Nghệ Tĩnh và trại tù lao động khổ sai Tân Kỳ K3
                                      Đào Hiếu Thảo
Đầu năm 1980

Trại tù mà chúng tôi vừa bị chuyển đến chiều nay do công an quản lý, mang tên  K3 thuộc vùng Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh.  Nghe nói ở đây tổng số trên ngàn người, phần lớn là anh em quân nhân Việt Nam Cộng Hoà đủ các quân binh chủng, khoảng 100 sĩ quan cảnh sát quốc gia, vài chục tù hình sự là những thành phần bất hảo của miền Bắc. Đây là trại tù thứ sáu mà tôi bị VC giam cầm sau tháng tư đen năm 1975.
Sáng sớm hôm sau họ phân phối chúng tôi, những người vừa đến vào các đơn vị sản xuất đã được thành lập từ trước và lập tức lên đường ra lao động. Tôi bị vào đội rau xanh do anh Trần Nhật Tân thuộc Cục Quân Y làm đội trưởng, đội phó là anh Nguyễn Văn Thời, khoá 19 Dalat, tiểu đoàn trưởng tác chiến lúc trước. Tổng số cải tạo viên trong đội này là trên 100 người.
Công việc của đội rau xanh là gieo trồng bầu, bí, mướp, su hào, bắp cải, rau lang, rau muống…Nói nghe thì đơn giản thế đó nhưng đất là đất rừng đầy rễ cây quá cứng và sỏi đá, bằng sức người tù nhân phải cuốc đất, đào ao, lên luống, dựng giàn, tuỳ theo từng loại hoa màu, nước phải ra suối gánh về tưới rau, sau khi bằng tay trần xúc phân bắc (chữ b không viết hoa, vì đây là để chỉ phân người vừa thải ra hôm qua hay sáng nay có khi đến tay chúng tôi còn chưa nguội hẳn) đem pha với nước tiểu rồi làm “phân bón” cho các loại rau xanh, giúp chúng mọc nhanh, mau thu hoạch để nuôi bọn cai tù và chúng tôi.
Trong các nhà tù cộng sản miền Bắc, phân người và nước tiểu là sản phẩm rất đắc dụng cho việc trồng trọt hoa màu. Hàng ngày đều có các tù nhân chính trị vét phân người từ những nhà cầu (hố xí) cũng như múc nước tiểu (nước giải) gánh ra giao cho các vườn rau xanh. Một trong những người tù thường xuyên phải gánh phân là Thiếu tá Hoa Hải Đường, sĩ quan tuỳ viên của nguyên Đại tướng Quốc trưởng Dương Văn Minh (Tổng Thống VNCH 24 tiếng đồng hồ sau cùng của Miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối)
Là một trong những lính mới ở trại tù này, tôi phải học qua đủ các “khâu” cho quen việc như: gánh nước tưới rau, xuống ao trồng rau muống, lên luống trồng rau lang, cắt bầu bí, mướp, bí rợ, chất lên xe cút kít kéo về nộp cho cai ngục. Chuyện ghê tởm nhất mà cho đến bây giờ, 45 năm sau tôi mãi còn bị ám ảnh là lúc lần đầu tiên lội ao, cắm cộng rau muống sâu xuống đất, thấy phân người và giòi bọ nổi lình bình gần ngay sát mặt mình! Cán bộ cộng sản tên Khiêu bắt anh em tù phải bóp nhuyễn phân ra cho hoà tan với nước, theo lời hắn thì làm như vậy rau muống mới tươi tốt và cho “năng suất cao” ?
Hôm ấy, khi lãnh phần cơm trưa có lưng bát rau muống luộc đầy rễ, cộng già, dai nhách, tôi ngẫm nghĩ tại sao ở thế kỷ thứ 20 rồi mà con người còn sống như thời “đồ đá”, thuở ăn lông, ở lỗ như thế. Tôi không làm sao nuốt trôi mấy cộng rau đó, thấy tôi ngần ngừ, anh Bảo, Thiếu tá phi công trực thăng, đang ngồi cạnh hỏi “ Bồ không ăn rau sao, cho tôi nghe”, tôi gật đầu… Nhìn vào bàn tay mình thấy mười móng tay mới ngâm dưới nước trộn phân người và nước tiểu hoà với sình bùn vài tiếng đồng hồ mà đã vàng khè ra, tựa như vừa được phết lên một lớp verni dùng để sơn gỗ. Thường thì trước khi ăn, anh em chạy vội ra bờ suối rửa tay, lấy nước làm sạch, chứ làm gì có xà bông, lắm lúc không tìm đâu ra chút nước thì vò lá rừng hay chùi vào nắm cỏ, cũng xong.
