Tiểu sử:

Từ Hà Nội di cư vào Sài Gòn năm 1954. 

Cựu nữ sinh Trưng Vương,

tốt nghiệp Đại Học Dược Khoa Sài Gòn năm 1972.

Thuyền Nhân, đến Mỹ năm 1980. 

Hiện tại về hưu, vui thú điền viên, cư ngụ tại miền Bắc, California.

Tác Phẩm:

  •  Như Một Thoáng Mây Bay tại California năm 2012

Kính mời quý vị nhấn vào những tựa đề dưới đây để thưởng thức các tác phẩm của nhà văn Đỗ Dung

Một Thời Con Gái

Đỗ Dung

Qua khung cửa sổ, mặt trời mới ló lên khỏi ngọn đồi phía xa. Những vạt nắng vàng nhẹ như tơ, dịu dàng như thì thầm với hoa, với lá rồi êm ả lướt nhẹ, mỉm cười với những cảnh vật nắng đi qua. Sau những tháng đông lạnh giá, qua vài cơn mưa xuân, trời đất như chuyển mình. Những đồi cỏ úa như được thay áo mới, đổi sang màu xanh mướt cỏ non. Cây cối bắt đầu đâm chồi, nảy lộc và những nụ trên cành đã chúm chím nở hoa.

Khuê vươn vai, nhìn sang ông chồng vẫn còn ngủ say, tiếng ngáy đều đều, mệt nhọc. Khuê chợt mỉm cười nhớ lại hồi mới lấy nhau nàng thường trêu chọc Thiên, ví tiếng ngáy cuả chàng như tiếng đàn Violin du dương trầm bổng. Cây đàn đã chuyển thành xưởng cưa gỗ hồi nào Khuê chẳng rõ và bây giờ những cỗ máy cưa già thỉnh thoảng lại lọc sọc như sắp rớt bù loong!

Sống với nhau gần bốn mươi năm, đã có ba mặt con, một bầy cháu nội ngoại ríu rít. Khuê đã ngoài sáu mươi và Thiên đã quá tuổi cổ lai hi còn gì.

Không dám động mạnh sợ phá giấc ngủ của chàng, Khuê rón rén bước ra khỏi phòng.

Khuê ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế mây ở vườn sau, hai tay ủ tách cà phê nóng. Buổi sáng thật êm đềm, đồi cỏ mênh mông, những đường cong của sườn đồi uốn lượn nhẹ nhàng in trên bầu trời xanh trong, những cụm mây trắng nhẹ như bông lững lờ trôi làm hồn Khuê chơi vơi trở về những ngày tháng cũ, nhớ lại hình ảnh Đồi Cù và Thung Lũng Tình Yêu của Đà Lạt xa xưa. Ngày đó nàng yêu Đà Lạt vô cùng, cứ đợi đến dịp nghỉ hè là lên thành phố thần tiên ấy. Ngày ngày lang thang trong rừng thông nghe tiếng reo vi vu. Lăn mình trên những thảm cỏ xanh, tắm mình trong nắng. Buổi chiều dạo quanh bờ hồ rồi thả bộ dọc theo những con đường nhỏ hai bên bao bọc bởi những ngôi biệt thự kiến trúc kiểu tây phương, ẩn mình sau những vườn hoa đẹp đẽ đủ màu. Những đêm khuya Khuê đứng tựa vào thành lan can ngoài ban công, đắm chìm trong ánh trăng lung linh huyền ảo, nhìn xuống con đường dốc dưới kia để mơ chàng Hoàng Tử. Juliet chờ đợi Romeo.

Ngày ấy, những người con gái vẫn còn rụt rè, e lệ trước người khác phái và phạm vi giao thiệp chỉ trong vòng những quen biết họ hàng, hoặc cùng lắm là bạn của anh hay anh của bạn. Người thiếu nữ chỉ được quyền chọn lựa trong số những người đã chọn mình, hiếm hoi lắm mới có người dám phá luật làm kẻ tiến trước trong cuộc tình lứa đôi. Tuổi dậy thì Khuê cũng mơ một hình bóng, tưởng đến người trong mộng và mong tìm thần tượng để tôn thờ, thả hồn theo mây, theo gió không biết người ấy đang ở đâu. Nghe những chuyện mối mai nàng hờ hững, nàng muốn được nếm mùi vị của tình yêu và kết duyên với người vì yêu nàng mà tới.

Ngày mới đậu Tú Tài hai, các bạn tổ chức ăn khao ở nhà Khuê, nàng đã nhận được một bó hồng nhung từ một giáo sư, anh họ của Mai Trâm, bạn cùng lớp. Chàng không dạy Trưng Vương nhưng được Trâm nhờ xem điểm giùm cho cả nhóm vì chàng có chân trong ban giám khảo kỳ thi đó. Bó hoa đỏ thắm đầu đời kèm một dòng chữ nắn nót trang trọng: “Mong cuộc vui hôm nay của Khuê chỉ là mở đầu của những ngày vui bất tận.”

Tuổi mười tám, lòng rưng rưng, hồn chao đảo… Khuê nhớ lại hôm thi Triết, ông thày coi thi cứ nhìn mình đăm đăm rồi tủm tỉm cười và cuối giờ khi nộp bài chàng đã tự giới thiệu là Thiên, anh của Mai Trâm. Đầu óc còn rối bù vì bài vở, Khuê không tâm trí nào nghĩ ngợi lôi thôi và hôm nay, bó hoa và những lời nửa vời làm lòng nàng xao xuyến.

Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò, các bạn cuả Khuê rúc rích trêu cợt, bông đùa. Thiên cũng vui vui, lòng lâng lâng khi nghĩ đến cô bé học trò mà lần đầu tiên đã thấy quyến luyến, nhưng với khoảng cách tuổi tác quá xa, chênh nhau mười hai tuổi, chàng không khỏi ngại ngùng. Chàng đã lái xe qua nhà Khuê nhiều lần mà rụt rè không dám nhấn chuông cửa. Thẫn thờ sang nhà người bạn gần đấy ngồi chơi rồi lại đi ngang và cuối cùng cũng chỉ dám ghé vào quán ăn xế cửa nhà nàng ngồi nhìn vọng lên sân thượng trên cao mà tưởng nhớ. Cứ như thế thời gian trôi… Khuê thi đậu vào trường Dược, vui với khung cảnh mới, lại tung tăng chân sáo. Tuổi trẻ dễ nhớ, mau quên và hình ảnh anh giáo phai mờ dần trong ký ức.

Tuổi sinh viên hoa mộng, quanh năm ngoài giờ đến giảng đường và những giờ đi làm thực tập, các nàng con gái vẫn rong chơi, vẫn rủ nhau lang thang bát phố, lái xe chầm chậm trên những con đường đẹp như Tú Xương, Lê Qúy Đôn hoặc những con đường ngập lá me bay như Trần Quý Cáp. Chiều mát tung tăng bơi lội ở hồ bơi hoặc đến nhà nhau ngồi tâm sự vụn. Kể cho nhau chuyện chàng nọ, chàng kia… Để rồi đến mùa thi vùi đầu vào sách vở, đóng cửa học đến xanh xao, vàng vọt, nhan sắc tả tơi.

Khuê là chị lớn trong một gia đình đông con, đặc biệt là có một bầy con gái. Cha mẹ Khuê còn trẻ nên gần gũi các con và đầu óc không thủ cựu. Mẹ lo chăn dắt, dạy bảo con gái về công dung ngôn hạnh, không tiếc tiền sắm sửa dụng cụ bếp núc để các con tha hồ tập tành nấu nướng, vẽ vời, làm bánh trái. Phòng khách lúc nào cũng gọn ghẽ với chiếc đèn chùm trên trần toả ánh sáng ấm áp, bộ ghế sa lông bọc vải đỏ sẫm, một bộ máy quay đĩa và chiếc máy cassette ngay góc phòng, trên bức tường màu xanh ngọc mấy con hạc trắng múa lượn trên nền đen của bức tranh sơn mài lớn. Sau khi đã vào đại học, cha mẹ Khuê không cấm các con có bạn trai nhưng phải mời về nhà đàng hoàng và tuyệt đối không được hẹn hò lén lút. Buổi tối mẹ thường chui vào giường các con thủ thỉ tâm tình, nhắc nhở con không được đi đâu chỉ có hai người và không được đến nơi vắng vẻ!

