Xin kính chuyển NHỮNG DÒNG TÂM TÌNH của Thi Nhạc SĨ THA NHÂN – TRẦN CHƯƠNG LƯƠNG
Thân mến
Hồng Thủy
Thưa chị Hồng Thủy,
Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 85, vào đầu tháng 10/2026, ThaNhân có nhờ cháu Võ Phú in và xuất bản tập ”Thơ XƯỚNG HỌA Tha Nhân và BẰNG HỮU”. Trước khi trình làng vào dịp Đại Hội VBVNHN lần thứ IV tổ chúc vào đầu tháng 11, như chị đã biết. Hôm nay Tha Nhân có vài hàng nhờ chị giời thiệu để các thi hữu cùng nhàn lãm trườc về Lời Tựa của Võ Phú, và những bài giới thiệu của các thi hữu quen trong Văn Bút cũng như bạn hữu của tôi.
Tập thơ hiện đã có trên website của LULU như 2 đường link bên dưới:
Tôi sẽ biếu tặng dành riêng cho tất cả quý thi hữu của VBVNHN, nếu ai muồn có 1 cuốn làm kỷ niêm, cứ liên lạc với tôi qua email hoặc có mặt vàò ngày Đại Hội VB ký IV sáp tới, tôi sẽ trao trực tiếp.
Kính bút
TN
Bia mềm
https://www.lulu.com/shop/thanhan-tranchuongluong/th%C6%A1-x%C6%B0%E1%BB%9Bng-h%E1%BB%8Da/paperback/product-dy47n94.html?page=1&pageSize=4
LỜI TỰA
Y Thy Võ Phú
Một Đời Thơ Của Tha Nhân
Trần Chương Lương
Không phải ai làm thơ cũng nghĩ mình là thi sĩ. Với nhiều
người, thơ là người bạn tri kỷ, là nơi để gửi gắm những điều không
dễ nói thành lời. Qua hơn nửa thế kỷ cầm bút, Tha Nhân Trần
Chương Lương chưa bao giờ nhận mình là thi sĩ! Ông viết không vì
danh tiếng hay sự tán thưởng, mà đơn giản để trải lòng, để lưu giữ
những vui buồn của cuộc đời, những trăn trở với quê hương và ký
ức của một thế hệ đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly hương và bao đổi
thay của lịch sử…
Tha Nhân Trần Chương Lương sinh năm Nhâm Ngọ (1942) tại
Nam Định. Ông lớn lên trong một thời kỳ nhiều biến động của đất
nước. Ông từng là học sinh Trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn Sài
Gòn, sinh viên Luật khoa Sài Gòn, rồi trở thành sĩ quan Quân lực
Việt Nam Cộng Hòa với gần tám năm quân ngũ.
Sau biến cố năm 1975, Tha Nhân Trần Chương Lương trải qua
hơn năm năm trong các trại tập trung cải tạo tại Thành Ông Năm,
Phú Quốc, Trảng Lớn, Đồng Pan, Cây Cày, Bàu Cỏ, rồi tiếp tục gần
năm năm quản chế tại địa phương trước khi định cư tại Hoa Kỳ theo
diện cựu tù nhân chính trị HO 32 vào cuối năm 1996. Cuộc đời ấy
gần như số phận của một thế hệ người Việt đã nếm trải chiến tranh,
mất nước, tù đày và ly hương…
Ông từng sử dụng nhiều bút hiệu như Dạ Đàm, Ong Vang, Xáo
Măng, Cheo Leo…, nhưng cuối cùng chọn Tha Nhân làm bút hiệu
chính thức khi sáng tác thơ, còn khi viết nhạc vẫn dùng tên thật Trần
Chương Lương. Hai chữ “Tha Nhân” dường như cũng là một lời tự
bạch về nhân sinh quan của ông; sống vì người khác nhiều hơn cho
chính mình, coi thơ như một nhịp cầu kết nối bằng hữu hơn là một
phương tiện khẳng định bản thân.
Ba tập thơ đã xuất bản trước đây gồm Như Một Giọt Nước (2006),
Giọt Sầu Quê Hương (2011) và Tuyển tập thơ Tha Nhân – Non Nước
Nghiệt Oan (2021)… đánh dấu từng chặng đường sáng tác của ông
qua các giai đoạn khác nhau. Nếu ba tập thơ trước chủ yếu ghi lại
những suy nghĩ và tâm tình của riêng ông trước quê hương và cuộc
đời, thì thi tập “Thơ Xướng Họa – Tha Nhân và Bằng Hữu” mang một
ý nghĩa khác. Đúng như tên gọi, đây không chỉ là một tuyển tập thơ,
mà còn là kết quả của tình bạn và những cuộc xướng họa giữa ông
với bạn thơ trong suốt nhiều năm.