Tôi biết anh Bảo trước đây có thân hình cao lớn, nay gặp lại anh thì trơ xương sống, xương xườn, má hóp, nét mặt xanh xao khác thường, có lẽ anh mất đi cũng vài chục kí lô. Anh được giao việc trộn, ủ phân người,  rồi gánh ra các vườn rau xanh, xong việc sớm, anh đi quanh quẩn trong phạm vi diện tích do đội tôi canh tác nhặt rau úa, khoai vụn rơi vãi để giúp chống cơn đói luôn hành hạ!
Một hôm, lúc xuất trại sớm khoảng 6 giờ sáng, khi mới bước chân ra khỏi cổng nhà tù CT 3 Tân Kỳ, tôi nhận thấy có Vũ Tuấn Lân (được anh em bạn tù chúng tôi xem là một cai tù có lòng nhân mà trước đây tôi có lần đã dưới quyền cai quản của y ở Khu Gang Thép Thái Nguyên) trong  số những “Bò Vàng” đang đứng chờ để dẫn chúng tôi ra công trường.  Anh nhìn tôi chăm chăm và nhếch mép cười, tôi gật đầu chào rồi bước đi trong đoàn tù có cả mấy trăm anh em để bắt đầu một ngày lao động dưới ánh nắng chói chan, gay gắt của vùng Nghệ Tĩnh, suốt năm chỉ được vài cơn mưa, nhưng cái lạ là thỉnh thoảng lại có cơn giông bão liên tục kéo đến làm lụt lội, tàn phá ruộng vườn, gây đổ nát nhà cửa của dân làng.
Ra đến vườn rau, tiếp tục công việc của “một ngày như mọi ngày”,  trong cái quần xà lỏn, ở trần, chân đất, đầu đội nón lá (do trại phát) xuống ao bốc phân, bóp nhuyễn, rải đều, kế đó đi cắt rau muống cột thành bó, chuyển lên bờ cho bạn tù khác gánh về trại.
Mặt trời chưa đứng thì anh Đội trưởng Tân từ xa vẫy tay lia lịa và lấy hai bàn tay úp vào nhau, che làm loa, nói lớn “Thảo ơi, lên trình diện cán bộ, Tuấn, Tĩnh nhảy xuống thay cho Thảo nghe”.  Bước vào cái chòi tranh dùng làm nơi “ngồi chơi, xơi nước” cho các cán bộ công an, cán bộ Lân đã ngồi chờ sẵn và muốn gặp riêng tôi.
Mở đầu câu chuyện, anh “đánh giá cao” những sự đóng góp của tôi trong các công tác thống kê, thi đua, “nâng cao nếp sống văn hoá mới”, cùng các chương trình thể thao, văn nghệ, trang trí…được Ban Giám Thị “biểu dương”. Anh cho biết, Ban Giám Thị muốn điều tôi từ Đội rau xanh về làm những công tác tương tự như tôi đã từng làm ở các trại Phú Sơn 4 A và 4 C, ở Khu Gang Thép Thái Nguyên. Tôi bắt đầu các công việc này ngay từ ngày hôm sau.
Đúng là một tin sét đánh, thực không hay tôi nằm mơ? đang phải bốc phân người, gánh nước tiểu bây giờ lại chuyển về làm lao động trí óc, làm sao có thể tin được, trước mắt là khoẻ cái thân đã, mọi chuyện sẽ tính sau, nhưng tôi cũng không khỏi lo âu, nghĩ ngợi, nếu mình cứ làm được những công việc như cộng sản họ bày vẽ, thì chẳng lẽ phải ở tù suốt đời sao?