Một lần tưởng như là đã gặp tình yêu. Khuê tình cờ gặp Hiếu ở chợ hoa và mùng hai Tết, Hiếu xuất hiện ở ngưỡng cửa với phong bao đỏ lì xì. Khuê đã xiêu lòng vì giọng nói Bắc Kỳ, ánh mắt tha thiết và những cử chỉ ngọt ngào của Hiếu, tưởng như bơi lội trong vùng trời bát ngát yêu thương. Khuê từ chối hết những người giới thiệu, những người tìm đến làm quen và lạnh lùng với những cơ hội mà dưới mắt mẹ đó là những bến bờ hạnh phúc. Khuê tưởng như mình đã gặp đối tượng, nhưng người ấy đã không hiểu những trân quý Khuê dành cho chàng và có những điều xảy ra khiến Khuê nhìn lại để thấy rằng Hiếu không phải là người nàng đang tìm kiếm… rồi sau một buổi đi nghe nhạc ở phòng trà “Đêm Màu Hồng” của sinh nhật hai mươi bốn, tiếng hát nỉ non của Thái Thanh với “Nghìn Trùng Xa Cách”, Khuê đã quyết định chấm dứt. Thần tượng rớt xuống thật bẽ bàng. Thật ra cũng chẳng có gì để trách Hiếu, hai người chỉ ngồi chuyện trò trong phòng khách, chưa một lần sàm sỡ, ngay cả chưa một lần nắm lấy tay nhau. Tuổi trẻ ngây thơ, mơ mộng khiến nàng đã ngu ngơ cảm động trước những lời nói ngọt ngào, ánh mắt thiết tha, cử chỉ trìu mến mà nàng tưởng chỉ dành cho riêng mình. Sự thật đã không như Khuê nghĩ.  Mới đầu bạn bè đưa chuyện đến tai, sau đó những chứng cớ khám phá của chính nàng khiến Khuê càng thêm cương quyết tránh thật xa.

Khuê đang ở cuối năm thứ tư, còn hơn năm nữa là ra trường, bài vở chất chồng khiến Khuê mệt nhoài. Thỉnh thoảng gặp Hiếu ở hồ bơi, vẫn nói chuyện nhưng với tâm trạng khác. Khuê tự soi lòng mình, thấy tâm hồn thật thanh thản. Khó và khổ ở giai đoạn lửng lơ. Giờ đây quyết định rồi thì coi nhau như bạn. Các bạn bè cũng ngạc nhiên về sự dứt khoát, minh bạch của Khuê và lại tiếp tục đùa giỡn: “Thôi, bây giờ mày bằng lòng làm chị của tao đi…”

Những buổi tiệc tất niên trường Y, trường Dược, cũng có những cái đuôi theo Khuê. Vài lần đi phù dâu cũng có chàng phù rể theo sau bén gót. Sao lòng nàng dửng dưng, không mảy may rung động. Nàng Dược, chàng Y, đẹp đôi quá còn muốn gì nữa. Khuê tự hỏi mình tại sao và nàng cũng không hiểu nổi chính nàng. Có thể ánh mắt chưa đủ đắm say. Có thể người đó tự tin quá, coi như chấm ai thì cô nàng đó trúng số. Có thể lối tán tỉnh không hợp với Khuê, không có sự nâng niu, trân quý. Có thể những đối tượng đó chưa đúng hình ảnh chàng của nàng. Chưa đúng con người của định mệnh.

Các bà mối cũng mon men đến với mẹ Khuê nhưng lại kể thêm là chủ tiệm vàng nọ, chủ hãng xuất nhập cảng kia ra giá hễ được chàng rể bác sĩ thì hồi môn vài triệu và nhà cửa, xe pháo, phòng mạch… nhạc gia sẽ lo hết. Khuê phì cười và nói với mẹ rằng cho các chàng đó đi mà ẵm của hồi môn. Những cuộc hôn nhân cân đo, đong đếm như vậy liệu có bền vững không!

Một buổi chiều Thứ Bảy sau tuần lễ thi thực tập, Khuê đến đón Trâm đi dạo phố. Dù hai người hai phân khoa khác nhau nhưng Khuê và Trâm vẫn thân như hồi trung học.

– Anh Thiên hỏi thăm mi hoài.

– ?

– Anh bị động viên, đi lính mấy năm, mới được biệt phái đi dạy học lại.

– Vậy à.

Chợt mưa ào xuống, mưa rào của miền Nam, mưa nặng hạt.

– Nhà anh Thiên ở đây này, mi dám vào không?

Bản tính ương ngạnh của con bé cứng đầu:

– Dám? Sao không dám!

Thiên không ngờ hai cô gái ướt lướt thướt xuất hiện ngay ngưỡng cửa, vội lấy khăn cho các nàng lau tóc và châm lại bình trà.

– Chiều Thứ Bảy anh không đi chơi à?

Trâm hỏi

– Anh đang sửa soạn bài vở vì sắp nhận dạy thêm ở một trường tư. Cô Khuê bao giờ mở tiệm thuốc đây?

Trời ơi, lại cái giọng Bắc Kỳ nhưng hình như giọng chàng mạnh mẽ hơn, trầm ấm hơn. Khuê vân vê tà áo:

– Thưa anh, em còn hơn năm nữa mới ra trường. Anh vẫn khoẻ?

Đã lâu không gặp, có thể sau mấy năm chàng đi lính, có thể cặp mắt của thiếu nữ hăm bốn nhìn khác cái nhìn của con bé mười tám, chàng trông rắn rỏi, mạnh mẽ, đầy nam tính và… không thấy già! Trời càng lúc càng mưa nặng hạt hơn như giữ chân hai người con gái. Lối nói chuyện ngọt ngào và thật thà như đếm. Có những chuyện không ai khảo lại cứ ngồi mà khai. Khuê ngồi trầm ngâm mặc cho hai anh em Trâm chuyện trò.

Rồi trời cũng quang, mây cũng tạnh, cũng đến lúc phải ra về.

– Cô Khuê cho phép tôi thỉnh thoảng ghé thăm được không?

Ngay chiều hôm sau chàng đã quần áo tề chỉnh bấm chuông cửa với bó hoa, hộp kẹo và một túi nhỏ có mấy cục xí mụi. Hoa cho chị, kẹo cho các em và xí mụi để nhắc cô học trò dám ngang nhiên nhấm nháp ô mai trong phòng thi làm ông thày chảy nước miếng.

Từ đó gần như mỗi ngày chàng đến, ngày nào cũng có kẹo có bánh. Hoa vừa héo là có hoa tươi, cho đến gần ngày thi thì theo thông lệ nàng đóng cửa, tọa thiền.

Không được phép vào nhà, chàng lang thang trước cửa và trên lầu cao nhìn xuống, mỗi ngày chiếc vespa qua lại đôi ba lần.

Đêm đến, khi đi ngủ Khuê hỏi cái đình màn: “Có phải chàng là nửa kia của ta không?”

Vừa thi xong, chưa đợi kết qủa, Khuê quăng ngay sách vở lên Đà Lạt nghỉ hè. Ngồi một mình bên gốc thông già Khuê băn khoăn tự hỏi lòng mình phải chăng đây thật sự là tình yêu, hay chỉ là một sự lấp chỗ trống vắng của con tim khi vừa chấm dứt với Hiếu. Nếu vậy thì quả là bất công cho Thiên. Luẩn quẩn, loanh quanh trên đồi vắng và Khuê thấy nhớ Thiên thật nhiều. Mỗi buổi tối ngồi cời than trong chiếc lò sưởi, đầu óc lại mông lung, phải chăng hai con sông sẽ nhập lại chung dòng, có phải vùng ngực bình yên mình chờ đợi, có phải vòng tay rắn chắc ấy sẽ che chở cho nhau suốt cuộc đời.

Trong khi đó Thiên ra Huế chấm thi. Ngoài giờ làm việc chàng lên núi Ngự Bình, ra bờ sông Hương, lên chuà Thiên Mụ, chỗ nào chàng cũng thấy hình dáng của Khuê, khuôn mặt của Khuê, nỗi nhớ nhung khiến chàng mong ngày chấm thi mau hết để quay về.

