Sinh hoạt với Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hoà Âu Châu

                                             Đào Hiếu Thảo

 

Sự hiện diện của cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà tại các quốc gia Bắc và Tây Âu bắt đầu từ những năm đầu thập niên 1980, gồm thành phần vượt biển tìm tự do được những tàu buôn, tàu dầu của các nước Âu Châu cứu vớt hoặc được thân nhân bảo lãnh qua chương trình sum họp gia đình do Phủ Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) tiến hành và tài trợ.

Mãi mười năm sau đó, các cựu quân nhân, cựu tù lao động khổ sai Việt Nam mới được chánh phủ và người dân Hoa Kỳ chấp thuận cho đến định cư trên đất Mỹ qua chương trình nhân đạo HO, nhờ vậy hàng trăm ngàn gia đình cựu quân nhân, cựu viên chức Việt Nam Cộng Hoà được làm lại cuộc đời mới trên một xứ sở tự do, dân chủ hàng đầu thế giới.

Bên Âu Châu các cựu quân nhân Việt Nam đến sinh sống nhiều nhất là nước Pháp, kế đó là vương quốc Anh, cộng hoà Liên Bang Đức, vương quốc Hoà Lan, Thuỵ Sĩ, vương quốc Bỉ, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Hy Lạp, Ý. Tại Pháp có vài ngàn gia đình cựu quân nhân Việt Nam còn bên Bắc Âu và Nam Âu, có nước chỉ tiếp nhận vài chục hoặc vài trăm gia đình từ Việt Nam Cộng Hoà đến tỵ nạn chính trị.

Quốc kỳ của các nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu (EU)

Phần lớn các cựu quân nhân Việt Nam đến sinh sống và lập nghiệp tại Vương Quốc Bỉ từ đầu thập niên 80 đã được tàu dầu FINA của Bỉ cứu vớt ngoài khơi đưa về đất liền, ngoài ra là những cựu chiến sĩ QLVNCH được thân nhân bảo lãnh.

Ngoài nỗi buồn mất nước, tình quân dân vẫn nặng trĩu trong lòng, nhất là mỗi độ Xuân về nên vào dịp Tết Nguyên đán đầu năm 1983, những người chiến sĩ bị bức tử này đã hợp lại và thành lập Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việc Nam Cộng Hoà tại vương quốc Bỉ do cựu Thiếu tá Không Quân Trần Châu Thuỷ làm Chủ Tịch, với mấy chục thành viên thuộc đủ các quân binh chủng Hải, Lục, Không Quân và Cảnh Sát Quốc Gia.

Các quốc gia Âu Châu khác, đặc biệt là ở Pháp, Hội Cựu Quân Nhân VNCH đã được thành lập từ năm 1976 và hoạt động hữu hiệu bên cạnh các hội đoàn quốc gia, lúc ấy đã có trên nửa triệu người Việt định cư tại Pháp, vì đất nước mình là thuộc địa cũ của Tây nên người Việt Nam đã có mặt nơi đây từ đầu thế kỷ 20.

Qua liên lạc rồi tìm đến bên nhau hội họp, bàn thảo về chương trình hoạt động chung, các hội cựu quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà lần lượt được thành lập tại nhiều quốc gia Tây Âu.

Chúng tôi ghi nhận có sự tham gia và khuyến khích của các bậc đàn anh trong quân ngũ như: bên Pháp có Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, Thiếu Tướng Chương Dzềnh Quay, Phụ Tá Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Thiếu Tướng Phạm Đăng Lân, Cục Trưởng Cục Công Binh, Phó Đề Đốc Đinh Thành Châu, Tư Lệnh Hạm Đội, Đại Tá Trần Văn Liễu, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, nhị vị Đại Tá Không Quân Châu Hữu Lộc, Phan Huy Long, Đại Tá Mai Viết Triết, Trưởng Phái Bộ An Ninh tại hoà đàm Paris, Đại Tá Hồ Văn Lời, Bộ Tổng Tham Mưu, Đại Tá Nguyễn Hồng Đài, Quân Vận. Tại Hoà Lan có Đại Tá Phạm Ngọc Ninh, Trung Đoàn Trưởng Bộ Binh, ở Đức có Đại Tá Bùi Văn Hiền, Thứ Trưởng Thông Tin, bên Thụy Sĩ có Trung Tá BĐQ Trần Hữu Kinh, Y Sĩ Trung Tá Không Quân Nguyễn Gia Tiến, tại Bỉ có Trung Tá Nguyễn Văn Khôi, thuộc Tổng Nha Nhân Lực (Động Viên) …