Trong suốt quá trình sinh hoạt văn học, ông đã cộng tác với nhiều
tạp chí, diễn đàn như Khởi Hành, Con Cò, Con Ong Việt, Tuyển Tập
Văn Học Thời Nay, Văn Đàn Thời Đại, Hồn Việt Anh Quốc, Văn Thơ
Lạc Việt, Việt Nam Văn Hiến, Đặc San Lâm Viên cùng nhiều diễn
đàn điện tử và mạng xã hội khác. Chính vì vậy, tập sách này đã quy
tụ hàng trăm bài thơ đối đáp giữa Tha Nhân và những thi hữu ở
khắp bốn phương. Có người chỉ họa một bài rồi trở thành tri kỷ, có
người đồng hành suốt nhiều năm, có người nay đã khuất, cũng có
người vẫn tiếp tục cầm bút. Tất cả đều hiện diện trong tập sách như
những chứng nhân của một chặng đường văn học đầy nghĩa tình.
Thi tập Xướng Họa – Tha Nhân và Bằng Hữu được chia thành ba
phần. Phần thứ nhất là những bài họa thơ các bậc tiền nhân: Đỗ Phủ,
Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng
Chương… cùng nhiều tác giả nổi tiếng khác. Đây không chỉ là những
bài thơ họa theo niêm luật và vận điệu của người xưa, mà còn là sự
tiếp nối một truyền thống thi ca lâu đời. Qua mỗi bài họa, Tha Nhân
bày tỏ cảm nhận và suy tư của mình trước những giá trị văn học cổ
điển, tạo nên một cuộc đối thoại đầy thú vị giữa người làm thơ hôm
nay với các bậc tiền nhân, để những cảm xúc của hiện tại hòa quyện
với tinh thần văn chương truyền thống.
Phần thứ hai là một thế giới phong phú của những cuộc xướng
họa với bằng hữu, trải dài trên hơn trăm chủ đề cùng hàng trăm bài
thơ qua lại. Ở đó có thơ về quê hương, thân phận, chiến hữu, tuổi
già, niềm tin tôn giáo, tình bạn, tình người, những kỷ niệm đời
thường, những suy tư trước thời cuộc và cả những tiếng cười tự trào
của tuổi xế chiều. Qua từng bài thơ, người đọc không chỉ gặp Tha
Nhân mà còn bắt gặp cả một cộng đồng người Việt lưu vong đã cùng
nhau giữ gìn ngọn lửa thi ca như giữ gìn ký ức và tình nghĩa.
Sau khi xuất bản Non Nước Nghiệt Oan vào dịp sinh nhật lần
thứ tám mươi, ông từng nghĩ sẽ khép lại hành trình cầm bút để dành
phần đời còn lại cho kinh kệ, cho sự tĩnh lặng của tâm hồn và con
đường hướng nội. Nhưng như chính ông từng thổ lộ, có lẽ nghiệp
bút và duyên văn vẫn còn quá nặng nên ông chưa thể dứt bỏ. Vì thế,
nhân dịp sinh nhật lần thứ tám mươi lăm, ông quyết định hoàn thành
tập Xướng Họa này (cũng là phần thứ ba của thi tập) như một món
quà tri ân gửi đến những người bạn thơ đã cùng ông đi qua biết bao
năm tháng. Như những tác phẩm trước, tập thơ không nhằm mục
đích phát hành thương mại mà chủ yếu để thân tặng bằng hữu bốn
phương như một kỷ vật của tình văn chương.
Có thể nói, Xướng Họa – Tha Nhân và Bằng Hữu không chỉ là một
tập thơ mà còn là một cuốn biên niên ký bằng thi ca. Trong từng bài
thơ là bóng dáng của một cuộc đời, trong từng cuộc xướng họa là
một mối giao tình, trong từng trang sách là ký ức của một thế hệ đã
đi qua chiến tranh, tù đày, ly hương nhưng vẫn không đánh mất
niềm tin vào văn học, vào tình người và vào vẻ đẹp của tiếng Việt.
