Những Chân Tình Không Thể Nào Quên

Pháp 

Paris và Nevers

Ngày 9 tháng 9 năm 2014

Sáng nay, sau khi ăn sáng,  anh Dần và Như Ý đưa vợ chồng tôi về Nevers, nơi gia đình cô chú tôi định cư khi sang Pháp. Trên đường, anh Dần ghé  Château de Sancerre để chúng tôi thưởng lãm  cảnh đẹp của các cánh đồng nho  đồng   thời cho chúng tôi có dịp  thưởng thức rưọu nho đặc biệt ở vùng này.
 Thế nhưng, khi đến nơi, chúng tôi không gặp chủ nhân nào trong những ngôi nhà lớn sát  cạnh nhau. Với những số điện thoại cầm tay lưu tại  trước các ngôi nhà trống vắng, anh Dần gọi cho họ biết chúng tôi muốn thăm ruộng nho  và mua rượu nho của họ.Nhưng, câu trả lời đều là ” Sẽ trở về khoảng 2 giờ!”
Không thể chờ lâu, chúng tôi đành chụp hình vài nơi trong khu nhà ở.  các ruộng nho trước khi tiếp tục lên đường. Một điều tôi học được từ các ruộng nho này là nho trồng hàng lối theo gốc chứ không theo giàn như ở Việt Nam.

Rời Château de Sancerre , chúng tôi thẳng đường đến Nevers.  Nevers là nơi cho tôi nhiều ấn tượng hơn cả Paris bởi vì tôi thường  nắn nót  trên bì  thư gửi cho cô  khi viết thư dùm bà nội đồng thời khi tôi mở bì thư  viền xanh đỏ có chữ Nevers ở  địa chỉ cô  khi nội trao cho và bảo đọc thư cô cho  nội nghe. Qua những lá thư cô gửi về,  tôi đã cảm nhận cái lạnh của mùa Đông ở Nevers như thế nào và cô đã phải cực nhọc ngâm tay vào nước thường xuyên khi làm thức ăn bán cho tiệm ra sao. 

 Nó là nơi tôi hứa với lòng sẽ đến  khi du lịch Pháp nhưng rồi tất bậc với bao nhiêu  việc làm khi đến Mỹ , tôi đành để  ước mơ trôi đi theo thời gian. Bây giờ được đứng trước tiệm ăn cũ của cô chú, tôi lâng lâng một nỗi buồn và xót xa.Tiệm ăn   nay không còn là tiệm  của cô chú và cũng còn  là tiệm ăn nữa. Chủ nhân mới dùng tiệm này để bán sách nhưng  vẫn giữ bảng hiệu Restaurant Nha Trang; do đó, tôi may mắn  có cơ hội chụp hình làm kỷ niệm.

Restaurant Nha Trang! Chữ Nha Trang làm tôi xúc động. Có lẽ  cô chú luôn luôn hoài niệm về   Nha Trang yêu dấu cho nên  mang quê hương mình  đến tận nơi đất Pháp này. Tôi không hiểu  sinh hoạt của tiệm ăn Nha Trang như thế nào trong ba mươi năm trước  nhưng bùi ngùi khi thấy bây giờ nó chỉ còn di tích tạm thời  ở Nevers.  Theo qui luật đổi thay của thời gian, những người tạo dựng ra nó không  còn trên đời để tiếp tục  để rồi nay mai nó sẽ thay đổi thêm nữa và có thể không còn di tích gì nữa cả!Chúng tôi, mỗi người theo đuổi theo ý nghĩ riêng, lặng lẽ chụp hình  chung vài tấm hình rồi cùng nhau lên xe.  Như Ý nói là đưa chúng tôi đến nghĩa trang viếng mộ  cô chú. Restaurant Nha Trang  và nghĩa trang nơi cô chú tôi yên nghỉ tại Nevers là  hai nơi tôi ước ao đến viếng  nhưng tôi đã không nói ước vọng của mình với Như Ý. Cho nên ,khi được anh Dần và Như Ý đưa đến đây, tôi thầm biết ơn sự tế nhị và chu đáo của vợ chồng cô em họ này. Trước tấm bia của cô chú, tôi thầm  tiếc là tôi  không  thể sắp xếp thời gian sang Pháp thăm cô chú sớm hơn. Lúc đó có lẽ tôi sẽ được nhiều kỷ niệm vì được sinh hoạt  cùng gia đình cô chú và  các em họ. Giờ đây tôi chỉ còn  biết    vuốt ve  lên bia đá để tỏ lòng thương nhớ.