Trở lại với các sinh hoạt của Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tại vương quốc Bỉ từ khi thành lập vào năm 1983, là hợp tác với các tổ chức người Việt để phục vụ cộng đồng trong các công tác  chính trị, văn hoá, nghệ thuật, xã hội như Hội Việt Bỉ, Hội Lạc Việt, Hội Hướng Đạo Việt Nam, Hội Phật Giáo Chùa Linh Sơn, Chùa Hoa Nghiêm, Trung Tâm Văn Hoá Xã Hội Việt Nam tại Bruxelles…

Hội Cựu Quân Nhân tại Bỉ họp nội bộ thường xuyên vào mỗi tối thứ sáu để thảo luận chương trình hoạt động trong tháng và kế hoạch tổ chức phục vụ đồng hương vào các dịp lễ hội trong năm như Tết Nguyên Đán, Noel, Tết Trung Thu, Ngày Quân Lực 19 tháng 6, Ngày Quốc Hận 30 tháng 4 đen …

Mỗi năm Hội Cựu Quân Nhân Bỉ tổ chức trại hè tại các quốc gia Âu Châu như Pháp, Hoà Lan, Thuỵ Sĩ, Đức, Anh, Tây Ban Nha… tạo cơ hội gặp gỡ đồng hương, chiến hữu và gia đình, cũng là dịp thăm viếng danh lam thắng cảnh các nước láng giềng của Bỉ.

Tương tự như những cộng đồng người Việt Tự Do hải ngoại khắp nơi, mỗi khi có phái đoàn lãnh đạo hay quan chức cao cấp của Hà Nội, hoặc các đoàn văn công cộng sản đến từ Việt Nam, Hội Cựu Quân Nhân Bỉ phối hợp với các hội đoàn VNCH bạn để tổ chức xuống đường biểu tình, cực lực phản đối sự hà khắc, độc đoán, toàn trị của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đang bỏ tù hàng triệu người, ép buộc con người thay sức trâu cày ruộng, cuốc đất ở những “Vùng Kinh Tế Mới” đến nỗi hàng trăm ngàn người bằng mọi cách vượt biên, vượt biển đi tìm sự sống trong cái chết.

Có lần Thủ tướng cộng sản Phan Văn Khải đến thăm chính thức vương quốc Bỉ, đồng bào tập trung biểu tình rầm rộ trên các đường phố trung tâm thủ đô Bruxelles để chống đối lãnh đạo Bắc Bộ Phủ. Đoàn xe chở phái đoàn Phan Văn Khải được cảnh sát Bỉ hộ tống hùng hậu, khi đi qua một khúc đường hẹp, một số anh em cựu quân nhân Việt Nam chờ sẵn và ném một lon sơn đỏ vào đúng xe Khải ngồi. Lực lượng an ninh vây bắt những người bị nghi là tác giả của hành động phản kháng kịch liệt này, giải anh em lên xe, kiểm soát căn cước, lý lịch và sau đó chở chúng tôi đến một khu phố khác, thả tất cả mọi người xuống xe, cho tự do ra về vui vẻ.

