QUÊN ĐI

Truyện này dựa trên một chuyện có thật đăng trên báo xảy ra hơn 30 năm trước, tôi không nhớ tên thật của nhân vật chính.  Ông John một ngày bước ra khỏi cửa và không bao giờ trở lại.  Cảnh sát thấy ông ở cách đó cả ngàn dậm, mặc đồ ngủ, trên người không có giấy tờ và ông không nhớ được bất cứ điều gì. Mười mấy năm sau bà vợ xem tv và tình cờ thấy ông đi trong dòng người ở NY, bà nhờ cảnh sát giúp liên lạc lại với ông.

 

 

 

VÀO TRUYỆN

Người cảnh sát nói,

“Thưa ông John, nếu ông có thể nhớ được một điều gì thì làm ơn cho chúng tôi biết ngay.  Những tin tức bà Kay kể và hình ảnh bà ta đưa chúng tôi xem rất đáng tin cậy.”

 

John nói câu vâng ngắn gọn rồi cúp điện thoại, đầu óc nặng trĩu ưu tư, ông không để ý đến thái độ bất lịch sự của mình với viên cảnh sát đã tỏ lòng cảm thông với hoàn cảnh khó xử của mình. 

Dù có cố gắng đến đâu John cũng biết sẽ không thể nhớ lại điều gì, ông đã cố gắng mười mấy năm rồi, mọi thứ dường như phát sinh ở thời điểm đó…đời sống của ông phát sinh ở thời điểm đó, dù ông biết không ai có thể khởi đầu sự hiện hữu của mình vào năm hơn bốn mươi tuổi.

 

John nhớ rất rõ, trong cái sở cảnh sát nhỏ tất bật người qua lại và đầy tiếng người.  Ông ngồi trên cái ghế dựa gần cửa kiếng, xoay lưng vào trong.  Viên cảnh sát dường như quá quen thuộc với những trường hợp mất tích, không có một biểu cảm khác lạ trên khuôn mặt, anh ta hỏi John cả chục lần,

“Có phải ông không nhớ gì hết?”

 

John nhớ sự mệt mỏi, xấu hổ, cơn đau đầu và nỗi sợ hãi về tương lai, về quá khứ, và về chính mình.  Hôm đó ông ôm đầu nhìn vào khoảng tối đen trong óc ráng tìm ra bất cứ một hình ảnh nào gợi cho ông biết mình đã là ai…tất cả chỉ là sự thất vọng cho mãi tới bây giờ.

 

Họ cho ông vào ở tạm trong ngôi nhà dành cho những kẻ vô gia cư, và đưa ông đi khám bệnh tâm thần.  Mọi thứ qua đi rất mau, không ai biết thêm một tin tức gì.  Sở cảnh sát cho ông chọn tên mới, số an sinh mới và giới thiệu ông qua sở xã hội để tìm việc làm sinh sống.  Hơn nửa năm, ông mướn được một phòng riêng gần chỗ làm.  Vài năm sau nữa ông lập gia đình với bà Sue.

 

Cách đây vài ngày, sở cảnh sát liên lạc nói có bà thấy ông trên tv, quả quyết ông là chồng cũ của bà và nhờ cảnh sát cho liên hệ.  John nghe xong thấy bần thần, không như ông nghĩ cách đây nhiều năm là sẽ rất tuyệt vời nếu ông có thể biết mình là ai.  Bây giờ ông thấy lo sợ nhiều hơn vui mừng…ông sẽ phải giải quyết chuyện này ra sao.

 

Được vài năm đời sống đã vào nề nếp, dù bà Sue và ông không yêu nhau nồng nhiệt, đậm đà nhưng gia đình vẫn êm ấm, so với sự cô đơn và thất thường làm ông sợ hãi nhiều năm trước thì tốt hơn nhiều.  Bây giờ nhận lời gặp mặt bà Kay thì sẽ được gì ngoài việc thỏa mãn hiếu kỳ.  Ngày xưa, với ông sự hiểu biết đó có thể còn mang lại no ấm và bình an, nhưng bây giờ thì chưa chắc.  Biết đâu ngày xưa ông đã có một đời sóng gió đến mức tổn hại trí óc đến nỗi mất trí đi hoang.  Nhưng cũng biết đâu, đó là đời sống rất tốt đẹp, với người vợ chung thủy, bằng chứng là bà Kay sau mười mấy năm vẫn còn nhận ra ông dù chỉ xuất hiện có vài giây giữa đám đông.  Nghĩ tới đó ông cảm động không cầm được nước mắt.  Nhưng nếu người yêu thương ông như vậy bây giờ có gia đình êm ấm thì sao?  Sự xuất hiện của ông sẽ phá vỡ sự bình yên của họ cũng như sự bình yên của gia đình mình.  Càng nghĩ John càng chìm sâu vào trầm cảm, ông dấu không cho bà Sue biết, và cũng chưa trả lời cho sở cảnh sát biết khi nào sẽ liên lạc với bà Kay.

