cô Nguyễn Dương Xuân… Cô Xuân phụ trách môn Anh Văn thực hành là cựu sinh viên ngành cao học giáo dục tại Indiana University ở Bloomington, tôi có dịp gặp cô cùng các bạn sinh viên Việt Nam khác trong tiệc mừng Xuân đầu năm 1970 tại Indianapolis, Indiana, Hoa Kỳ.

Các môn được giảng dạy gồm có: đàm thoại, phiên dịch hai sinh ngữ Anh và Pháp, chính trị học, kinh tế, kỹ thuật viết tin, phóng sự, xã luận, nhận định thời cuộc, nhiếp ảnh, quay phim, thu và phát thanh, bang giao quốc tế, hành chánh, công quyền, thực tập phỏng vấn, nghệ thuật nói chuyện trước công chúng…

Cái may là hầu như toàn bộ những môn học vừa kể rất quen thuộc với tôi, một khi đã theo học ban Pháp Văn Đại Học Văn khoa Saigon, trường Thông tin & Báo chí Hoa Kỳ, cộng với kinh nghiệm của nhiều năm làm xướng ngôn viên đài phát thanh và truyền hình Saigon cũng như công việc đảm nhiệm hàng ngày trong các Phòng, Ban thuộc ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân.

Lớp học có trên 100 nam nữ sinh viên được chia thành nhiều nhóm để cùng nghiên cứu, ôn bài, thuyết trình, luyện thi. Ngoài ra còn có những lần đến thăm các đài phát thanh, truyền hình Saigon, đài phát thanh quân đội, cơ sở báo chí, ấn quán, phim trường…

Nghệ thuật nói chuyện trước công chúng là môn tôi được học hỏi kỹ lưỡng từ trường DINFOS bên Hoa Kỳ, nên nhóm chúng tôi tại năm thứ ba Ban Báo Chí, Đại Học Vạn Hạnh Saigon thường có ưu thế mỗi khi tranh tài về môn thuyết trình. Trong lúc hội họp bàn bạc, chúng tôi đồng ý với đề nghị của nhóm là sử dụng nhiều bản vẽ hoặc hình ảnh đầy đủ màu sắc, ghi rõ dàn bài từng bước một cho mỗi đề tài quảng cáo cộng thêm âm thanh khi có thể.

Nhờ công trình nghiên cứu tập thể, chuẩn bị các trợ huấn cụ, biên soạn và in các tài liệu tóm lược về nội dung thuyết trình, anh chị em được phân công, mỗi người lo soạn một đoạn văn, tìm những hình ảnh phù hợp để dẫn chứng cụ thể, thực hiện giá thuyết trình để sinh viên trưởng toán trình bày từng chi tiết (như kiểu power point của thời hiện đại) giúp cử toạ tiện theo dõi nội dung muốn truyền đạt. Toán của chúng tôi đoạt giải nhất qua đề tài “Quảng Cáo Thương Mại tại Việt Nam”.

Chúng tôi đã chứng minh được rằng câu nói truyền khẩu “Hữu Xạ Tự Nhiên Hương” là lỗi thời và không chính xác.  Mời quý đọc giả  cùng chúng tôi nhớ về khung cảnh của thủ đô Saigon trên nửa thế kỷ trước:

Bà con chúng ta vẫn biết là từ lúc lọt lòng mẹ, đứa bé ngoài sữa mẹ đã cần đến sữa bột Guigoz, bình sữa plastic an toàn, tã lót thấm nước nhanh. Đến khi trẻ đi học thì cần bình mực không đổ Hondo, bút Bic Hồng Hoa rất bền, quần áo kiểu Pháp hiệu Du Jardin… Lúc người lớn nhức đầu, xổ mũi thì cần dầu cù là Mac Xu, khuynh diệp của bác sĩ Tín,  đau yếu thì dùng thuốc bổ Multivitamin của Dược sĩ Cao Thăng, muốn trắng răng nên chọn kem Perlon, Hynos… Áo dài đẹp phải tới nhà may Thiết Lập, đường Pasteur, veston khéo nên tìm đến hiệu may Quân, trên đường Catinat, xe gắn máy thì dùng Vespa lịch lãm, xe hơi thì nên sắm Peugeot 403 của Pháp, ít tốn xăng. Cuối cùng thì lúc nhắm mắt, xuôi tay có hiệu bán hòm Tobia, đường Hai Bà Trưng là đắt khách nhất…Hình ảnh minh họa của những sản phẩm kể trên được nhóm chúng tôi sưu tầm để minh chứng cho bài nói chuyện được phong phú và thu hút.

Kết luận là tất cả những sản phẩm mà con người cần đến hàng ngày, trong suốt cuộc đời này được khách hàng biết và tìm đến đều là nhờ  quảng cáo mà nổi tiếng và đắt hàng.

Vậy quảng cáo thương mại thật sự là cần thiết, hữu ích cho con người chứ không phải theo quan niệm cũ là Hữu Xạ, Tự Nhiên Hương”.

Qua khóa học này làm tôi nhớ tới người bạn học thân thiết, tốt bụng là Thiếu uý Không Quân Hoa Kỳ Larry Kieffer, cùng học với tôi tại Indiana năm 1970, anh xuất thân từ một hạ sĩ quan, nhờ tinh thần cầu tiến, óc hiếu học mà Larry đã đậu bằng tiến sĩ môn quảng cáo. Việc chí tâm học hành đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời của anh, từ đó tôi cũng nghiệm ra rằng quyết định học thêm ngoài giờ công vụ cũng sẽ dẫn tôi đi trên một con đường khác hy vọng là sẽ thoải mái, vững chãi hơn.

Sau khi tốt nghiệp bằng cử nhân  Khoa Học Nhân Văn, Ban Báo Chí, tôi trúng tuyển vào năm thứ nhất Ban Cao Học Quản Trị Doanh Thương thuộc Viện Đại Học Minh Đức. Chưa xong năm thứ nhất thì Miền Nam Việt Nam bị cộng sản Bắc Việt thôn tính vào ngày 30 tháng tư đen năm 1975 gây ra cuộc “đổi đời, nước mất, nhà tan” chưa từng có trong lịch sử nước nhà, khiến hàng trăm ngàn quân nhân, công chức bị cầm tù, hàng trăm ngàn đồng hương phải bỏ thân ngoài biển cả trên bước đường tìm tự do. Cùng với bao chiến hữu khác, tôi bị Việt Cộng đày đọa trong các trại lao động khổ sai hai miền Nam Bắc suốt 6 năm trời.

Năm 1982 – Nhờ những năm cố gắng học thêm văn hóa, trau dồi kiến thức mà khi đến định cư tại Bruxelles, vương quốc Bỉ tôi may mắn được làm công chức trong ngành giáo dục, sau đó qua Hoa Kỳ làm công việc truyền thông. Tôi thật sự tin tưởng là con người có số mạng, có sự an bài của Ơn Trên và điều mà người xưa từng dạy “có công mài sắt, có ngày nên kim” là câu châm ngôn bất di, bất dịch.

                                      Đào Hiếu Thảo/ Th2