Hội Cựu Quân Nhân VNCH tại Bỉ cũng hô hào đồng hương tẩy chay các hoạt động của Cộng Sản Việt Nam đội lốt dưới danh nghĩa “Maison Du Việt Nam” (Nhà Việt Nam) với chiêu bài mời mọc người Việt về thăm quê hương, khuyến khích gởi tiền, gởi quà về, họ bày bán hàng hoá, sản phẩm đưa từ Saigon, Hà Nội qua thị trường Bỉ tiêu thụ, tổ chức triển lãm hoạt động & thành tích của nhà cầm quyền cộng sản sau khi “Giải Phóng Miền Nam”? và “Thống nhất đất nước”!?! đưa các đoàn văn công sang Bỉ trình diễn ca nhạc, cải lương, hát chèo, múa rối nước…

Hội cũng phụ giúp tập thể người Việt Quốc Gia trong việc tổ chức các lớp dạy Việt Ngữ cho người mình và con em vào hai ngày cuối tuần, ủng hộ các sinh hoạt tôn giáo, tranh tài thể thao, bảo tồn văn hoá truyền thống. Là một tổ chức có kỷ luật, có lập trường, có uy tín, có nhân lực, nên mọi chủ trương, chương trình hoạt động do Hội Cựu Quân Nhân VNCH khởi xướng đều được bà con cô bác tán thành, tham gia và ủng hộ mạnh mẽ.

Hội Cựu Quân Nhân VNCH tại Bỉ còn thường xuyên tiếp đón các phái đoàn đấu tranh của người Việt hải ngoại đến từ Bắc Mỹ, Úc Châu, Âu Châu, trong đó có Đại Tá Trần Văn Liễu, Thuỷ Quân Lục Chiến đại diện Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, Chủ Tịch Việt Nam Cách Mạng Đảng, Đại Tá Võ Đại Tôn, Liên Minh Quang Phục Quê Hương/ Chiến Sĩ Kháng Chiến Phục Quốc, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chức,Thứ Trưởng Xây Dựng Nông Thôn và Hải Quân Thiếu Tá Trần Quốc Bảo cùng phái đoàn thuộc Tổ Chức Phục Hưng đã sang Nga lập đài phát thanh chống Cộng tại thủ đô Mạc Tư Khoa để đưa tiếng nói trung thực về Việt Nam…

Năm 1989, đồng bào và anh em cựu quân nhân Việt Nam tại vương quốc Bỉ đã tổ chức tiếp rước Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH, từ Boston, Hoa Kỳ đến họp mặt.

Nhờ đã ra khỏi nhà bếp, không còn phải làm lụng nặng nhọc mỗi ngày 15 tiếng đồng hồ, không ngày nào nghỉ và tìm được công việc toàn thời gian tại các hãng ấn loát, nên tôi có điều kiện thuận lợi để sát cánh với các huynh đệ cựu quân nhân trong mọi sinh hoạt, ngay từ ngày đầu tiên thành lập Hội vào năm 1983.

Khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm nước Bỉ năm 1989, tôi đang làm công chức tại Université Libre De Bruxelles/Viện Đại Học Tự Do Bruxelles, nhờ vị trí đó mà tôi thỉnh cầu Giáo sư Georges Verghagen, Viện Trưởng ULB, cho phép sử dụng một đại giảng đường có sức chứa 1500 chỗ ngồi để “Tonton Thiệu” nói chuyện với “Quốc dân đồng bào” của ông. Viện Trưởng Đại Học chấp thuận cho Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam mượn miễn phí giảng đường đó đồng thời cử các nhân viên an ninh và chuyên viên kỹ thuật yểm trợ cho Ban Tổ Chức, Giáo sư Bùi Bách Diệp Chủ Tịch Hội làm Trưởng Ban, tôi được cử làm phụ tá cho Chiến Hữu Diệp. 

Trong lần hội ngộ bất ngờ ấy, bà con cô bác từ khắp Âu Châu tề tụ rất đông về xứ Bỉ, đi xa nhất có các đồng hương từ Đan Mạch, Thuỵ Điển, Na Uy và hội trường không còn một chỗ trống.