Ngày lại ngày, vẫn chỉ ngồi đối diện nhau trong phòng khách nhưng câu chuyện dễ dàng, cởi mở hơn, thân thiện hơn cho đến cái ngày trọng đại của đời Khuê, Thiên đã quỳ xuống ngỏ lời cầu hôn. Nước mắt lăn dài trên má người thiếu nữ, chuyện tưởng như trong tiểu thuyết đã xảy ra, Khuê không trả lời trực tiếp mà hỏi lại rằng:

– Anh có yêu em thật không? Có suốt đời lo lắng, bao bọc em không?

Từng câu hỏi tiếp theo câu hỏi và cuối cùng hai bàn tay siết chặt hai bàn tay, một rung động nhẹ nhàng, một luồng điện êm ả. Thiên kể lại cho Khuê những lao đao từ ngày gặp Khuê, Thiên không thể quên mà không dám lại gần. Những lúc tưởng như sắp mất người yêu lòng chàng quặn đau, mặc cảm một anh giáo, đi lính ra trường với chức vụ chuẩn uý quèn, Thiên thấy Khuê như thật xa, thật cao tầm tay với.

– Sao hồi đó anh không đến chơi?

– Anh đến để bị đá ra đường à?

– Em tệ vậy sao? Thế sao bây giờ anh lại đến?

– Ờ như định mệnh đẩy đưa, anh uống thuốc liều, không gì cản trở anh được nữa.

 

                                                                    ***

– Bà uống thuốc buổi sáng chưa?

Tiếng Thiên lôi Khuê về thực tại.

– Thấy Ông ngủ ngon quá nên Bà không nỡ đánh thức Ông.

Gọi nhau từ tiếng Anh, Em đến Bố, Mẹ rồi bây giờ quen xưng hô Ông với Bà theo lũ trẻ.

– Trời đẹp quá, Bà mặc thêm áo ấm, mình đi bộ đi!

Trên con đường nhỏ dành cho khách bộ hành, một bên là đồi cỏ xanh một bên là rặng hoa đào, ông già tóc bạc trông còn tráng kiện và lưng còn thẳng, người đàn bà đi bên cạnh dáng đi chậm chạp. Ông khẽ nắm tay bà, tay trong tay vẫn ấm và hai người thong dong, khoan thai đi bên nhau trong buổi sáng muà xuân, nắng vàng đẹp, gió nhẹ hây hây, hoa reo vui, lá reo vui trong không gian thật êm đềm. Tiếng chim ríu rít trên cành, nhìn lên bầu trời xanh trong, nhìn sang khuôn mặt thanh thản của Thiên, Khuê cảm tạ Phật Trời đã cho Khuê một lựa chọn đúng, cho Khuê một nương tựa bình yên suốt cuộc đời.

Mùa xuân 2010

Đỗ Dung

Bên Bờ Tử Sinh

Đỗ Dung

Tên thật:  Nguyễn Đỗ Dzung, sinh năm 1947, cựu nữ sinh Trưng Vương, tốt nghiệp Đại Học Dược Khoa Sài Gòn năm 1972, Thuyền Nhân, đến Mỹ năm 1980, hiện tại về hưu, vui thú điền viên, cư ngụ tại miền Bắc, California.

>

*****

Buổi sáng thứ bảy, mùa hè, bầu trời xanh trong không một gợn mây, màu nắng vàng chanh, gió nhè nhẹ mơn man làn da, mùi thơm của cỏ cây, hoa lá… vương vương, thoang thoảng. Con đường nhỏ uốn lượn nhẹ nhàng, hai hàng cây xanh bên đường đều tăm tắp, một bên hè trống tiếp ráp với những ngọn đồi nhấp nhô nối nhau trải dài, in lên nền trời, bên kia là dãy nhà nằm ngoan ngoãn sau những mảnh vườn được trồng tỉa vén khéo. Hai vợ chồng tôi lững thững đi trong cảnh trí êm lặng, an bình của thành phố nhỏ như còn đang say ngủ.

Tôi mới mổ “cataract” mắt bên phải. Mọi việc suông sẻ nên cảm thấy rất yêu đời, tôi tinh nghịch nhắm bên mắt trái, cảnh vật như sáng hẳn ra, những chiếc lá thật rõ nét, óng ánh, rung rinh dưới nắng, những bông hoa tươi lên reo vui, cảnh vật trong trẻo như được nhìn qua khung cửa kính mới được lau chùi kỹ lưỡng bằng Windex. Nhớ lại ngày mổ mắt, khi nằm trên bàn mổ ở nhà thương của trường Đại học Stanford, vẫn căn phòng sáng trắng, vẫn các thủ tục thông thường như những lần phải thử nghiệm hay mổ xẻ trước đây, nhưng lòng tôi thanh thản không một chút âu lo. Từng giọt thuốc an thần từ túi treo trên cao nhỏ vào mạch máu làm tôi chơi vơi, bềnh bồng.
                     

– Bà Nguyễn, bắt đầu nhé!
                             

Tiếng bà bác sĩ nhẹ nhàng thoảng bên tai, mắt tôi tê đi, không cảm giác. Chợt hai đốm đen hình vuông hiện ra rồi từ từ một vầng mây màu hồng đỏ, màu đỏ tuyệt vời, bay bay. Một mảng xanh “turquoi” lượn lờ trên nền trời xanh trong. Cứ thế, những quầng mây màu sắc đẹp chưa bao giờ tôi nhìn thấy nhẹ nhàng bay bay, chơi vơi, chơi vơi…đưa tôi đi vào một vùng an lạc mênh mông như có tiếng gió nhẹ nhẹ, như có tiếng thầm thì và tôi thiếp đi trong cảm giác thật êm ái lạ lùng.
                  

– Xong rồi, bà Nguyễn!  Bà nghỉ ngơi một chút rồi về nhé. Sáng mai trở lại gặp tôi.
                      

Tôi bừng tỉnh khi bà bác sĩ dịu dàng vỗ nhẹ cánh tay tôi, chiếc giường lại được đẩy về phòng đợi khi sáng.
                          

Trong đời, hai lần tôi có niềm sung sướng ấy. Niềm hạnh phúc mênh mông trong tuyệt vời cảm giác, như mê thiếp trong hoan lạc dị thường… Lần đầu tiên là sau một buổi tọa thiền, đặt lưng xuống giường, tôi mê đắm trong cảm giác nhẹ nhàng, lâng lâng ấy.
                     

Miên man trong suy nghĩ, tôi cùng ông xã đã về đến nhà con gái. Tuần này chúng tôi đến ở chơi nhà con như một kỳ nghỉ hè.
                      

– Bố mẹ dậy sớm thế, đi những đâu rồi? Bố mẹ có lên những con đường đi bộ trên núi chưa?
                                      

Cô con gái đang tỉa mấy cây hồng trong khu vườn trước cửa ngước lên hỏi khi thấy chúng tôi về.
                        

– Chưa, bố mẹ mới đi quanh đây thôi. Nhà cửa đẹp, không khí thật êm ả, thanh bình. Mai các cháu có đi leo núi, có đi “hiking” nhớ rủ ông bà đi cùng nhá!
                         

– Mời ông bà vào uống cà phê, ăn tạm một miếng bánh “croissant” rồi chúng con đưa ông bà qua San Francisco chơi.
                               

Tiếng cậu con rể từ trong nhà vọng ra, cùng mùi cà phê tỏa ra thơm ngát.
                      

Đã lâu không ghé thành phố biển Cựu Kim Sơn, khung cảnh vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Bầu trời hôm nay màu xám, nhiều mây và hơi lành lạnh, nên dù đang mùa hè vẫn phải mặc áo ấm. Vẫn những chiếc xe điện kêu leng keng, chở du khách thăm thành phố. Con đường Lombart vẫn ngoằn ngoèo và những con dốc dựng đứng làm chùn bước những người lái xe còn yếu.  Khu quanh biển vẫn tấp nập khách nhàn du.  Sau khi lái xe một vòng quanh phố, chúng tôi ghé lại công viên cho các cháu chạy nhảy, chơi đùa.  Khi tụi nhỏ đã mệt rồi, cả nhà kéo vào phố Tàu ăn mì trong một tiệm khá ngon.

Về tới nhà còn sớm nên các cháu rủ xuống hồ bơi.
                   