 

Để khuây khỏa, John đi tìm những chỗ vắng vẻ thư giãn vào cuối tuần.  Ông lơ đãng để chiếc xe đưa mình ra ngoại ô tới một ngọn đồi cao, đưa ông lên gần với trời xanh mây trắng và trải rộng không gian tới vô tận.  Nghỉ chân gần đỉnh đồi nhìn xuống thấy những ngôi nhà nhỏ bé, chiếc xe tí hon và ông liên tưởng tới những người ở trong đó.  Họ sống ra sao?  Họ có những đau khổ như ông không?  Ông không có những câu hỏi đó khi ông gần gũi họ trong đời sống hàng ngày.  Mỗi người đều quá bận rộn với đời sống riêng tư của mình; không ai dư hơi đi sâu vào chuyện người khác.  Ngay cả lúc rảnh rỗi, người ta cũng dùng nó cho riêng mình.  Hôm nay là lần đầu tiên ông thắc mắc về đời sống của họ, và rồi ông tự hỏi không biết có ai đã từng tò mò về đời sống của ông chưa.  Từ trên cao nhìn xuống, trời đất rộng bao la, những thứ ông thấy to lớn như con người, cái xe, cái nhà, bây giờ nhỏ bé như miếng đậu hũ, cái hộp.  Chúng nhỏ bé, dễ thương hơn cả những đồ chơi bày bán ngoài chợ.  Và ông biết những thứ đồ chơi đó chứa đựng những mảnh đời phức tạp.  Tất cả tạo nên sự liên tưởng tới sự liên hệ của ông và tất cả mọi thứ xung quanh, và cuối cùng nó dẫn ông trở lại nỗi buồn của mình.  Bực bội ông không nhìn nữa, để chiếc xe ở đó, ông đi bộ theo con đường nhỏ dắt lên đỉnh đồi.

 

Con đường nhỏ quanh co, nhiều cỏ dại đủ loại cao thấp mọc đầy hai bên chen lẫn vài cây to đây đó.  Ngọn đồi vắng lặng, ít chim muông hay người đi lại, ngay cả những bông hoa cũng không có nhiều bướm ong đến viếng.  Cảnh vật tĩnh mịch hoang vắng tới mức John có ý nghĩ kỳ lạ về sự hiện diện của chính mình; ông không biết ông thực sự là gì, có chắc chắn hay chỉ là một hư ảo nào đó.  Qua một khúc quanh cảnh vật tự nhiên thay đổi, thay vì những đám cỏ cây thì dọc hai bên đường có trồng nhiều trúc nhỏ, thân đen bóng.  Những chiếc lá xào xạc rung theo gió trộn lẫn vào đó vài tiếng khánh nhẹ ngân dài làm ông tò mò, bước lẹ thêm.  Qua khúc quanh của bụi trúc khác, ông thấy trước mặt là một ngôi chùa nhỏ có sân khá rộng bao quanh, cái cổng rộng bằng chắn song sắt đang mở.  Đang tần ngần không biết có nên vào hay không thì John chú ý tới một đoàn người đang đi tới bên hông chùa.

 

Họ xếp hàng cao thấp không theo thứ tự, cách nhau chừng một thước, đi trong im lặng, nhẹ nhàng và chậm rãi.  Mắt họ nhìn thẳng vào người đi phía trước.  Dù hơi ngờ ngợ nhưng khi thấy rõ những người da trắng cao lớn trong hàng, ông vẫn không tránh được bật lên tiếng ồ nhẹ.  Một vài người đưa mắt liếc nhìn, và người da trắng hơi mỉm cười với ông rồi họ trở lại bước thiền hành. 

 

John thấy hơi ngại định bỏ đi, nhưng những gì chưa từng thấy níu chân ông lại.  Sau thêm hai vòng tuần hành giống nhau mà chẳng ai chú ý đến mình, John đã định bỏ đi thì tiếng khánh liên tục nổi lên và đoàn người tan hàng bước vào chánh điện.  Vị sư đi đầu mặc áo vàng ngồi trước bức tượng phật bỏ chiếc khánh xuống kế bên, và mọi người hình như quen với việc có du khách tới quan sát nên chẳng ai tỏ vẻ ngạc nhiên.  Vài người quay đầu nhìn John rồi theo đám đông vào chỗ ngồi đối diện với vị sư.  John chưa quyết định làm gì thì thấy một người da trắng bước ra chỗ ông đứng.  Ông ta trẻ hơn John, xưng tên Steve, Steve nói ngắn gọn là vị sư sắp giảng bài kinh về luân hồi bằng tiếng Việt và Anh.  Vị sư nhờ Steve gởi lời mời John vào nghe bài giảng  John gật đầu trước sự thân thiện của Steve và vì đề tài hấp dẫn.  John theo vào ngồi kế bên Steve ở gần cửa ra vào; vị sự hơi cúi đầu, mỉm cười với ông.