 

Kỷ niệm với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu tại Bỉ năm 1989

Dù ông không còn tại chức nhưng đây là lần đầu tiên người dân được nhìn thấy tận mắt, được bắt tay, thăm hỏi, tâm tình với Tổng Thống Thiệu, được nghe ông phân tích về thời cuộc Việt Nam và quốc tế cũng như nhắc nhớ “chuyện xưa tích cũ” khi đất nước mình chưa bị cộng sản Hà Nội nhuộm đỏ.

Tối ngày 9 tháng 11 năm 1989 cái gọi là “Tường Thành Bảo Vệ Chống Phát Xít” mà thế giới tự do gọi là “Bức Tường Ô Nhục Bá Linh” được xây dựng từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 để phân chia Đông và Tây Berlin đã bị dân chúng Đức phá huỷ hoàn toàn.

Dịp này, anh em cựu quân nhân VNCH tại Bỉ cử người tháp tùng Trung Tướng Thiệu đi thăm Berlin, con trai tôi cháu Trọng Khiêm 16 tuổi cùng tôi, theo chân phái đoàn vượt đoạn đường dài, bận đi và lượt về trên 2300 km. Ban Tổ Chức là Hội Cựu Quân Nhân VNCH tại Đức do Trung Uý Không Quân Huỳnh Ngọc Đương điều động các công tác đã tổ chức buổi hội ngộ để Tổng Thống Thiệu gặp và tâm tình với đồng hương tại một khách sạn ở Berlin. Trên một ngàn đồng hương có mặt hôm ấy.

Trong quá khứ, lúc còn đọc tin tức thời sự tại radio & TV Saigon, mỗi năm anh chị em xướng ngôn viên truyền hình được tiếp đón Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến đài thu hình chúc mừng năm mới hoặc đọc hiệu triệu gởi toàn dân. Chúng tôi cũng có dịp vào Dinh Độc Lập nhận quà Tết, nên tôi được gặp Tổng Thống và Phu nhân nhiều lần, nhất là lúc ông bà Thiệu đến thăm gian hàng của Không Quân Việt Nam mừng chiến thắng vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Đại tá Võ Dinh, Tham Mưu Trưởng Không Quân dặn tôi tiến lên chào vị nguyên thủ quốc gia và trình bày với ông về thành tích của Không Quân VNCH trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật.

Lúc trình diện vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực khi ông đến thăm Bruxelles năm 1989, Trung Tướng Thiệu nói ngay “Xướng Ngôn Viên truyền hình Saigon đây mà…” Nghe vậy, anh em trong Hội liền cử ngay tôi tạm thời làm tuỳ viên cho ông, từ đó không rời ông nửa bước để bảo vệ an ninh và giúp đỡ ông khi cần.

Ông vẫn được các thuộc cấp cũ tôn kính, nhưng có lẽ vì xuất thân từ hàng ngũ quân đội nên Trung Tướng Thiệu rất thân mật, hoà đồng, gần gũi và đùa giỡn với mọi người. Ban đêm ông không chịu ngủ ở phòng riêng hay nằm trên salon mà thích nằm đất trên sac couchage và muốn có tôi nằm cạnh để cùng nói chuyện đời xưa về quê hương Việt Nam Cộng Hoà của mình mà nay không còn tên trên bản đồ thế giới.                   

Trong những năm dày bị tù đày biệt xứ, dù cố nuôi hy vọng nhưng tôi nào có biết bao giờ được gặp lại người thân rồi khi được thả, vì không thể sống với những con người cộng sản, tôi đã đi tỵ nạn bên Âu Châu và nào có dám mơ đến chuyện gặp lại hay sinh hoạt với các bạn lính ngày xưa, nói chi đến những bạn trong chốn ngục tù lao động khổ sai, làm sao có thể nghĩ là mình có cơ hội cận kề cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu ở một khung trời tự do như bây giờ!!