Rời nghĩa trang, anh Dần chở chúng tôi đến đền thánh Bernadette. Qua lời anh Dần và Như Ý,  thánh Bernadette rất linh thiêng cho nên ai đến Nevers đều mong ước đến viếng và cầu nguyện. Tôi không biết mô tê gì cho nên nghe như thế tôi rất cảm động.  Thì ra khi sắp xếp ngày nghỉ  cho chuyến đi chơi hôm nay, vợ chồng Như Ý chú tâm đến lợi ích  cho chúng tôi. Hai người muốn vợ chồng tôi được dịp thăm viếng những nơi mà ai du lịch  Pháp cũng hằng mong ước đến. 

Theo hướng dẫn của anh Dần và Như Ý, chúng tôi đến thắp nến cầu nguyện thánh Bernadette. Lúc này trong đầu tôi gợi lại chuyện  cô tôi kể cho nội tôi nghe về  chuyến hành hương viếng thánh linh ở Lộ Đức . Lời thư đầy  hãnh diện và hào hứng  của cô đã khắc sâu cho tôi ấn tượng về một nơi  hết sức đặc biệt mà cô được từng đến.  Ký ức này đã nhắc nhở cho tôi biết thánh Bernadette linh thiêng như thế nào khiến tôi  thành tâm cầu nguyện Người  phù hộ  gia đình tôi luôn an bình và những đứa con của tôi luôn luôn thương yêu nhau.   

Sau đó, tôi đến nhà nguyện  nhưng chỉ được ngồi bên ngoài cùng  mọi người khấn nguyện bên ngạch cửa rồi đến  phòng trưng bày.

Qua tìm hiểu tôi biết được rằng

Thánh Bernadette sinh trưởng tại Lourdes, là con gái con đầu tiên của  Francois và Louise Soubirous. Trước khi phong thánh  tên cô tên là Marie-Bernarde (Bernadette) Soubirous . Là cô gái ốm yếu lại mang chứng bệnh suyễn mãn tính nhưng Bernadette phải làm việc vất vả phụ cha mẹ nghèo. Năm cô lên mười ba, cha mẹ gửi cô đến nhà bà mẹ nuôi của cô tên Marie Arevant ở miền núi lân cận. Một năm  sau, Bernadete quay trở lại Lourdes và được nhận vào trường công giáo do các nữ tu dòng Bác Ái đảm nhiệm.

Lúc này gia đình nghèo  Soubirous được chuyển sang sống trong một căn phòng duy nhất của khu đổ nát tại  Rue des Petits Fosses của thị trấn Lourdes gần biên giới Tây Ban Nha, nơi những ngọn núi Pyrenees  đồng bằng. Từ vách đá  cheo leo xung quanh Lourdes, có một gò đất cao Massabeille, một gò đất lớn nhô, đối diện với dòng sông có một khe hở hình vòm dẫn vào một hang động khá lớn. Năm Bernadette 14 tuổi,  khi Bernadette đi học về mẹ cô cho phép cô đi xuống sông nhặt củi cùng hai con của hàng xóm, đi với cô. Khi ba cô gái đến Massabeille, hai cô bé hàng xóm cởi giày  để lội qua sông thì  Bernadette đứng đàng sau lột vớ. Bỗng cô tiếng động nên nhìn lên phía hang. Cô nhìn thấy một cô gái trẻ xinh đẹp giữa làn sương mù vàng sáng rực. Cô gái này mỉm cười và vẫy tay ra hiệu cho Bernadette. Sợ hãi, Bernadette rút  chuỗi tràng hạt đọc tụng và cô gái kia biến mất vào trong hang động. Sương mù vàng  cũng biến mất với cô. Các cô bạn hàng xóm  quay lại thấy đang quỳ, một say mê, cái nhìn xa xăm trên khuôn mặt của cô. Họ mắng cô, nghĩ cô đã cầu nguyện không đúng chỗ, không đúng lúc để tránh chuyện nhặt củi. Ám ảnh với chuyện chứng kiến,  Bernadette muốn trở lại Massabeille vào ngày hôm sau, nhưng mẹ cô không cho. Khi Bernadette kể cho cha mẹ nghe sự việc.  Họ cho rằng đó chỉ là ảo giác.Tuy nhiên, chủ nhật sau đó, khi Bernadette xin phép đi thì cha cô cho phép với điều kiện cô phải  lấy một bình nước thánh . Thế là Bernadette rủ theo  một số bạn bè đi cùng mình. Cô quỳ trước hang động và cảnh tượng như trước lại hiện ra. Trên đường về ,các cô gái vui mừng, đồn ầm những gì họ chứng kiến với những câu chuyện kể  khác nhau. Chuyện kỳ lạ này lan rộng đến tận  tu viện, đến nỗi mẹ bề trên phải nghiêm khắc cấm  tu viện bàn tán đến vấn đề này. Và Marie Therese Vauzous, cô giáo của Bernadette, cảnh cáo cô kh ông đả động chuyện này nữa. Thế nhưng vào ngày thứ năm 18 tháng 2, Bernadette trở lại hang động với 2 người ở Lourdes cùng đám đông lớn người dân tụ tập trên Massabeille. Chính quyền dân sự không bằng lòng , đe dọa gia đình Soubirous. Cảnh sát triệu Bernadette đến văn phòng cảnh sát địa phương thẩm vấn và hy vọng Bernadette thừa nhận sự việc chỉ là một trò lừa bịp tinh ranh. Nhưng Bernadette  nhất định khăng khăng với điều mình chứng kiến. Các nhà chức trách tiếp tục cố gắng mua chuộc Francois và Louise Soubirous bằng những món quà có giá trị  và lương thực nhưng đều bị từ chối

