Lời giới thiệu của Trần Trung Đạo: bài thơ hay nhất cuo61ina8m mà tôi được đọc.
Khoảng đầu thập niên 1990, căn nhà của vợ chồng tôi ở Dorchester, Massachusetts, trở thành “trụ sở” không phải của một hội văn bút, mà của cả một thế hệ cầm bút lưu vong, đang định cư miền Đông Bắc Mỹ.
Gọi là thế hệ, bởi vì đa số nhà văn nhà thơ cùng một tuổi.
Họ là Trần Hoài Thư (1942), Lâm
Chương (1942), Lê Mai Lĩnh (1942), Phạm Nhã Dự khoảng 1942, Trần Doãn Nho (1945) v.v…
Trước 1975, họ biết nhau, chơi với nhau, viết chung một báo và nhiều trong số họ còn vào Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức cùng một khóa.
Tổng cộng khoảng 30 người tính cả chúng tôi, những người cầm bút yêu mến họ thuộc thế hệ sau.
Họ “mượn” căn nhà của vợ chồng tôi để sinh hoạt, chứ không phải tôi là một phần của họ.
Tôi không biết nhiều về họ nên chỉ ngồi nghe.
Những người họ gọi bằng tên, bằng “thằng”, bằng “nó” là những tên tuổi lớn, mà tôi đọc và kính trọng từ Văn, Bách Khoa, Khởi Hành thời trước 1975.
Mỗi người trong số họ có vài “bí kíp thơ” họ thích, có kỷ niệm và nhất là họ thuộc.
Trong một sinh hoạt văn nghệ, nếu MC giới thiệu nhà thơ Lâm Chương, xác suất cao, khán giả sẽ nghe ông đọc “Sau Những Năm Đi Xa Trở
Về, Viết Bài Thơ Ngày Giỗ Má” hay “Câu Gì Em Nói Nhỏ”.
Nếu giới thiệu nhà thơ Phạm Nhã Dự, ông sẽ đọc ngay “Buổi Chiều Ở Nghĩa Trang Cà Đú” viết để tặng bạn ông, nhà thơ Tô Đình Sự.
Nếu giới thiệu nhà thơ Trần Hoài Thư, có thể ông sẽ đọc bài “Ô Cửa”.
Lý do tôi nói chắc, vì ngày đó tôi làm MC cho tất cả chương trình văn nghệ lớn nhỏ ở Boston.
Một lần nhà thơ Lê Mai Lĩnh từ Hartford thuộc tiểu bang Connecticut đến thăm.
Trong phòng khách nhà tôi, trước khá đông văn nghệ sĩ, tôi giới thiệu nhà thơ Lê Mai Lĩnh.
Nhà thơ Lê Mai Lĩnh là một người có cá tính.
Ông thích làm dáng, thích làm điệu bộ, thích đóng kịch, có khi thích giả khùng.
Nếu độc giả gặp một Lê Mai Lĩnh như thế đâu đó, xin đừng để ý.
Bên trong, ông là một người rất hiền hòa, tình cảm và yếu mềm trước tình cảm.
Ông từng khóc (thật) ở nhà tôi.
Tôi biết nhà thơ Lê Mai Lĩnh qua trung gian nhà thơ Hồ Công Tâm. Nhà thơ Hồ Công Tâm gọi và đọc trên điện thoại cho tôi nghe một bài thơ của nhà thơ Lê Mai Lĩnh tức Lê Văn Chính, tức Sương Biên Thùy vừa gởi cho báo Dân Chủ Mới.
Tôi không biết bút danh và tên thật của ông, và cũng chưa từng nghe đến bút hiệu Lê Mai Lĩnh.
Với ông và thế hệ ông, tôi là kẻ vô danh.
Nhưng bài thơ làm tôi xúc động.
Khi báo in ra tôi đọc lại kỹ bài thơ và càng xúc động hơn.
Bài thơ “ Chuyến Tàu Cuối Năm “ là bút ký của một người tù trên chuyến tàu từ Bắc vào Nam.
Người tù này chưa được thả, chỉ bị chuyển từ một nhà tù ở Thanh Hóa vào nhà tù khác ở Gia Rai.