Qua câu chuyện với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong những buổi sinh hoạt, mạn đàm ở Bruxelles, Paris, Berlin, London, các đồng hương và chiến hữu đều thấy rõ là ông có trí nhớ thật phi thường, ông kể lại tường tận từng chi tiết, uẩn khúc, sự kiện lịch sử từ khi ông là một sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội quốc gia Việt Nam lúc mới thành lập đầu thập niên 1950. Sau đó ông được cất nhắc lên cấp Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, hai lần đảm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Chủ Tịch Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà từ 1965 đến 1975.

Nói chung, người dân Miền Nam Việt Nam cho rằng Trung Tướng Thiệu và chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà có công giữ vững và ổn định đất nước trong thời gian cuối của nền đệ nhị cộng hoà. Phe phái chính trị đối lập thì cáo buộc là chính quyền của ông tham nhũng, bè phái, quân phiệt, cá nhân ông là một người đa nghi, mưu lược, bỏ chạy lúc tổ quốc lâm nguy. Nếu so sánh giữa hai chế độ quốc gia và cộng sản thì triệu triệu đồng bào Miền Nam đều khẳng định “giữa hai cái xấu thì mình phải chọn cái nào ít xấu hơn”.

Trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, dưới thời đô hộ khắc nghiệt của Tàu, cai trị ác độc của Pháp, chưa bao giờ người dân Việt Nam phải bỏ xứ, lũ lượt ra đi bằng đủ mọi phương tiện để tìm tự do và đất sống, trong đó có hàng trăm ngàn đồng bào bỏ thân xác trong rừng sâu nước độc hoặc chìm đắm ngoài biển cả mênh mông. 14 năm qua (1975-1989) quê hương đi giật lùi thành lạc hậu, chậm tiến, cái bao tử cũng bị “đảng và nhà nước” nắm chặt lấy, cái đầu bị kiểm soát, não bị tẩy, nhà tù mọc lên khắp nơi, tham nhũng hoành hành từ trên xuống dưới, muốn mua 1 ký gạo hay cân đường thì cả nước phải “Xếp Hàng Cả Ngày”, XHCN có khác!

Đối với anh em quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà thì Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu là bậc Thầy, bậc Đàn Anh, cấp Chỉ Huy cao nhất, nên mọi người tìm đến với ông trong tình huynh đệ chi binh gắn bó, thân tình, hoà đồng. Ai nấy đều thấy mừng vui, thoải mái, cười giỡn trong những lúc anh em lính tráng chúng tôi gặp Tonton. Ban đêm, khi nằm trên sàn nhà, chia nhau tấm nệm tại tư gia các chiến hữu, Trung Tướng Thiệu thường muốn nghe tôi kể về chuyện tù tội lúc bị cộng sản đày đi lao động khổ sai khắp hai miền Nam-Bắc.

Ít tháng sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm và gặp đồng bào tại Bruxelles, Đại Tướng Nguyễn Khánh, cựu Quốc Trưởng, Thủ Tướng, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà từ San Diego, Hoa Kỳ qua thăm các nước Tây Âu cũng có ghé thăm anh em cựu quân nhân tại vương quốc Bỉ và nói chuyện với cộng đồng Người Việt tại một hội trường của Viện Đại Học Bruxelles.

Trở lại với các sinh hoạt do Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tại vương quốc Bỉ thực hiện, trước những đợt thuyền nhân vượt biển tìm tự do ngày càng gia tăng mạnh mẽ đầu thập niên 80, Hội đã nhiều lần gây quỹ yểm trợ cho BPSOS/Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển tại Hoa Kỳ do Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng phụ trách. Hội cũng yểm trợ cho các con tàu nhân đạo Lumière của Pháp, Cap Anamur của Đức cứu vớt thuyền nhân Việt Nam ngoài biển khơi.