– Mẹ mới “surgery,” xuống hồ bơi mẹ cẩn thận nghe.
                      

Cô con gái luôn miệng nhắc vì cháu nghe kể có người sau khi mổ “cataract” không giữ gìn kỹ nên bị thông manh, nhìn mọi vật không rõ nữa.
                               

Mang cặp kính đen to bản của nhà thương cho, tôi nằm trên chiếc phao nổi trong một góc khuất của hồ bơi mặc cho mấy ông cháu chơi đùa. Hai vợ chồng cô con gái lúi húi sửa soạn cho bữa ăn tối ngoài vườn.
                       

Buổi sáng trời không mây, bây giờ vài cụm mây trắng từ đâu tới, lang thang trên bầu trời xanh trong đưa tôi về thời gian cách đây mười mấy năm mà tưởng chừng như mới hôm qua…
                                                

Đó là khi tôi còn đi làm. Một buổi chiều đang ở sở tôi bổng lên cơn ho sặc sụa, ho như xé ruột gan, nước mắt chảy ràn rụa, tôi phải xin phép về sớm. Tôi rất ghét đi bác sĩ vì không thích cảnh ngồi dài người chờ đợi nên thường khi bị ho như thế tôi chỉ uống thuốc ho, nhờ nhà tôi xoa dầu nóng khắp châu thân rồi nằm nghỉ. Sau một giấc ngủ dài là khỏe lại ngay. Lần ấy nhà tôi nhất định đưa tôi đi bác sĩ.
                        

Sau những khám nghiệm thông thường, bà bác sĩ lấy một dụng cụ nhỏ kẹp vào ngón tay tôi. Đọc kết quả bà thốt lên:
                       

– Bà Nguyễn, bà phải nhập viện ngay. Độ oxygen trong máu bà thấp quá, chưa đến tám mươi phần trăm!
                  

Bà nói nhân viên gọi ngay xe cứu thương. Hai vợ chồng nhìn nhau tê điếng. Trầm trọng vậy sao! Xe cứu thương đến, mọi vật như lao xao và tôi như người mộng du, nằm trên chiếc băng ca, chui vào lòng chiếc xe hụ còi chạy nhanh.
                       

Trong phòng cấp cứu tôi vẫn thảng thốt, mới tuần trước đi Houston ăn Tết với gia đình cô em gái, khỏe mạnh không một triệu chứng nào, bây giờ nằm đây những dây cùng nhợ. Vô thường đến vậy sao!
                             

Mỗi ngày y tá đến lấy máu, cứ vài tiếng lại đo nhịp tim, đo huyết áp, đưa tôi chui vào hết máy nọ, máy kia để tìm bịnh. Mấy hôm đó trời chuyển mưa, gần như ngày nào cũng có mưa, có ngày mưa nhẹ, có ngày mưa như vũ bão, gió rít từng cơn. Buổi chiều sau khi tan sở là nhà tôi và cháu út lại đến thăm, ngồi bên giường đến tối mịt mới về. Ban đêm còn lại một mình tôi không tài nào ngủ được, lòng ngổn ngang trăm mối, mệt mỏi thiếp đi thì y tá lại vào để đo nhiệt độ, đo tim, đo máu, lấy máu để thử nghiệm.
                       

Tôi còn nhớ như in buổi tối sau khi làm “Angiogram” nhà tôi và cháu út đang ngồi cạnh giường. Viên bác sĩ đến đã thản nhiên nói:
                    

– Tôi rất buồn, bà Nguyễn, bà vướng phải một căn bệnh hiếm, “Pulmonary Hypertension,” bịnh không chữa được, chỉ đợi thay phổi, thay tim. Bà còn sống khoảng chừng hai năm, hãy thu xếp và hãy vui những ngày còn lại.
                           

Mặt nhà tôi trắng bệch ra và thằng con cắn môi, dụi mắt để ngăn tiếng nấc. Tôi điếng người nhận bản án tử hình! Tôi có cảm giác mặt tôi như đanh lại và người như tê đi.
                   

Buổi sáng hôm sau, ngồi trên chiếc xe lăn rời khỏi bệnh viện, trong lòng tôi đau đớn vô ngần. Từ nay tôi là kẻ tàn phế. Mũi lúc nào cũng phải có ống thở oxygen. Tôi thật sự thành người tàn phế!
                        

Sau một tuần mưa gió, hôm ấy trời nắng ấm. Tôi nhớ căn nhà nhỏ của tôi, xa có hơn mười ngày mà tưởng chừng như lâu lắm. Trước nhà, cả dãy Hồng dọc lối đi đầy hoa.  Vào nhà, tôi ra sân sau thăm khu vườn nhỏ, vạn vật như tươi cười trong nắng.  Cây Apricot hoa chi chít từ gốc đến ngọn, màu hồng dịu dàng như màu hoa Anh Đào của Nhật. Cây Mận đầy hoa trắng xóa trên cành. Cây Đào ăn trái hoa thưa hơn, màu hồng đậm hơn, duyên dáng ở một góc vườn. Bên hông nhà một dàn Nho vòm tròn hình vòng cung, lá non xanh và những chùm nho xinh xinh đã tượng hình. Bao phủ mặt đất từng khoảng cúc tím, cúc vàng nở rộ, những bông “Lily of the Nile” cũng như cố vươn lên mỉm cười với tôi.  Thoang thoảng hương thơm của bụi hoa Nhài trộn lẫn hương hoa Hồng, dàn hoa Hồng với những bông hoa nhỏ xíu bằng đồng hai mươi lăm xu, màu hồng phấn, thơm nhè nhẹ. Hai cây Bông Giấy đỏ thắm quấn quýt hai bên cột “patio.” Nhìn phong cảnh của khu vườn mà lòng tôi nghẹn lại.
                

Bấy giờ là mùa xuân, chim non ríu rít truyền cành. Cảnh đẹp quá, thiên nhiên đẹp quá. Tôi như say với nắng, màu nắng thật ngọt ngào. Tôi như say với gió, làn gió thật thơm tho. Từng phiến lá rung rinh, từng cánh hoa khoe sắc… Trời ơi… cảnh tươi đẹp thế kia, tôi yêu quá… thế mà chỉ hai năm, hai năm là hai mươi tư tháng, là bẩy trăm ba mươi ngày tôi phải vĩnh viễn rời xa. Tôi chỉ còn thời gian ngắn ngủi như thế trên cõi đời này sao… và tôi đã bật khóc.

Những chuỗi ngày tiếp theo ủ ê, buồn nản. Ban ngày chỉ còn mình tôi trong căn nhà vắng, đi vào, đi ra… dù sao tôi cũng phải sửa soạn, sửa soạn cho một chuyến đi thật xa, về miền miên viễn. Đầu óc mông lung, nghĩ quẩn nghĩ quanh rồi lại vùi đầu vào gối mà khóc, khóc cho vơi, khóc cho thỏa. Ban đêm giấc ngủ chập chờn với những cơn ác mộng, tỉnh dậy mệt nhoài, trăn trở.
                   

Tôi thấy mình như đang đi trên một cánh đồng vắng lặng, hoang vu. Trời xám và hình như lất phất mấy giọt mưa. Đồi núi mênh mông, cỏ mênh mông, những bông cỏ may như bám vào mặt, những ngọn cỏ dại như vướng vào chân. Cảm giác bơ vơ đến tột cùng. Bỗng một đám người từ đâu ùa tới đuổi dồn tôi vào một ngõ sâu hun hút, như một con đường hầm tối đen. Tôi cắm đầu chạy và như hẫng chân, bừng tỉnh, tim đập mạnh, mệt nhoài.
                    

Từ ngày ở nhà thương về tôi hay có những cơn ác mộng như thế. Trong cơn mơ tôi thường gặp những đám người đen đúa, bẩn thỉu, không ra mặt người, không ra mặt quỷ chạy đuổi tôi và tôi chạy trối chết cho đến khi hoặc như vấp phải vật gì hoặc vì quá nhược sức tôi ú ớ vùng tỉnh dậy.
                             

Tôi nghe nói khi con người ở bên bờ tử sinh hay nhập nhòa, chập choạng nhìn được cõi bên kia, một thế giới vô hình mà khi mạnh khỏe, dưới ánh mặt trời ta không nhìn thấy. Tôi nhớ hồi mẹ chồng tôi bịnh, đến gần ngày cụ mất cụ hay mê sảng: “Sao ở đâu ra mà lắm người vào nhà mình thế này.  Đuổi đi, đuổi chúng nó đi”.
                       