Bài thơ Chuyến Tàu Cuối Năm, còn là tâm sự của một thế hệ và hơn thế nữa là tâm sự của cả dân tộc, trong giai đoạn đen tối của lịch sử Việt Nam.
Lịch sử rồi sẽ sang trang, nhưng bài thơ Chuyến Tàu Cuối Năm của Lê Mai Lĩnh sẽ sống rất lâu cùng đất nước.
Một mai, khi cách sống và lối sống của con người đổi thay, những bài thơ tỏ tình có tính thời trang sẽ được đưa vào thư viện.
Nhưng những bài thơ gắn liền với thăng trầm của dân tộc, vẫn sẽ tiếp tục sống, sống trong giảng đường đại học, trong sinh hoạt văn hóa và ngay trong những quán café dưới gốc cây me hay trên vỉa phố.
Bởi vì những bài thơ đó là một phần của nền văn hóa đầy sinh động của con người trong dòng chảy không ngừng của lịch sử.
Dân tộc Việt Nam còn tồn tại hôm nay và sẽ vượt qua khổ nạn Cộng Sản bởi vì các thế hệ đi sau thường rất cảm thông với sự chịu đựng và
chia sẻ tâm nguyện của những người đi trước, và đứng lên tiếp tục hành trình của họ.
Trong diễn văn nổi tiếng đọc trước Quốc hội Hoa Kỳ, danh tướng Douglas MacArthur kết luận bằng cách lập lại một câu danh ngôn:
“Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ tan dần đi mà thôi”.
Những người lính cầm bút VNCH còn sống hôm nay rồi cũng sẽ tan dần.
Nhưng ước mơ một ngày dân tộc Việt thăng hoa phản ảnh trong thơ ca của họ sẽ sống mãi với thời gian.
Năm, mười năm sau, một trăm năm sau, hai trăm năm sau, các nhà văn học sử Việt Nam biết đâu lại chẳng đến con đường Dorchester ở Massachusetts, con đường Bolsa ở California, con đường Bellaire ở Houston v.v… để sưu tầm
dấu tích của những người cầm bút Việt Nam Cộng Hòa còn để lại sau khi đã tan đi trên đất khách.
Đêm ở nhà tôi, nhà thơ Lê Mai Lĩnh đọc bài Chuyến Tàu Cuối Năm và ông đã khóc.

CHUYẾN TÀU CUỐI NĂM.
Về quê hương vào những ngày cuối năm,
Trên con tàu chở đầy xiềng xích,
Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối,
Ta trả lại Người, những đói rét hờn căm.
Mai ta đi, từ bóng tối mù tăm,
Nơi ta về quê, miền Nam yêu dấu.
Hãy ở lại, những đói nghèo, đau thương, ẩn náu,
Chia tay nghe, vĩnh biệt, yên nằm.
Chào không chút xót ,thương, núi rừng Việt Bắc.
Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Cai,
Chào Vĩnh Phú, Thanh Phong, Thanh Hóa.
Còn trong ta cơn ác mộng chưa phai.
Chào bo bo, chào sắn khoai, bắp xay, bắp hột.
Vĩnh biệt nghe, nước muối đại dương.
Chào rau tàu bay, lá đay rừng chua xót.
Khi nghĩ về, lạnh buốt khớp xương.
Mai ta đi, chào những ngôi giáo đường,
Đứng lạnh lùng giữa hoang tàn cỏ dại.
Hãy ở lại nghe, những nghiêng chùa đổ chái.
Áo rêu phong khép kín niềm thương.
Chào con phố nào, ta đã có lần qua,
Dẫu không biết tên để gọi,
Nhưng trong lòng ta thầm nói:
Đó là phố Sinh Từ.
Để nhớ Trần Dần và nhóm Nhân Văn,
Để ngợi ca những thi sĩ, nhà văn,
Đã dũng cảm đấu tranh cho Sự Thật.
Ngậm ngùi trong lòng ta, tưởng nhớ Phan Khôi.
Nhớ ông Bình Vôi bất hủ.
Nơi miền quê nào, ông đã yên nằm, ấp ủ.