Trong công tác truyền thông, Hội Cựu Quân Nhân phát hành bản tin nội bộ hàng tháng, ấn hành đặc san Xuân và vào các dịp lễ hội quan trọng trong năm. Anh em chúng tôi cũng được mời đi thuyết trình về cuộc vận động cho dân chủ, tự do tại Việt Nam trước cử tọa người Bỉ và người Hòa Lan.

Sau khi thành lập vào năm 1983, Hội Cựu Quân Nhân tại Bỉ phát động chiến dịch “Gởi Lửa Về Rừng” để vạch trần những tội ác của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội sau khi họ xâm chiếm Miền Nam, bằng một bức thư lên án sự độc tài, toàn trị, xoá bỏ tự do, tước đoạt dân chủ, vi phạm nhân quyền của chế độ cộng sản được gởi về Việt Nam qua bưu điện Bỉ đến tất cả các cơ quan đầu não của Bắc Bộ Phủ và các địa phương khắp mọi miền đất nước cũng như một số cơ sở doanh nghiệp tại Việt Nam.

Sau này nhiều đồng hương đến định cư hay du lịch tại Bỉ có kể lại họ đã là nhân chứng biết đến việc anh em cựu quân nhân ở hải ngoại gởi thư về Việt Nam buộc tội cộng sản Hà Nội yêu cầu họ cởi trói cho dân, phóng thích tù nhân chính trị, tôn trọng quyền làm Người.

Để thống nhất và phối hợp hoạt động cho hữu hiệu hơn trong giai đoạn cần đẩy mạnh cuộc vận động tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam, năm 1987 các Hội Cựu Quân Nhân tại Anh, Pháp, Đức, Thuỵ Sĩ, Hoà Lan và Bỉ cùng quyết định thành lập Uỷ Ban Điều Hợp Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hoà tại Âu Châu.

Ban Chấp Hành nhiệm kỳ đầu tiên do Chiến Hữu Bùi Bách Diệp làm Chủ Tịch, hai Phó Chủ Tịch là Chiến Hữu Ngô Hữu Thạt/Anh Quốc và Chiến Hữu Tôn Quang Tuấn/Đức Quốc, Tổng Thư Ký là Chiến Hữu Mai Viết Triết/Pháp, Thủ Quỹ là Chiến Hữu Nguyễn Khắc Sơn/ Bỉ, Đào Hiếu Thảo/Bỉ được đề cử làm Phó Tổng Thư Ký.

Hội Cựu Quân Nhân VNCH vẫn duy trì các sinh hoạt như bấy lâu nay theo sắc thái đặc biệt và hoàn cảnh thực tế tại mỗi nước nhưng đồng ý gặp nhau thường xuyên mỗi tháng, mỗi tam cá nguyệt, hàng năm vào dịp hè và xuân để phối hợp công tác chung, duy trì và phát triển tổ chức.

Mỗi quốc gia trực thuộc Uỷ Ban Điều Hợp luân phiên tổ chức các phiên họp định kỳ và bất thường để báo cáo hoạt động, trao đổi kinh nghiệm, đánh giá thành quả đạt được, phổ biến tài liệu, tổ chức thuyết trình về thời sự, nhận định tình hình…

Qua sự hình thành Uỷ Ban Điều Hợp Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hoà tại Âu Châu, anh em có dịp để hội họp tại khắp các quốc gia Âu Châu, đến Geneve, Paris, Marseille, London, Amtersdam, Frankfurt, Bonn, Bruxelles… tham gia biểu tình với đồng bào mỗi khi có phái đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội qua xin viện trợ kinh tế hay mở rộng ngoại thương.