Tôi buốt ruột khi nghĩ đến cha mẹ tôi, hai thân già còm cõi sẽ phản ứng ra sao nếu tôi bất hiếu đi trước, để cho “lá úa phải khóc lá xanh,” bầy chị em mỗi năm vẫn ríu rít gặp nhau và con, cháu tôi… Tôi sắp phải dời xa tất cả.  Có đêm tôi mơ tôi mặc chiếc áo dài nhung đỏ nằm bình an trong chiếc quan tài, đèn nến lung linh và tôi bay như chim trong bầu trời bát ngát, thoải mái, nhẹ nhàng.
                    

Tôi yếu và hốc hác hẳn vì lo buồn, vì khó ngủ, vì nghĩ ngợi lung tung. Ngày nghỉ nhà tôi đưa đi bộ quanh khu nhà ở hoặc ra khu công viên có cỏ hoa tươi tốt cho tinh thần sảng khoái nhưng cứ đi được một quãng ngắn là tôi phải dừng lại thở dốc, lên ba bốn bậc cầu thang tim đã đập thình thịch phải ngừng!

Cho đến một đêm lũ người đó lại đuổi theo tôi, tôi lấy hết sức bình sinh cắm đầu chạy. Những bước chân chạy theo đằng sau dồn dập, như gần, thật gần. Rồi không hiểu sao trong cơn sợ hãi ấy bản năng của tôi bỗng trổi dậy với một ý chí quật cường. Tôi quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào đám người đen đúa, bẩn thỉu đó và quát vào chúng:
                         

– Sao tụi bay theo tao hoài vậy, có đi đi không?
                         

Rồi tôi lao thẳng tới đuổi họ. Họ quay người chạy đi và biến mất.                          

Kể từ lần ấy tôi không còn nằm mơ thấy mình bị rượt đuổi nữa. Thì ra “ma trong mơ” cũng biết sợ kẻ mạnh và ăn hiếp kẻ yếu đó chứ!
                     

Các bạn trong sở chia nhau đến phụ nấu cơm nước và chuyện trò làm tôi vui. Các bạn ở xa biết tin cũng điện thoại hỏi thăm, gửi tặng kinh sách và băng giảng của các Thày. Những sự ủng hộ tinh thần này, cộng với sự lo lắng, chăm sóc, và thương yêu của gia đình đã giúp tôi mạnh mẽ hơn lên.
                        

Và tôi quyết chí phải chống lại chứng bệnh ngặt. Tôi bắt đầu tập thiền. Cậu em rể đem bài chỉ dẫn cách tập Dịch Cân Kinh bảo tôi cố tập. Hàng tuần tôi phải đi ba bác sĩ, một chuyên về tim, một chuyên về phổi, và vẫn phải trở lại bà bác sĩ gia đình. Mỗi tháng phải đến phòng khám bệnh của trường Đại Học UCLA để bác sĩ chuyên môn về bịnh Pulmonary Hypertension điều trị. Tiểu Linh, bạn của cô em tôi, PhD về Đông y, sau khi bắt mạch, khám bịnh có cho một toa thuốc tăng cường thể lực, cân bằng khí huyết và nhìn sắc diện tôi cô nói: “Chị còn vượng lắm, cần nhất là giữ tâm thanh thản và tinh thần vững vàng thì chị sẽ vượt qua.”
                 

Mỗi tối tôi ngồi khoanh chân tập thở. Lúc đầu, tôi chưa thể xua đi những tạp niệm, chưa thể lắng tâm tư mình như lóng gạn bình nước táo. Tôi ôn lại cuộc đời tôi từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, những vất vả gian nan sau năm 1975 khi chồng phải đi cải tạo, những vinh nhục khi lên voi lúc xuống chó, những ngày lênh đênh trên chiếc thuyền con ra khơi vượt biển, những khó khăn khi một nách hai đứa con thơ phải làm lại từ đầu với hai bàn tay trắng, phất lên rồi thất bại và bây giờ lại mắc căn bịnh hiểm nghèo. Tại sao? Tại sao?? Những câu hỏi cứ dằn vặt trong đầu óc. Có những lúc tôi như ngộp thở rồi lại dằn lòng xuống, tập trung để cố gắng hít vào thật sâu và thở ra thật từ từ.
                      

Nhà tôi là người ít nói, sự lo âu làm cho anh lại càng ít nói hơn. Muốn an ủi vợ mà chẳng biết nói sao, chỉ nhắc nhở uống thuốc, chịu khó đưa đi bác sĩ và ái ngại khi thấy tôi ủ dột, buồn phiền. Thằng cháu út ra vào im lìm, không dám làm gì gây tiếng động mạnh, len lén nhìn mẹ xót thương. Thỉnh thoảng tôi nhói lòng khi bắt gặp nhà tôi ngồi trong xó tối khóc lặng lẽ. Không khí trong nhà thật ảm đạm, thê lương.
                           

Nghĩ đến lời nói của ông bác sĩ và khuôn mặt vô cảm của ông ta ngày trước, tôi thật giận và trong một lần đến phòng mạch của ông tôi đã hỏi thẳng:
                     

– Thưa bác sĩ, ông có phải là Thượng Đế không mà ông biết rõ ngày giờ tôi chết? Sao ông có thể nói như vậy với bệnh nhân? Nếu tinh thần người bịnh không vững thì tôi nghĩ họ có thể chết vì lời nói của ông chứ không phải vì căn bịnh.
                         

Ông bác sĩ có vẻ không phật lòng chút nào, chắc vì đã quá quen với những trường hợp như thế, nên ông đem một quả tim bằng plastic ra để giảng giải. Ông đưa những tài liệu về căn bệnh này và chịu khó ngồi trả lời những câu hỏi vặn vẹo của tôi. Tóm lại bịnh chưa có thuốc chữa, con người sống nhờ máu đưa oxygen đi nuôi cơ thể, áp suất trong phổi cao nên phổi khó hấp thụ Oxygen, phổi không làm việc tốt thì tim phải làm việc nhiều, phải bơm máu nhiều lần hơn cho đủ lượng oxygen cần thiết và như thế thành của quả tim sẽ dầy ra, to ra, đến một ngày tim sẽ chai cứng, sẽ đình công không làm việc nữa…và ông khuyên tôi phải cắm ống thở vào mũi cả ngày lẫn đêm để tăng cường nồng độ oxygen trong máu cho tim bớt khổ, đợi đến ngày gặp cơ hội có tim phổi sẵn sàng để thay. Bệnh viện ở UCLA đã ghi tôi vào danh sách chờ người cho tim phổi.
                     

Khi trời chớm vào Thu, gió nhè nhẹ, nắng hanh hanh. Rặng phong hai bên đường bắt đầu đổi màu. Sau mấy tháng đã quen, ống thở không làm tôi vướng víu. Hàng ngày, giọng nói hiền từ, dịu dàng như người cha già của thầy Thích Thanh Từ qua các băng giảng đã cho tôi hiểu về lẽ vô thường, về lý nhân duyên, về luật nhân quả và nhất là về nghiệp lực của con người qua đời đời kiếp kiếp. Thời kỳ xuống tinh thần đã qua, tôi lấy lại tự tin cho cuộc sống.  Buổi sáng tôi ra sân sau tập thể thao, ngắm trời đất, cỏ cây, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi. Tôi yêu đời nhưng tôi không còn sợ chết. Tôi đã hiểu ra, ai rồi cũng phải chết, đâu có ai sống hoài. Tôi thấy tôi thật hạnh phúc là đã được báo trước chuỗi ngày còn lại, để có thì giờ ngẫm nghĩ về cuộc đời, về thân phận con người. Tôi không còn dằn vặt mình, không còn than trời trách đất. Tôi hết so sánh với các em, các bạn để buồn tủi về định mệnh nghiệt ngã của mình. Sống một ngày vui một ngày, tôi tự nhủ và tôi sẵn sàng đứng dậy như bao lần trong cuộc đời tôi đã từng gục ngã rồi lại cắn răng đứng dậy để vươn lên. Nếu có vướng nghiệp từ muôn kiếp trước thì tôi vui lòng trả cho hết nghiệp trong kiếp sống này và tôi sửa soạn sẵn sàng để ra đi.
                