Tại K 3, công tác văn hoá do tù hình sự Châu phụ trách, anh là cựu giáo viên, can tội dâm ô, sắp mãn hạn tù, vì vậy tôi được chọn thay thế. Người thứ 2 là anh Toàn, cựu Trung uý bộ đội, can tôi giết tình địch, lãnh án 20 năm, người thứ 3 là anh Quý, cựu kiến trúc sư , can tội ăn hối lộ, 10 năm tù. Châu ra về, hai anh Toàn và Quý có nhiệm vụ phải phụ giúp tôi vì họ được ra vào nhà tù tự do, trong khi đó tôi không thể đi đâu một mình. Mỗi lần tôi xuất trại phải có cán bộ công an mang súng AK, đến dẫn đi. An ninh, trật tự, y vụ do các tù hình sự miền Bắc đảm trách, anh Hiền, y tá bộ đội can tội trộm cắp, lo việc chích, cấp thuốc cho anh em tù, hai tay thanh niên trẻ Tuấn và Mỹ, ngồi tù vì lường gạt, lừa đảo, lo trật tự tức là khám xét người, tịch thu, vơ vét, đập phá đồ đạc của các tù nhân chính trị chúng tôi.
Được sự tận tình giúp sức của các anh em bạn tù thuộc chế độ Saigon cũ, tôi thấy nhiệm vụ của mình hoàn thành thuận lợi hơn: mấy anh hoạ sĩ là Đỗ Văn Rỉ, Đỗ Đại, Lê Lương, trưởng đội văn nghệ là giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Văn Đăng, trưởng đội bóng đá, bóng chuyền là anh Đoàn Sanh (nay là Mục Sư Tin Lành tại Hội Thánh Calgary, Buffalo, New York. Anh đã được Chúa gọi về tháng tư năm nay, 2020) y tá trưởng là Y sĩ Trung Tá Hải Quân Nguyễn Văn Ngân, Chủ Tịch Uỷ Ban Y tế Hạ Viện Việt Nam Cộng Hoà… Nay anh chị cùng gia đình sinh sống tại Australia. Bạn tù cao niên nhứt luôn ủng hộ tinh thần chúng tôi là huynh trưởng Ba Đôn, khóa 3 Thủ Đức, nguyên Trung Tá Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Bạc Liêu. Năm 2018 may mắn gặp lại anh chị và gia đình tại Quận Cam, California. Gia đình anh sum họp trọn vẹn, các con, các cháu an cư, lạc nghiệp và thành đạt.
Nhận việc không bao lâu, tôi phải xúc tiến chương trình lo tổ chức đón Xuân Kỷ Mùi 1980 với công tác trang trí, múa lân, văn hoá, văn nghệ, thể thao… Dù phải loay hoay, bận rộn suốt ngày, nhưng được cầm bút cầm cọ vẫn hơn cầm cuốc, gánh nước hay bị đày đi bốc c…  Anh Toàn, Trung uý bộ đội, tự nhiên thân thiện hẳn với tôi, nên khi cần đến anh, dù phải làm bất cứ việc gì, anh cũng sẵn lòng và hết sức nhiệt tình.
Ít hôm sau Tết nguyên đán năm đó, toàn trại rúng động khi hay tin tối hôm trước Thiếu tá Vân, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù, Thiếu tá Gắt, Quận trưởng Thủ Đức, Đại uý Ri, phi công trực thăng Sư Đoàn 4 Không Quân đã vượt rào, trốn trại. Nhiều anh em tù, trong đó có tôi bị cán bộ kêu lên, kêu xuống hoài, bị hạch hỏi đủ điều để tìm hiểu về “âm mưu vượt ngục của ba tên phản động, ngoan cố này”.
Hai tuần sau khi ba chiến hữu này ra đi vẫn chưa nghe động tĩnh gì, tôi vẫn hàng ngày thầm cầu nguyện cho các anh thoát ra được bến bờ tự do. Ít hôm sau, đang nằm ngủ trong buồng giam, chúng tôi nghe súng nổ tứ phía, vang dội cả một góc trời, kèm tiếng kẻng liên hồi, loa từ Ban Chỉ Huy Trại báo tin nói là cả ba tên “ ngụy ác ôn” đã bị bắt lại.