Hồi tháng 11 năm 1989, sau khi bức tường ô nhục ngăn cách Đông và Tây Bá Linh bị phá sập hoàn toàn, nhân một buổi trình diễn văn nghệ do anh em quân nhân Việt Nam tại Âu Châu tổ chức đã có gần hai ngàn khán giả tham dự, đa số là “tường nhân”, tức những công nhân miền Bắc đi “xuất khẩu lao động” vượt thoát từ Đông sang Tây Đức xin đào tỵ. Các công nhân này thích đến sinh hoạt với các “Anh Lính Cộng Hoà” và rất ham mộ các tiết mục ca nhạc kịch của Miền Nam, đặc biệt hơn hết là tranh nhau chụp hình, quay video với các anh lính Saigon, với lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để dễ dàng xin tỵ nạn chính trị, thoát ly chế độ cộng sản.

Mỗi năm vào dịp nghỉ hè tháng 7 hay tháng 8 là phiên họp khoáng đại của Uỷ Ban Điều Hợp Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hoà tại Âu Châu. Các thành viên và gia đình cùng tổ chức đi cắm trại, sống tập thể, những ai có chức việc thì hội họp, thảo luận, nghe thuyết trình, người nhà thì du ngoạn, mua sắm, giới trẻ tranh tài thể thao, tập nói và viết tiếng Việt, sinh hoạt văn nghệ, giải trí.

Đến Tết Nguyên Đán, các Hội Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hoà tại Âu Châu tập trung đến một trong số các nước Anh, Bỉ, Pháp, Hoà Lan, Đức, Thuỵ Sĩ để cùng đón xuân, liên hoan, trình diễn văn nghệ, vui chơi theo truyền thống của dân tộc Việt Nam. Mỗi dịp xuân về, đến phiên mình tổ chức tiệc hội ngộ, Hội Cựu Quân Nhân tại vương quốc Bỉ thường xuyên tiếp đón trên 300 chiến hữu, quan khách cùng gia đình đến chung vui.

Có những lúc chợt suy nghĩ lại thân phận bé nhỏ, mong manh, phiêu bạt của một con người mà cá nhân tôi là một trường hợp điển hình, từ một đứa trẻ mồ côi cha rất sớm, vào đời kiếm ăn lúc mới lên 16, bắt đầu nghiệp dĩ là truyền thông khi tuổi đời vừa đôi mươi, rồi làm lính chiến, trở thành cấp chỉ huy trong Không Quân. Sau cuộc đổi đời ngày 30 tháng 4 năm 1975, như bao triệu dân quân Miền Nam, bị đày đoạ, lao động khổ sai, vướng bệnh gan hiểm nghèo, cái chết gần kề trong hoả ngục cộng sản, rồi được thả về, làm thầy giáo Anh Văn bất đắc dĩ. Đến năm 1982 được Mẹ và Em trai bảo lãnh cùng vợ con sang định cư tại Bruxelles, vương quốc Bỉ, phải làm nhà bếp, nhà in cực nhọc, vất vả đến khi bị bệnh nan y thì Ơn Trên sắp đặt cho làm công chức đại học Bruxelles nên mới có điều kiện hoạt động với anh em cựu quân nhân ở xứ Bỉ và Âu Châu.  Bất ngờ được tiếp đón cựu Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và sau này được Phu Nhân của ông và cựu Tổng Trưởng Dân Vận & Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã nhờ làm MC trong thánh lễ trước khi hoả táng vị nguyên thủ quốc gia vào ngày 7 tháng 10 năm 2001 tại Boston, Massachusetts.

Tôi vẫn tin tưởng vững chắc vào Hồn Thiêng Sông Núi, vào các đấng anh hùng dân tộc đã hy sinh cho đất nước, các đàn anh đã gục ngã trong ngục tù cộng sản, luôn che chở, phò hộ cho tôi ra được thế giới bên ngoài, những nơi mà quyền tự do của con người là trên hết, để tôi có thể làm tròn lời khấn nguyện:  “nói lên tất cả sự thật, những gì mắt thấy, tai nghe, những gian khổ cùng chịu đựng với các anh khi cộng sản thống trị Miền Nam nước Việt bằng sắt, máu, súng đạn và gông cùm”.

      

                                 Đào Hiếu Thảo/Th2