Tự tin như thế, yêu đời như thế, tôi chấp nhận số phận, và nghĩ mình phải làm một cái gì đó trước khi ra đi, chứ không thể ngồi mà…đợi chết!  Phải nói là tôi rất cám ơn nước Mỹ, cám ơn cộng đồng của cái đất nước tự do tuyệt vời này, đã cung cấp thật nhiều cơ hội mở mang kiến thức cho những ai thích học hỏi, để cho tôi được hưởng ké theo ngày ấy. Tôi vào “Recreation Center” của thành phố tìm lớp học. Tôi học vẽ, học làm đồ gốm, và học trang trí nhà cửa. Ở đây tôi có thêm nhiều bạn mới, những người già đã về hưu, những người nội trợ sau khi đưa con đi học thì vào trường. Ngồi trong lớp tôi chăm chú nặn những bình hoa, sáng tạo những vật dụng trong nhà. Tôi khắc những con búp bê Nhật Bản thật là xinh. Rồi những ngày đẹp trời tôi đem giá vẽ ra vườn để đắm mình vào thế giới của màu sắc. Tôi bắt đầu viết văn. Những bận rộn và sự đam mê nghệ thuật đã giúp tôi quên đi bệnh tật.

Nhiều lúc tôi lẩn thẩn nghĩ, nếu không bịnh tôi có được về hưu sớm và sống thoải mái như thế này không!
                      

Biết tôi bị bệnh, bạn bè quen biết xúm nhau kẻ khuyên ăn món này người cho món khác. Một chị bạn gửi cho hột cải thuốc của Nhật, lá cải tựa như lá rau cải làn bảo gieo hột trồng cây lấy lá ăn tốt lắm. Tôi rắc luôn cả gói, chỉ mấy tháng đã có cải non ăn. Có người bạn khác gửi cho đĩa tập Suối Nguồn Tươi Trẻ. Thế là cứ buổi sáng thì Dịch Cân Kinh và buổi tối thì SNTT. Khi ngồi thiền tôi đã bớt nghĩ ngợi lung tung, hít vào thật sâu và khi thở ra tôi thấy rõ luồng hơi ấm chuyển trong người. Bên cạnh thuốc tây tôi đã uống mấy trăm thang thuốc bắc. Uống thuốc tây nhiều khi chữa được phổi lại hỏng gan. Thuốc bắc gia tăng hệ thống miễn nhiễm và giúp điều hòa khí huyết.
               

Thời gian từ từ trôi, tôi tìm đến nhiều bạn thân, đến nơi hội họp. Tôi nhờ ông xã chở đi tham gia các buổi văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, tham gia các câu lạc bộ thơ văn, vui với các hội nhóm phụ nữ. Ở nhà tôi viết văn, vẽ, và tập viết thư pháp. Tôi hết mặc cảm với ống tube oxygen, còn đùa giỡn là mình có “món nữ trang đặc biệt,” trêu chọc ông chồng già của tôi để “cheer him up.”
                        

Khi hết thời gian hai năm theo phỏng đoán của ông bác sĩ, tôi thấy người khỏe khoắn hơn rất nhiều. Khi gặp lại ngài bác sĩ đã phán sau hai năm tôi phải chết, thì ông ta cười:                               

– Bà Nguyễn, bà là bệnh nhân tuyệt vời. Bà là bệnh nhân đầu tiên mắc bệnh hiếm này mà không bị tồi tệ hơn. Bà ráng cầm cự thêm vài năm, họ đang nghiên cứu nhiều, hy vọng sẽ tìm ra thuốc tốt để chữa căn bịnh này.
                                         

Mười bẩy năm đã trôi qua từ ngày ấy. Bây giờ tôi vẫn còn đây!                        

Sự nghiên cứu của các khoa học gia vẫn giậm chân tại chỗ đối với “căn bịnh hiếm” này chứ chưa tìm ra giải pháp nào khá hơn.               

Nhưng chính tôi, một người từng đứng giữa đôi bờ sinh tử, đã tìm thấy những kinh nghiệm vô cùng tuyệt vời có thể giúp những bịnh nhân như tôi tồn tại. Xin tóm tắt chia sẻ với bạn đọc:

Sống tự tin, hòa nhập với gia đình, bạn bè, cộng đồng, học, và tham gia nghệ thuật. Đặc biệt nhất, là môn thiền định.

Tôi đã áp dụng triệt để môn ngồi thiền để buông xả hết lo âu sầu muộn và giữ được lòng thanh thản an nhiên. Có thể nói, thời gian ấy, tôi yêu đời còn hơn bất cứ ai…

Thơ lục bát họa ảnh đẹp về thiên nhiên & cuộc sống hay nhất - ThaiDui.Com

BÊN THỀM SINH TỬ
Bên thềm sinh tử tiên dung hoa 
Mây trôi gió thoảng khói nhạc hòa
Chim khôn gọi bạn vui se sẻ
Hồn thơ tình mẹ lòng thiền cha…
 
MD.10/29/20
LuânTâm
Thân cảm tặng “BÊN BỜ TỬ SINH” 
& TG.VTS.Đỗ Dung 

2018] Hương Mật Tựa Khói Sương (Điện Tuyến) - Heavy Sweetness Ash-like Frost / Ashes of Love - Dương Tử, Đặng Luân - nttrungmt-wiki

Chiếc Lá Vàng

Đỗ Dung

Chiều ba mươi tết, bầu trời thấp, mây xám vần vũ chỉ đợi trút cơn mưa. Bước vào “Nursing Home”, tôi nhìn ông cụ đang ngồi im lặng như một pho tượng trước màn ảnh TV nhỏ mà lòng thấy nghẹn ngào. Như mọi năm giờ này ông cụ đã sửa soạn nhà cửa xong xuôi để đón tổ tiên và sẵn sàng những phong bao đỏ để đợi con cháu. Đối với Bố tôi, ngày tết là ngày thiêng liêng, đêm giao thừa là lúc giao mùa, tống cựu nghinh tân. Nhà cửa phải sạch sẽ, tươm tất. Cành mai, cành đào, chậu quất, chậu cúc… đầy nhà. Trên bàn thờ đèn nhang thơm ngát, mâm ngũ quả tốt tươi, đỉnh đồng, chân nến sáng choang… Thế mà hôm nay ông cụ cô đơn ngồi đây, trước màn ảnh truyền hình, nhìn vào cõi xa vắng.

Tôi lặng lẽ đến gần, ôm ông cụ mà nuốt nước mắt.

– Bố, Bố có khoẻ không? Bố biết con là ai không?

Ông cụ ngước mắt nhìn rồi mấp máy môi:

– Dung!

Mái tóc Bố trắng như tuyết, khuôn mặt già nua mặc dù làn da vẫn hồng hào, trắng mịn. Tôi ngồi xuống bên, cầm tay Bố, nhắc chuyện ngày xưa.

– Bố có nhớ…? Bố có nhớ…???

                                                        ***

Các bạn của Bố tôi thường gọi đùa Bố tôi là Ông Tam Tá vì Bố tôi là Trung Tá, tên Tá và có một Tá con. Không những có một tá con mà còn đặc biệt là có chín nàng con gái. Người ta thường nói có con gái trong nhà như chứa bom nổ chậm, ấy thế mà Bố Mẹ tôi có tới chín quả bom.

Bố Mẹ tôi lập gia đình năm cả hai đều mới mười tám. Để rồi năm sau đó anh em chúng tôi lần lượt ra đời, cứ đứa trên hơn đứa dưới hai tuổi. Người ta dễ nhận ra nhà chị em đông qua tên đặt, chẳng hạn như chị em Vân Loan, Vân Nga, Vân Bằng, chị em Phương Lan, Phương Nga, Phương Trà… hoặc qua dáng người như chị em Lệ Hằng, Mộng Thúy, chị em Lệ Hà, Lan Trân… Chị em chúng tôi chẳng đứa nào giống đứa nào, đứa cao, đứa thấp, đứa trắng, đứa đen… vì đứa giống Bố, đứa giống Mẹ, có đứa lại giống Bà Nội, Bà Ngoại. Thậm chí có hai đứa cùng giống Bố mà trông cũng chả giống nhau vì mỗi đứa chọn những nét riêng của Bố. Tên thì cũng chẳng vào bộ nào. Đầu lòng là ông anh cả Dũng, dây đầu ba nàng Đỗ Dung, Minh Thuận, Vân Hạnh. Sau chú Tuấn là ngũ long công chúa, Phương Nam, Quỳnh Mai, Anh Thư,Tuyết Minh,Thiên Hương. Tiếp đến là chú Minh Duy, chấm dứt bằng cô út Đoan Thùy. Bà nội tôi nói mẹ chúng mày thật khôn, có một tràng pháo lẹt tẹt, lâu lâu lại điểm một quả pháo đùng!