 

Một người đưa nước và người khác đưa ông cái micro; vị sư bắt đầu với lời chào John, giọng ông ta nói tiếng Anh rõ ràng với ít accent, John cảm thấy thoải mái hơn và quyết định ở lại nghe tới lúc cuối.

 

Bài giảng nói về luân hồi về sự tái sinh và những điều John chỉ nghe sơ qua lúc trước mà chẳng bao giờ để ý tới.  Vị sư cũng đề cập tới những nguyên nhân gây ra sự đau khổ và phương pháp dập tắt sự đau khổ.  John nghĩ về những dằn vặt mình cả tuần nay và tự hỏi không biết vị sư có câu trả lời hay không.

 

Qua một đêm trằn trọc hôm sau John quyết định quay trở lại.  Ông lái xe tới tận chùa thay vì đậu chỗ du khách ở lưng chừng đồi.  Tim đập hồi hộp, ông cương quyết bước qua cổng chùa

và lại ngập ngừng khi thấy vị sư đang quét lá trước sân.  Vị sư không tỏ vẻ ngạc nhiên, ông ta lên tiếng,

“Chào ông John, chúng ta lại gặp nhau nữa rồi.  Ông vẫn mạnh?”

 

John cố dấu sự ngạc nhiên, đáp lời ông ta, và xin lỗi không biết có làm phiền ông không.  Vị sự mỉm cười,

“Không đâu.  Đây là công việc lúc nào làm cũng được.  Thực ra nó là phương pháp để tôi thực hành thiền.  Mời ông vào chơi.”

 

John bước theo ông vào gian nhà nhỏ kế bên chính điện.  Vị sư pha một bình trà nhỏ, họ ngồi đối diện nhau.  Giọng vị sư bình thản như họ đã quen nhau từ lâu,

“Hôm qua Steve có nói cho tôi tên ông nên tôi biết,,,,,,,.  Steve đã học tập chung với chúng tôi được hơn 2 năm rồi, ông ta ở cách đây hơn một giờ xe.”

 

John cảm thấy thoải mái với thái độ của vị sư, ông vào đề luôn,

“Cám ơn ông về bài giảng ngày hôm qua.  Có vài điều tôi chưa từng được nghe, và hồi tối tôi trằn trọc suy nghĩ về chúng.”

 

Vị sư gật đầu tỏ vẻ hiểu biết,

“Tôi cũng phải mất nhiều năm để tìm hiểu và vẫn còn nhiều điều chưa hoàn toàn thấu đáo.  Tuy nhiên cái khó hơn rất nhiều là việc thực hành những điều mình học hỏi.”

 

Ông ta ngưng lại, dường cảm thấy John đang ngập ngừng muốn nói điều gì.  Cuối cùng John mở miệng hỏi,

“Tôi nghĩ có thể hơi bất nhã khi hỏi ông câu này trong lần đầu nói chuyện, nhưng….”

 

Nhà sư khuyến khích,

“Không sao ông cứ hỏi, tôi đã quen với những câu hỏi khó, nếu tôi không biết thì đó cũng là cơ hội cho tôi học hỏi.”

 

John nhìn ông ta với vẻ cám ơn, rồi tiếp,

“…hôm qua ông có nói về luân hồi về sự tái sinh của con người.  Tôi thật sự muốn biết ông có tin vào nó hay không?”

 

Nhà sự mỉm cười gật đầu chờ John nói tiếp,

“Điều gì làm ông tin rằng có sự tái sinh?  Làm sao ông biết được một người hiện nay tới từ kiếp trước?  Có gì chứng minh được điều đó?”

 

Nhà sư lại cười, lần này nụ cười ông có vẻ tán thưởng những câu hỏi của ông John,

“Câu hỏi rất hay, chưa ai từng hỏi tôi những câu như thế, và tôi cũng chưa từng hỏi chính mình những câu như vậy.”