Vào ngày Chủ Nhật, 21 tháng Hai, một số người đã đi với Bernadette đến hang động.  Cô Gái (Đức Mẹ )  hiện ra nói với cô rằng: “Bạn sẽ cầu nguyện với Thiên Chúa cho các tội nhân.”Vào ngày 26 tháng 2 sau khi Bernadette  bị thôi miên trước sự xuất hiện của  Cô Gái (Đức Mẹ ) , nàng bò đến Cô Gái (Đức Mẹ )  và phát hiện rằng ở hai bàn tay trần của Cô Gái (Đức Mẹ )  nhỏ những giọt nước. Theo chỉ dẫn của Cô Gái (Đức Mẹ )  cô uống và rửa mặt. Một con suối nhỏ lộ diện từ hang động và  ngày hôm sau nó tiếp tục phun ra rồi không ngừng chảy dần xuống sông. Những người chứng kiến cho  là  một phép lạ do Bernadette phát hiện được.

Ngày 02 tháng 3 Bernadette nhìn thấy Cô Gái (Đức Mẹ )  hiện ra lần thứ mười ba. Đó là ngày này Cô Gái (Đức Mẹ )  truyền cho Bernadette  hãy nói với các linh mục hãy xây một nhà nguyện và tổ chức đám rước. Bernadette không có ý thức gì về vấn đề này nhưng cũng phải tuân theo  ý c ủa Cô Gái (Đức Mẹ )  về  vấn đề lo  việc chữa bệnh ở Lourdes.

Vào ngày 25, Bernadette trở lại hang động vào lúc bình minh. Khi Cô Gái (Đức Mẹ )  hiện ra ,Bernadette hỏi: “Bạn có vui lòng cho tôi biết bạn là ai không?” Câu hỏi được lập đi lập lại thêm hai lần thì Cô Gái trả lời: “Ta là Đức Mẹ Vô Nhiễm Ta muốn có một nhà nguyện ở đây. ” Câu trả lời này khi được Bernadette thuật lại  đã tạo ra một sự phấn khích hết sức lớn địa phương.Nh ưng m ọi cố gắng cho sự xây đựng nơi trang nghiêm thờ phượng  đã bị chặn bởi chính quyền thị trấn.

Trong khi đó, tin tức về các diễn biến tại Lourdes  đã đến tai giáo hội và những người chức quyền. Các giám mục, ngay cả Hoàng đế Napoleon III và vợ ngoan đạo Eugenie. Và ngày 3 tháng 10 thị trưởng thành phố Lourdes, theo lệnh từ trên cao, cho  hang động mở cửa trở lại. Người ta nghĩ là  hoàng hậu Eugenie đã c ó  tiếng n ói hết sức trọng lượng cho quyết định này. Đây là phản ứng phù hợp với nhu cầu của người dân đối với một ngôi đền linh Bernadette nhưng để tránh số khách đông đúc, Bernadette đến tu viện sống.

Vào tháng Chín, 1878, Bernadette tuyên khấn vĩnh viễn và cuối cùng của mình. Sức khỏe  của Bernadette ngày càng yếu dần nhưng tinh thần cô rất mạnh mẽ.  Trong hai năm cuối cùng của cuộc đời một khối u phát triển trên một đầu gối, sau đó là sâu răng của xương. Cô phải chịu đựng đau đớn từ chứng bệnh này sang chứng bệnh khác trong khi  cô vẫn phải chịu đựng từ sự tò mò của người lạ đến thăm. Không chỉ các nữ tu và linh mục đến với Nevers nhưng nhân vật nổi tiếng từ Paris và các bộ phận khác của Pháp đã đến để xem cho mình những Bernadette nổi tiếng hiện nay.