Nếu sau khi khép lại cuốn sách này, người đọc còn nhớ một vài
câu thơ, còn lưu giữ trong lòng hình ảnh những người bạn thơ đã
đồng hành cùng tác giả, hay đơn giản chỉ cảm nhận được sự chân
thành, thủy chung và nghĩa tình của những người cầm bút dành cho
nhau, thì có lẽ mục đích của thi tập đã được trọn vẹn…
Chúng tôi, xin mạn phép thay mặt tác giả, viết lời giới thiệu và
trân trọng gửi dến quý bạn đọc thi tập Xướng Họa – Tha Nhân và
Bằng Hữu! Một tuyển tập được kết tinh từ hơn nửa thế kỷ cầm bút
của Tha Nhân Trần Chương Lương, một người chưa bao giờ nhận
mình là thi sĩ nhưng đã sống trọn với thơ như một người bạn đồng
hành của cuộc đời. Và, chúng tôi hy vọng rằng đây không là thi tập
cuối cùng mà là thi tập để đời, được gửi đến bạn bè và độc giả nhân
dịp bước sang tuổi tám mươi lăm như một lời tri ân, một lời từ tạ nhẹ
nhàng, khiêm nhường và đậm nghĩa tình sau một hành trình dài gắn
bó với thơ ca.
Y Thy Võ Phú
Richmond, ngày 25, tháng 7, năm 2026.
ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU
Tập “Thơ XƯỚNG HỌA THA NHÂN và BẰNG HỮU”
PHƯƠNG HOA
Khi người bạn đàn anh, thi nhạc sĩ Tha Nhân (Trần Chương Lương), gửi thi tập “Thơ XƯỚNG
HỌA Tha Nhân và BẰNG HỮU” nhờ tôi viết đôi lời giới thiệu, tôi đã nói, “Sao anh dám ‘giao
trứng cho ác’ rủi hàng hậu học này viết ‘hổng giống ai’ thì sẽ hỏng cái vẻ đẹp của đứa con tinh
thần mà anh chắt chiu ôm ấp lâu nay”. Không ngờ anh đã “phán” một câu, “…lòng nhiệt thành
của PH… ai mà không biết.” làm cho tôi “tắt tiếng” luôn, nên mới có những lời này.
Đang trong thời điểm quá bận rộn, tôi dự định sẽ đọc lướt qua rồi viết đại chút gì đó chỉ đủ đáp
tạ lòng tin tưởng của tác giả. Nhưng khi mở tập thơ ra, trong tôi dâng lên một nỗi bàng hoàng
lẫn kính phục. Lịch sử các thi đàn xưa nay vốn coi chuyện Đường Thi Xướng Họa là cái thú tiêu
dao cực lạc của các bậc cao nhân ẩn sĩ. Thơ xướng đã khó, họa vần lại bài thơ ấy càng khó hơn.
Họa làm sao cho giữ trọn cái Thần, cái Khí, cái Ý của bài xướng, cho hợp vận, rồi hai cặp đối
phải chuẩn, tránh điệp tự, mà vẫn thả được cái Hồn của mình vào trong thơ, ấy mới là tuyệt kỹ.
Cho nên, những người yêu thích Thơ Đường Luật trong thời hiện đại thường lập nhóm để xướng
họa cùng nhau, chia sẻ tâm tình, và cùng học hỏi thêm, vì các thể thơ Đường Luật quả thật là
“thiên hình vạn trạng”.
Điều làm tôi …giật mình ở đây, là tác giả Tha Nhân không họa thơ cùng bằng hữu đồng lứa,
đồng thời, mà anh đã dũng cảm vác bút đi thẳng vào chốn mê cung, vào khu vườn tòng bách, là
chốn của các “Thi Vương Thi Bá” ngày xưa! Anh đã “dám” họa thơ của một Đỗ Phủ Thi Thánh
trầm uất chốn Tần Xuyên, một Vua Lê Thánh Tôn uy nghiêm, là người đã ban hành Bộ Luật
Hồng Đức, cho tới Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thần cơ diệu toán, hay Bà Chúa Thơ Nôm
Hồ Xuân Hương quá quắt nghịch ngợm, lộng tục vào tiên, chọc phá người đời…mà lại họa rất
hay, rất chuẩn. Nói chung, tất cả những ngọn “thái sơn bắc đẩu” ấy, thi nhạc sĩ Tha Nhân đã can
đảm bước tới, vẩy nhành bút mực, giậm nhịp tim thơ, xướng họa tưng bừng, đối đáp từng câu mà
không hề có sơ sót.