 

Ông ta nhìn ra ngoài cửa sổ, trầm ngâm trong giây lát, rồi chậm rãi trả lời,

“Tôi được sinh ra ở đây và vào chùa tu từ năm lên 28 tuổi.  Từ đó đến nay, tôi học hành, nghiên cứu và khảo nghiệm về nhiều vấn đề nhưng chưa từng tự hỏi có gì chứng minh rằng tái sinh có thật.  Tôi được đọc và nghe rất nhiều lần về chuyện kiếp trước, kiếp sau.  Có chuyện tôi tin, có chuyện tôi nghi ngờ đặt câu hỏi, nhưng về thuyết luân hồi, tái sinh chưa bao giờ thắc mắc.  Từ trước tới giờ tôi nghĩ nó chắc chắn là như vậy.  Tôi nghĩ có thể vì đạo phật xem đó là điều hiển nhiên, giản dị không cần phải chứng minh.”

 

Nhà sư nhìn vào đôi mắt nghi ngờ của John rồi tiếp,

“Tôi không nhớ đọc trong bất cứ kinh sách nào chứng minh một cách có khoa học rằng con người chết đi sẽ đầu thai cho tới khi họ giác ngộ.  Và hầu hết những chuyện tôi nghe đều không có bằng chứng cụ thể.  Có vài bằng chứng đưa ra, nhưng tôi nghĩ khó đứng vững với lý luận và khảo nghiệm của khoa học.  Người kể chuyện dựa trên kinh nghiệm, cảm xúc và trí nhớ của mình; hầu hết họ không nói dối, nhưng chuyện của họ dựa vào cảm xúc nhiều hơn vào lý luận nên rất khó mà nói rằng những chuyện đó minh chứng cho thuyết luân hồi và tái sinh là có thật.”

 

Ông ta ngưng lại nhấp ngụm trà và chờ.  John cảm thấy vừa hài lòng vừa thất vọng, ông chưa biết nói gì nên dục nhà sư nói tiếp.  Nhà sư gật đầu tiếp tục,

“Tuy nhiên chúng tôi tin vào đó để học những vấn đề mà con người quan tâm nhất, về cái khổ và phương pháp cắt đứt nguồn gốc của sự khổ đau để rồi thoát luân hồi…”

 

John ngắt lời ông ta,

“Xin lỗi cho tôi hỏi, nếu ông không thực nghiệm được những điều đó…, nếu ông không tìm được trong kinh sách hay bất cứ ở đâu những bằng chứng đáng tin cậy về tái sinh thì tại sao ông lại dùng nó làm căn bản để học tiếp lên trên, để cắt đứt khổ đau? ……. Rồi còn nữa “Như vậy ông có biết tại sao khi người ta tái sinh họ lại không nhớ gì về kiếp trước không?  Nếu một người không nhớ gì về kiếp trước thì tại sao họ lại biết mình ”………

 

Nhà sư không có vẻ phật lòng về câu hỏi thẳng thắn đó, ông ta giải thích,

“Tôi xin lấy thí dụ, như khi chúng ta còn bé mới học toán cộng và áp dụng nó vào việc đếm những vật dụng chung quanh và thấy nó luôn luôn đúng; từ đó ta thấy kính phục và tin tưởng vào người thầy dậy mình.  Khi thầy bảo khi chúng ta lớn lên, chúng ta sẽ học được  phép tính nhân, chia, toán số,…, chúng sẽ hữu dụng gấp nhiều lần bài toán cộng này; thì dù chưa thấy, chưa được biết về toán nhân, chia,…, chúng ta vẫn tin như thường.  Bởi vì người thầy dậy chúng ta về toán cộng đã hoàn toàn đúng và nó rất hữu dụng.  Trong trường hợp của tôi, tôi còn biết được vị thầy đó rất đáng kính bởi vì những người đệ tử tin và thực hành pháp của ông cũng rất đáng kính.  Từ đó tôi thấy an tâm và quyết định từ bỏ đời sống thường trực bất an.

Vì vậy dù không biết và chưa từng được chứng kiến, tôi vẫn tin vào luân hồi bởi vì đức Phật đã dậy như vậy.”

 

Ông John tần ngần một lát rổi lên tiếng,

“Như vậy ông có nghĩ mình nên tìm hiểu kiếp trước mình là ai, từ đâu đến,,,,,?”

 

Nhà sư nhìn vào mắt ông John trong một lát rồi từ từ lắc đầu,

“Tôi không biết, nhưng theo thuyết nhân quả của đạo phật, tất cả đều có lý do.  Nếu khi tái sinh mình được xếp đặt làm mới mọi chuyện từ đầu, quên hết mọi thứ trong quá khứ, tôi đồng ý với nó.  Tôi tin tưởng đó là sự xếp đặt tốt đẹp.”

 

                                    HẾT