 Ngày 16 tháng 4, năm 1879. Bernadette nằm chết trên giường  trong  cơn đau thắt, Bernadette ép cây thánh giá gần cô, và khóc, “Tất cả điều này là tốt cho Thiên đường!” Chiều hôm đó, khi các nữ tu của tu quỳ quanh giường của cô để lặp lại những lời cầu nguyện cho những người hấp hối, họ nghe thấy cô nói bằng một giọng thấp, “Phước cho Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, cầu nguyện cho tôi! Một kẻ tội lỗi người nghèo!”   

Bernadette mất lúc mới 35 tuổi.  Cơ thể của Bernadette  được đặt trong một chiếc quan tài đã được niêm phong, sau đó chôn cất gần nhà thờ Thánh Giuse.

Sau ba lần khai quật, (tháng Chín năm 1909, tháng Tư năm 1919 và tháng Tư năm 1925) người chứng kiến  đều kinh ngạc khi thấy thi hài của thánh Bernadette  vẫn nguyên vẹn , không mùi xú uế.
Năm 1925 Giáo hoàng Pius XI đã chính thức phong Thánh cho Bernadette.

Trong lần khai quật thứ ba vào năm 1925, công ty của Pierre Imans đã trải sáp  sáng cho khuôn mặt và bàn tay  vì sự đổi màu da của chúng. Sau khi phủ sáp, người ta đặt di hài cô vào hòm pha lê.

 Chiếc hòm pha lê  của Bernadette được bảo quản trong nhà nguyện của  Tu viện St. Gildard của Nevers. Bây giờ được gọi là “Espace Bernadette Soubirous – Nevers”.

Đến lúc này  tôi mới hiểu thêm rằng tôi thích đến Nevers không phải chỉ là nơi cư ngụ của cô chú tôi, không phải Nevers là thành phố của nghệ thuật  mà Nevers là nơi  hết sức đặc biệt,  một địa điểm hành hương quan trọng, thu hút hơn năm triệu người hành hương mỗi năm.

  Tự hào biết bao tôi đang  hiện diện tại  Espace Bernadette Soubirous, nơi thi thể  của thánh Bernadette Soubirous đang  được bảo tồn và chiêm bái. Và sung sướng biết bao khi tôi được cầu  thánh ban cho những điều  mà tôi hằng mong đợi.

Chúng tôi rời Nevers gần một giờ trưa. Hoa , em kế Như Ý, gọi liên tục và trách Như Ý không quan tâm đến bữa trưa cho chúng tôi. Còn tôi cảm thâý no vì quá sung sướng! Tôi đã  có một buổi sáng  hết sức ý nghĩa.Ba mươi phút sau chúng tôi đến nhà Danh Hoa. Danh đón chúng tôi ngay tận cửa.  

   

Và chúng tôi vui vẻ chụp hình chung làm kỷ niệm. Gần 40 năm tôi mới gặp lại Hoa, cô em họ bé tí mà ngày xưa tôi hay gọi là “Bé”Mới ngày nào Bé còn cô bé tí teo và tôi cùng Như Ý( Chị kề    Bé), Bé , Bảy( em trai Út của Bé)  chơi Cá Sấu Ăn Thịt Người, chơi Xan xi mà giờ đây cô  Bé Hoa là chủ nhà hàng và có  những đứa con thành đạt trong ngành y.


Hỏi thăm Bé mới biết Bảy giờ mở nhà hàng ở Bỉ chứ không còn ở Pháp.  Và hỏi thêm thì biết Bảy ở gần nhà anh Tín và Minh Trang cho nên tôi rất tiếc  là không biết để nhờ anh Tín chở đến  thăm Bảy khi đến Bỉ.Tay bắt mặt mừng xong, Danh Hòa mời chúng tôi vào dùng cơm trưa ngay. Vợ chồng cô em họ này đã cho   cho chúng tôi thưởng thức nhiều món ngon đặc biệt của quán.

 

Ăn các món éch xào lăn, bò xào xả ớt , bánh tráng cuốn xong, Danh Hoa còn mời chúng tôi nếm các loại phô mai khác nhau cùng với bánh mì Pháp. Rồi đem bánh kem ra mừng sinh nhật trễ  cho Như Ý.  Như Ý nhắc hai ngày sinh nhật cận kề của Như Ý và tôi  khiến tôi nhớ ra  hôm nay là sinh nhật của mình. Thế là tôi chọn  một chiếc bánh tươi tắn nhất cho ngày vui vẻ hôm nay  và xem như bữa ăn họp mặt này  là bữa tiệc  sinh nhật do Danh Hoa dành cho tôi!