Nhưng trong lòng tôi, ông sống mãi,
Ông sống mãi rồi, ông Phan Khôi ơi.
Nhớ về ông, tôi nghĩ tới Kim Tự Tháp của ông Hồ.
Mai cuộc vuông tròn, đời còn tính sổ.
Mai ta đi, chào những gia đình bị chỉ định cư trú.
Vách đất mái tranh, không đủ ấm mùa Đông.
Nương sắn, đồi khoai, không đắp đổi qua ngày.
Phải lặn lội rừng sâu, năm năm một lần đổi chỗ.
Thương cụ già tám mươi, tất bật ngược xuôi,
Mấy chục năm rồi đói khổ.
Nhìn đàn con cháu điêu linh.
Không dám đứng lâu với ta, để bày tỏ sự tình.
Sợ thằng công an ngó nhìn, quở mắng.
Chào em bé ném đá ta ngày mới tới,
Và cô bé chu miệng chửi rủa mẹ cha ta, ngày mới ra.
Giờ thì các em đã biết ta,
Không phải là quân ăn thịt người,
Nên đã có em mang sắn đến cho ta.
Khi con tàu qua tới bờ Nam,
Kinh hoàng lòng ta, rợn người muốn khóc.
Đã sau lưng rồi, xứ sở của đau thương.
Ta đã thoát, hang hùm khó nhọc.
Trên những cánh đồng miền Trung tàu qua,
Ta chỉ thấy đàn bà em nhỏ.
Thanh niên đâu, đi lính hay tù,
Đã mấy năm rồi, quê hương thế đó.
Này cô gái thanh niên xung phong,
Khi con tàu qua khỏi hầm đèo.
Sao cô cầm đá ném vào đầu công an.
Rồi hai tay chống nạnh nhìn theo.
Này các em ở sân ga Đà Nẵng,
Có bao lăm, lời lỗ thế nào.
Mà em ném cho ta bao thuốc tặng,
Nhỡ công an thấy được làm sao.
Này các em nhỏ ở sân ga Nha Trang.
Em hát những gì nghe sao ngộ nghĩnh.
Em giận đời chăng, rằng em bị phỉnh:
“Như có Bác Hồ trong thùng phuy đậy nắp,
Mở nắp ra, nghe cái cốc trên đầu”
Em hát lạ lùng, giữa một đám đông.
Đứng vẫy tay chào các anh trở lại.
Trong lòng ta, từ nay sống mãi,
Tình quê hương, lòng đồng bào miền Nam.
Trong nỗi đau, quân cướp Đỏ bạo tàn.
Này cái vẫy tay vụng trộm đón chào,
Này con mắt nhìn dấu yêu thầm lặng,
Này nụ cười, trao gởi niềm tin,
Đã hiểu rồi, ta nhất định thắng.
Chúng không giết được chúng ta sau ngày 30 tháng 4,
Chúng không giết được chúng ta
trong BÓNG TỐI, ĐÓI RÉT và SỰ LÃNG QUÊN,
Nơi núi rừng âm u Việt Bắc.
Ta đã ra ánh sáng, ta đã về đất sống,
Nhất định chúng ta phải thắng.
Nhất định chúng ta phải thắng.
Nhất định chúng ta phải thắng.
Thép đã tôi, lưỡi gươm này phải sắc,
Phải rắn, phải chắc, phải bền lòng, dũng cảm.
Đường gươm đi phải đẹp.
Phải làm lại từ đầu, với cái giá đã mua.
Phải làm lại, từ đầu, đừng để lòng già nua,
Tóc dẫu bạc, nhưng lòng thanh niên trẻ lại.
Trên bước chân đi, trong tim đời thoải mái,
Ta hiên ngang, chững chạc, đàng hoàng.
Ta đã về, khi quân cướp hoang mang.
Ta đã về, với niềm tin tất thắng.
Về quê hương, vào những ngày cuối năm.
Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt.
Nhưng trong lòng ta, bao nỗi hân hoan.
Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt.
(Trại tù Gia Rai, Z30A/1981 )
