Ở bài “Mộ Quy” của Đỗ Phủ, tác giả Tha Nhân đã cùng tiếp nối những cây bút tài hoa, là Phạm
Khắc Trí và LTĐQB, phỏng dịch ra bài thơ Đường Luật tựa đề “Chiều Hôm Trở Về” diễn tả
cái cảm giác buồn ảm đạm của người trở về khi sương thu vàng võ, tiếng mõ điểm canh, cùng
nỗi băn khoăn khi muốn đi “Bắc Tần Xuyên, Nam Quế Thủy” đã đi vào kinh điển của cái bi
thương trong lòng người trở lại:
“Khách tử nhập môn nguyệt kiểu kiểu
Thùy gia đảo luyện phong thê thê
Nam độ Quế Thủy khuyết chu tiếp
Bắc quy Tần Xuyên đa cổ bề” (Mộ Quy – Đỗ Phủ)
Phạm Khắc Trí dịch nghĩa văn xuôi:
“Khách trở về , bước vào cửa, trăng sáng vằng vặc.
Nghe trong gió, tiếng chày đập lụa nhà ai, buồn lê thê.
Muốn đi xuống miền Nam, qua Quế Thủy,
Ngại sông ít có thuyền bè chở qua.
Tính đi lên miền Bắc, vượt Tần Xuyên, sợ vùng nhiều trống trận, giặc giã.”
Và mời quý bạn đọc hãy xem tác giả Tha Nhân phỏng dịch một cách tài tình ra Việt ngữ bài thơ
Đường Luật, trong đó có hai vế đối của hai cặp thực và luận mà người viết rất tâm đắc dưới đây:
“Khách bước đêm về trăng chiếu sáng
Chày vang đập lụa gió vờn quanh
Xuống Nam Quế Thủy lo đò thiếu
Lên Bắc Tần Xuyên sợ giặc hành” (Chiều Hôm Trở Về – Tha Nhân)
Tiền nhân xưa đã lê bước trong đêm nhìn trăng mà ngậm ngùi, và Tha Nhân ngày nay lại mở
rộng buồng tim, thu trọn cái dạt dào của thiên địa đêm trăng ấy vào mấy câu đối, đổ dồn vào
lòng người nghe rộn rã như “tiếng chày đập lụa” giữa đêm thanh, nhưng vẫn không dấu được
nỗi buồn thê thiết của người xưa.
Tiếp theo tôi dừng lại ở bài Đề Miếu Vợ Chàng Trương của Vua Lê Thánh Tôn.
Với những câu thơ thật mượt mà, thời xưa Đức Vua đã trách móc nhẹ nhàng,
là chàng Trương sao nỡ nghe lời trẻ mà hại vợ.
Trong cặp thực ngàì viết:
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ
Làn nước chi cho lụy đến nàng (Đề Miếu Vợ Chàng Trương -Vua Lê Thánh Tôn)
Đến lượt tác giả Tha Nhân ngày nay, anh đã không ngần ngại vung mạnh tay, giọng đầy phẩn
uất, trong hai câu thực hài tội một cách sắc bén người chồng vì quá ghen tuông mù quáng đã làm
chết oan người hiền phụ:
Lòng ghen tối mắt nghe lời trẻ
Dạ ức mù tâm dứt phận nàng! (Nỗi Oan Bà Trương – Tha Nhân)
Đặc biệt, trong bài thơ của bậc siêu nhân Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài Cảnh Nhàn, chỉ
hai câu mở đầu đã cho thấy cuộc đời Cụ nhàn nhã dường bao:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. (Cảnh Nhàn – TT Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Thì cái nhàn của hậu bối Tha Nhân còn đạt tới… “đỉnh cao” hơn:
Một rượu, một đàn, thơ nửa câu
Rung rinh nhẹ gánh kệ ai nào! (Cảnh Nhàn – Tha Nhân)
Ôi chao! Cái thần thái ôm đàn bên chung rượu và nhả thơ, dù chỉ mới có…nửa câu, cũng cho
thấy nhà thơ xem phú quý như mây trôi, buông nhẹ gánh đời, mặc kệ thiên hạ lao xao.
Toàn bài thơ cuồn cuộn khí chất thong dong, nhàn nhã, như nhẹ tênh mà lại nặng ngàn cân vì dễ có bao người đời biết xả buông như thế!