Ông cụ là nhà binh nên nhà cũng theo trật tự kiểu nhà binh. Nhà có bốn tầng thì tầng nhì dành riêng một phòng dài, rộng, một dãy giường và một dãy bàn học kê liền nhau. Chúng tôi gọi đó là “Trại nữ binh”. Riêng tôi, con gái lớn nhất được một phòng riêng trên sân thượng, trông ra mảnh vườn con.

Nhà con đàn, lo cái ăn, cái mặc cũng đủ mệt. Mẹ tôi thường đi chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối mua rau trái để vừa rẻ, vừa tươi. Mía mua cả bó, ốc mua cả thùng, nghêu mua cả bao, trái cây thì mua nguyên cần sé! Riêng cô con gái lớn học Dược đến mùa thi lúc nào cũng có một chục cam sành dưới gầm giường. Bố Mẹ tôi quan niệm nhà con đông như một chiếc xe lửa có nhiều toa, nếu toa đầu mà ngay ngắn thì cả một đoàn xe dài sẽ hùng dũng tiến lên. Ông anh cả đi Pháp ngay sau khi xong tú tài, ở nhà còn tôi lớn nhất, lại là con gái nên lãnh nhiệm vụ cái đầu tàu.

Bố Mẹ tôi cùng tuổi Dần còn chúng tôi là một bầy gia súc. Tôi sinh năm Hợi, theo lẽ thường thì khắc với tuổi Dần, nhưng ngược lại tôi là con được cưng. Bố tôi thường hay đùa rằng tôi là Lợn rừng. Lợn rừng nên mới nhờn với Hổ.

Mẹ dạy con theo kiểu của Mẹ. Tôi nhớ ngày đầu tiên khi thấy những vệt hồng trên chiếc quần trắng, tôi cuống quýt chạy đi tìm Mẹ. Sau khi chỉ dẫn cách thức chuẩn bị cho con gái thì ngay buổi tối hôm đó Mẹ đã chui vào giường con thủ thỉ: “Con lớn rồi, con biết không? Từ nay không được ngồi gần con trai, không được để đàn ông nắm tay, đi đường có đứa con trai nào theo không được trả lời, lúc nào cũng phải nhìn thẳng… v.v… v.v” Ôi thôi Mẹ dạy đủ thứ làm con bé mười ba tuổi hoảng hồn, lên xe buýt hay xe lam cũng ké né, không dám ngồi cạnh người khác phái.

Bố dạy theo kiểu của Bố. Con gái phải như con dao pha, làm cái gì cũng được, hoàn cảnh nào cũng sống được… Điều quan trọng nhất của Bố là các con phải tốt nghiệp đại học, phải tự lập về tài chánh dù sau khi lập gia đình.

Đến tuổi dậy thì cả Bố lẫn Mẹ đều chăm chút cho cô gái lớn, mặc dù ba chị em sàn sàn bằng nhau và đều cùng học Trưng Vương. Các em mặc áo dài “tetoron” thì được nhưng chị phải áo lụa toàn tơ. Các em phải ở trong “Trại nữ binh” còn chị được ở riêng một phòng. Bố còn đích thân dắt con lên tiệm đồ gỗ Vụ Bản để sắm cho con nguyên bộ giường, tủ, bàn phấn màu hồng nhạt. Dù được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi như thế nhưng tôi bị kỷ luật nghiêm khắc và bị cấm đoán nhiều thứ. Cấm không được mặc áo đầm, cấm không được đi nhẩy, cấm không được có bạn trai khi chưa xong trung học… Khi đậu xong tú tài tôi muốn lên Đà Lạt học vì tôi yêu thành phố sương mù, yêu những đồi cỏ xanh mướt, những vườn hoa tươi thắm, những rặng thông già với tiếng reo vi vu. Tôi muốn thả hồn với mây, với gió, sống hoà ngợp với thiên nhiên. Bố phản đối ngay, nhất định không cho phép, mặc dù tôi bằng lòng ở nhà Bác, chị của Mẹ. Tôi làm reo, ghi tên hầu hết các phân khoa nhưng lang bang không theo học trường nào mà nộp đơn xin đi làm sở Mỹ. Ngày có giấy gọi tôi đi khám sức khoẻ để đi làm, Bố tôi xé ngay, mắng cho một trận nên thân rồi nắm cổ gửi vào lớp của bác T. T. Tuệ để luyện thi vào trường Dược. Ngày tôi thi đỗ Bố sắm cho tôi từng cái ống nghiệm, từng cái “becher”.

Hai Bố con tôi rất thân nhau vì con hay thủ thỉ với Bố, Bố cũng hay tâm sự với con. Bố đến đón con ở trường thì vào tận giảng đường tìm, khi thấy mặt con Bố giơ chùm chìa khoá lên lắc lắc ra hiệu rồi xuống xe ngồi đợi.

Hồi trẻ Bố tôi đẹp trai, nhanh nhẹn, nói năng rất có duyên vì thế nên có nhiều cô ngưỡng mộ. Những buổi chiều hè Bố đưa tôi lên làng đại học Thủ Đức để dạy lái xe, tôi khượi khượi, gợi chuyện, thế là Bố kể hết chuyện của Bố. Tương kế, tựu kế vì biết người biết ta trăm trận trăm thắng (!) . Tôi cứ khươi chuyện và làm như về phe với Bố, Bố đưa tôi đến gặp người ta. Rồi ba chị em bàn nhau đi dẹp giặc giúp Mẹ. Bố nói với chúng tôi:”Bố như kẻ lữ hành đi trên đường thiên lý, thấy bóng mát thì ngừng chân, nhưng Mẹ và các con vẫn là nơi nghỉ ngơi chính thức cuối cùng”. “Bố ngụy biện, Bố không được ngừng nghỉ ở đâu hết, phải đi thẳng về nhà”. Chúng tôi đã trả lời thế. Công nhận là Bố tôi rất thương vợ và các con, không hề sao lãng bổn phận với gia đình.

Mặc dù hãnh diện vì có ông Bố hào hoa nhưng tôi sợ. Tôi sợ những người nổi bật trong đám đông, những kẻ dễ quyến rũ người khác phái. Tôi đổi quan niệm về thần tượng. Thần tượng của tôi sẽ là người trung bình về mọi phương diện và điều quan trọng nhất là tấm lòng chung thủy. Thủy chung thì dù có gặp sức quyến rũ đến đâu chăng nữa cũng chẳng thể ngã lòng. Hai cô em tôi đã chọn được ý trung nhân còn tôi cứ mãi lãng đãng. Mỗi lần đi phù dâu bạn hay các bà chị họ về lại có người nhờ mối mai, các bạn bè cũng cứ muốn – Mày làm chị của tao – Mẹ sốt ruột thúc giục – Con còn muốn gì? Như thế mà chưa chịu? Con còn muốn gì đây? -… Để rồi sau sinh nhật hai mươi bốn, tôi quyết bỏ những mơ màng, lãng đãng, lông bông và tôi đã gặp chàng, người tôi xe tơ, kết tóc.

Tối hôm trước ngày đám cưới, Mẹ dặn đủ điều. Mẹ dạy con chữ Nhẫn, Mẹ muốn con nhớ chữ Nhịn vì đối với Mẹ đàn bà Nhẫn Nhịn bao giờ cũng thắng ở trận cuối cùng. Bố khóc, Bố là người đa sầu, đa cảm và mau nước mắt hơn Mẹ. Bố thương con, Bố nhớ con và Bố buông câu nói sau cùng: “Tử tế thì ở mà không tử tế thì về với Bố!” Đám cưới là ngày vui mà bố con sụt sùi, chị em bịn rịn. Mẹ cũng thương con nhưng chắc Mẹ thở phào vì đầu đi đuôi lọt, con chị nó đi cho con dì nó lớn, Mẹ còn phải lo tiếp cho tám nàng con gái nữa.