Mọi người thở dài, lời cầu xin khẩn khoản của mình chắc đã không được Chúa, Phật chứng giám, phò hộ, một khi bị bắt lại thì các bạn tù kém may mắn này thể nào cũng bị công an đánh đòn “hội đồng”, sau này mới hay tin là các anh bị chúng đánh gẫy cả hai hàm răng. Ngay hôm sau, bọn cai tù ăn mừng lớn, đồng thời răn đe chúng tôi là địa phương đã phái một trung đoàn bộ đội có chó săn tháp tùng để lùng bắt các anh Vân, Gắt, Ri tận biên giới Việt-Lào. Anh Vân ở tù gần 15 năm, cùng gia đình qua Mỹ diện HO, hiện sinh sống tại Seattle, Washington, anh và tôi đã liên lạc với nhau,  hai anh Gắt và Ri thì không biết bây giờ trôi dạt ra sao?
Cái may không thường xuyên đến với con người, “lên voi, xuống chó” là chuyện thường tình, đang lúc mạnh khoẻ, nghĩ là mình làm được nhiều việc hữu ích, phục vụ cho sinh hoạt tinh thần của tập thể bạn tù, một hôm bỗng tôi lên cơn sốt nặng, toàn thân ngã màu vàng. Bác sĩ Ngân chẩn đoán và cho biết là tôi bị sốt vàng da. Ông xin thuốc Penicilline của China đã quá date nhiều năm, chích thử cho tôi, rất may là chỉ sau mấy mũi trụ sinh ấy thì có phần thuyên giảm. Suốt cả tuần tôi chỉ nuốt được ít cháo cầm hơi, các bạn thân, mỗi người cho tôi vài viên trụ sinh giúp qua khỏi cơn bạo bệnh  hiểm nghèo. Bác sĩ Ngân lo ngại nếu trên khắp người tôi nổi đầy mụn đỏ thì khi ấy hết thuốc chữa, đành phải bó tay ra đi thôi.
Mất tinh thần, hết hy vọng, tôi xuống sắc, sụt cân rất nhanh, để râu tóc mọc dài, sống cầm hơi nhờ cháo với chút muối hay đường cát trắng do bạn bè được gia đình thăm nuôi tặng cho. Nhiều đàn anh khuyên tôi phải ráng sống, chờ ngày về, nên hớt tóc, cạo râu sạch sẽ, cầu nguyện Trời Phật phò hộ cho qua khỏi.
Tôi thầm nghĩ từ thuở bé, chưa bao giờ câu cá, bắn chim, săn thú hay làm hại bất cứ ai, không lẽ mình gặp số kiếp hẩm hiu, đến hồi mạt vận, phải chịu nằm xuống vĩnh viễn trên đất Bắc như rất nhiều anh em bất hạnh khác?  Tự bảo lòng hãy cố lên, hãy vượt qua mọi khó khăn, hãy cầu Ơn Trên cho mình bình an, vô sự.
Nhờ sức mạnh của ý chí, sự an ủi, chăm sóc của mấy anh em thân thiết quanh mình, tôi hồi phục và sinh hoạt trở lại bình thường, năm ấy tôi 33 tuổi, có lẽ gặp năm xui, tháng hạn nên vướng phải căn bệnh ngặt nghèo, bị viêm gan mà tôi còn mang trong cơ thể suốt gần 40 năm sau.
Nghe Mẹ tôi kể khi lần đầu gặp lại Bà ở Bruxelles, Belgique năm 1982 là mấy năm sau khi tôi bị nhốt từ Nam ra Bắc, quá tuyệt vọng Bà tìm đến một vị Linh Mục quen ở Saigon, rất giỏi tướng số, dịch lý nhờ Cha xem số cho tôi, Cha trấn an Mẹ tôi rằng: “Mặc dù con bà bị cầm tù khổ sai, nhưng anh ấy cũng được bình an và dễ thở hơn nhiều người đồng cảnh khác”.  Hình như lời Cha nói cũng ứng phần nào thì phải. 
Xin thành kính tưởng niệm vong linh các bậc tiền bối, chiến hữu đồng cảnh đã vĩnh viễn nằm lại trong chốn ngục tù cộng sản, cầu nguyện cho oan hồn của quý anh, quý chị được siêu thoát Cõi Vĩnh Hằng. 
Viết nhân tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng tư năm thứ 45 (1975-2020) và để nhớ lại những ngày, tháng tù đày qua các trại lao động khổ sai: Hóc Môn, Long Giao, Hoàng Liên Sơn, Bắc Thái A & C, Nghệ Tĩnh K1 & K3.                                         
                                      Đào Hiếu Thảo/ KBC 3011