Tôi lập gia đình xong. Biết là cái đầu tàu đã ngay ngắn, Bố Mẹ tôi dễ dãi hơn với các con còn lại. Vân Hạnh muốn đi Đà Lạt học Bố cho phép liền. Tiếp đến Thuận đi lấy chồng. Nghĩ lại tôi thấy cũng thật bất công cho các em tôi vì khi tôi thi Trung Học và Tú Tài, chỉ đậu bình thứ mà bố mẹ rất là hãnh diện, dắt cả nhà đi ăn cơm tây để khao, còn các em tôi đậu ưu, đậu bình thì Bố nói con của Bố đương nhiên phải học giỏi! Mỗi lần tôi đi thi Bố sửa soạn cho từ cái quần, cái áo, tự tay Bố là ủi phẳng phiu, bảo Vân Hạnh đưa chị đi và trước khi đi Bố ra cổng đứng đợi sẵn để chắc chắn con không ra ngõ gặp gái.

Ngày tôi sanh con bé đầu lòng, cả nhà đứng đợi trước phòng sanh. Sau khi con bé chào đời bà ngoại bồng cháu đi trước, các dì, các cậu theo sau như một đám rước. Sáng sớm hôm sau Bố vào thăm đem một chai rượu sâm banh để Bố cùng con gái uống mừng cháu ngoại đầu tiên. Kỷ niệm với Bố tôi còn nhiều. Bố tiếp tục lo lắng, săn sóc cho những đứa con của Bố. Sau khi ba đứa lớn yên bề thì Phương Nam lại là đầu tàu của dây sau. Bố lại o bế, chiều chuộng con búp bê Nhật Bổn của Bố. Lịch sử tái diễn.

Biến cố 1975 cả gia đình tôi đều bị kẹt lại ngoại trừ ba người con đi du học từ trước và Thuận di tản theo nhà chồng. Cha và chồng tôi đều phải vào trại cải tạo. Mọi việc trong nhà oằn trên vai Mẹ. Mẹ tôi thật xốc vác, đảm đang. Mẹ công bình hơn Bố, Mẹ thương yêu tất cả các con của Mẹ, đối với Mẹ đứa nào cũng là con vàng, con ngọc, là kim cương, hột xoàn của Mẹ. Mẹ chắt chiu, dành dụm để cứ gom đủ tiền lại kiếm chỗ gửi một đứa con ra đi. Cứ như thế Mẹ tung các con của Mẹ ra đại dương để đi tìm tương lai, còn Mẹ và bé út ở lại để thăm nuôi và chờ Bố. Nhà toàn con gái thế mà đi trót lọt và đoàn tụ lại hết không bị sứt mẻ gì. Hàng đêm Mẹ thắp nhang cầu nguyện và cảm tạ Phật Trời, Tổ Tiên đã phù hộ cho gia đình, cho con cháu của Mẹ.

Bố tôi trải hơn mười năm trong ngục tù, từ trại Long Giao trong Nam đến Hà Sơn Bình ngoài Bắc, điêu đứng, đắng cay, đói ăn, rét mặc. Bị đau đớn từ tinh thần đến thể xác. Bố được thả về với hình hài yếu đuối, tâm trạng rã rời. Cuối cùng các con cũng bảo lãnh được cha mẹ và em út. Đại gia đình, bố mẹ với mười hai người con đoàn tụ lại hết. Nhân số gia tăng đều đều. Bây giờ bố mẹ tôi đã có hai mươi bốn đứa cháu và bốn đứa chắt. Hàng năm vào dịp Thanksgiving chúng tôi đều tụ họp ở Lake Tahoe, dâu rể, con cháu hơn năm chục người. Bố mẹ chúng tôi sống chan hoà Hạnh Phúc mặc dù đôi khi cũng có những chuyện lợn cợn của cuộc đời.

Được vài năm thì Bố tôi bị “stroke”, đôi chân yếu dần, yếu dần. Bây giờ Bố tôi không tự đứng được nữa, nói khó khăn, ăn bằng ống tiếp thẳng vào bụng. Hàng ngày Mẹ tôi phải vào thăm, Bố Mẹ tôi bằng tuổi nhau nên Bố già thì Mẹ cũng còm cõi. Mẹ không bịnh nhưng rất yếu, yếu vì tuổi già, yếu vì đã sanh đẻ mười hai lần, yếu vì suốt đời phải nhọc nhằn, lo lắng. Mẹ tôi có tất cả các đặc tính của người đàn bà Việt Nam xưa, chịu thương chịu khó, hy sinh cho chồng con, nhịn ăn nhường mặc, chẳng nghĩ đến thân mình. Đi chợ thì mua con cá rõ to, chọn con gà thật béo, chục xoài phải nhất chợ cho chồng, cho con. Mỗi khi có hàng quà đi ngang, chúng tôi khều khều Mẹ là Mẹ lại móc túi cho tiền. Những lúc chúng tôi nằm dài sát nhau coi TV thì Mẹ nhìn ngắm say sưa rồi nói “Không chịu khó đẻ thì làm sao có những đứa trẻ này!” Người Mẹ thật thơm, mùi thơm dịu mát mà đứa con nào cũng thích rúc Mẹ mặc dù đã lớn tướng.

Mẹ vào thăm Bố, Mẹ đem những phim ảnh ngày xưa, thời các con còn bé tí, hình đám cưới của từng đứa con, hình ra đời của từng đứa cháu, hình những kỷ niệm của gia đình, ngày lễ bạc, lễ vàng của Bố Mẹ. Có chứng kiến tận mắt mới thấy thế nào là tình nghĩa Phu Thê, thế nào là vợ cái, con cột. Thời trẻ Bố có đi hoang Mẹ vẫn nhẫn nhịn, đợi chờ. Bây giờ hai vợ chồng già chăm chút cho nhau. Hai người như hai chiếc lá vàng đang run rẩy trước gió. Như hai ngọn đèn leo lét, dầu cạn từ từ. Vẫn biết rồi cũng phải chia ly, vẫn biết không ai sống hoài nhưng nhìn hai hình bóng thân yêu không khỏi ngậm ngùi. Mặc dù con đàn cháu đống, gia đình lúc nào cũng đông vui, nói cười rộn rã, đi đâu cũng có một lũ con cháu vây quanh… nhưng cuộc hành trình cuối cùng thì Đơn Độc

 

Đỗ Dung – 2007

CÁNH HOA TRƯỚC GIÓ

 

Bên hiếu bên tình quá thương đau

Hao gầy tóc rụng huyết lệ trào

Cánh hoa trước gió thời ly loạn

Bến đục bến trong sóng gió gào…

 

MD.08/03/20

LuânTâm

Thân cảm tặng ” SAU CUỘC VUI “& tác giả Đỗ Dung

 

GIÓ TÌM MÂY BAY
Tìm mây gặp gió hỏi trăng sao
Về chưa vườn thơ mộng ngọt ngào
Bến nhạc thuyền hoa tầm xuân nụ
Tre tàn măng mọc thương ca dao…
MD.07/12/20
Luân Tâm
Thân cảm tặng “TÌM MÂY” & Đỗ Dung 

Kính mời quý vị vào thăm các sinh hoạt

của văn thi sĩ Đỗ Dung

Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Nhạc và lời Hùng Lân

Nhóm Minh Châu Trời Đông trình diễn

tại Đại Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa

 

 

Ra Mắt sách

Như Một Thoáng Mây Bay 

Phần 1

của nhà văn Đỗ Dung

Ra Mắt sách

Như Một Thoáng Mây Bay 

Phần 2

của nhà văn Đỗ Dung

 

Ra Mắt sách

Như Một Thoáng Mây Bay 

Phần 3

của nhà văn Đỗ Dung

 

Ra Mắt sách

Như Một Thoáng Mây Bay 

Phần 4

của nhà văn Đỗ Dung

Ra Mắt sách

Như Một Thoáng Mây Bay 

của nhà văn Đỗ Dung

tại San Jose California Hoa Kỳ

Cung Thị Lan created on July 12,2020