Tóm lại, có thể nói tác giả Tha Nhân biến hóa khôn lường trong sáng tác. Với Cụ Trạng Trình
nhà thơ đã nối gót họa theo cái vẻ nhàn nhã trong bài xướng; với Cụ Đỗ Phủ anh tìm ra sự thâm
trầm uyên bác trong thơ của người; và khi chạm trán với Nữ Chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương
đỏng đảnh, tác giả lại tỏ rõ là một “tay cự phách”, hình như muốn cho đời nay thấy là anh đang
“đấu” với nữ sĩ. Thơ bà Xuân Hương vốn là kiểu “đố tục giảng thanh”, gài bẫy chọc ghẹo thiên
hạ. Bài Vịnh Cái Quạt của nữ sĩ đã làm cho “đất lở trời long” trong thi giới từ đời xưa cho đến
tận đời nay. Nhưng bài họa Chuyện Ấy của nhà thơ Tha Nhân vừa hóm hỉnh, vừa lấp lửng, chơi
chữ thanh thoát đến độ làm người đọc phải giật mình. Giá như nữ sĩ còn tại thế, biết đâu chừng
bà cũng phải… vỗ đùi đánh bốp mà khen hay!
Nhưng thôi, người viết xin phép không trích dẫn thơ Bà và thơ họa của thi sĩ Tha Nhân vào đây, mà để dành cho quý độc giả tự mình khám phá.
Chỉ nêu lên đôi ba bài tiêu biểu. Tập thơ THƠ XƯỚNG HỌA Tha Nhân Và BẰNG HỮU này
còn rất nhiều bài xướng họa của thi nhạc sĩ Tha Nhân, một ngọn bút dám “tháo cũi sổ lồng”, giữa
chốn “Thi Vương Thi Bá” mà vẫn ngẩng cao đầu ung dung tự tại gửi ra những bài họa thanh
thoát cùng tiền nhân khiến cho người đọc thật là bái phục!
Xin trân trọng kính giới thiệu tác phẩm THƠ XƯỚNG HỌA Tha Nhân Và BẰNG HỮU, một
thi phẩm hay và đầy thú vị đến toàn thể độc giả gần xa. Một tác phẩm có thể “gối đầu giường”.
Phương Hoa – Bắc California
LỜI GIỚI THIỆU:
Đôi Dòng Giới Thiệu của ‘’Nhà Biên Khảo Lịch Sử’’ PHẠM TRẦN ANH:
Hình ảnh một anh lính chiến áo trận phai màu, mái tóc bạc trắng dẫn đầu đoàn biểu tình hay ngồi tuyệt thực suốt đêm thâu chính là Chiến hữu thân thương “thi sĩ Tha Nhân” của Phạm Trần Anh. Tha Nhân một hồn thơ phong phú lão luyện, một khí phách oai hùng, rừng rực lửa đấu tranh sục sôi trong huyết quản. Người thi sĩ ấy lại còn là một nhạc sĩ Trần Chương Lương tài hoa khiến lòng người xao xuyến ngẩn ngơ… Tất cả sẽ hội tụ trong “Tuyển Tập Xướng Họa Tha Nhân và bằng hữu nhân sinh nhật lần thứ 85 của thi sĩ mà thi sĩ Lâm Hoài Vũ đã chúc mừng sinh nhật thi huynh Tha Nhân năm 2024:
CHÚC MỪNG SINH NHẬT
THI HUYNH THA NHÂN
Tám ba tính tuổi đã là già,
Nhưng vẫn kiên cường chống quỷ ma.
Mấy lượt ngục tù ghi khắc cả,
Bao lần vận hạn đã trôi qua.
Cuối đời sáng tác lưu danh tiếng,
Số mệnh an bày hưởng phước gia.
Khí phách nhạc thơ phong phú quá,
Chúc mừng sinh nhật ngát hương hoa.
Lâm Hoài Vũ, Oct 10, 2024
LỜI GIỚI THIỆU:
Đây là những lời kể lể tâm tình của bạn học chung lớp thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn của tác giả,
Anh Vũ Trung Hiền, trước 75 là Giáo Sư Trung Học Ngyễn Bá Tòng Saigon, Trung Học Thoại Ngọc Hầu Long Xuyên và Vĩnh Cửu Đồng Nai. Anh là em út của Cố Mục Sư Vũ Đức Chang, Cố Trung Tá QL/VNCH, Nhạc Sĩ nổi tiếng Vũ ĐỨC NGHIÊM…gia đình có 10 anh chị em đều đã thành danh, Chị kế của Hiền là Giáo Sư Trung Học Gia Long Saigon. Anh Hiền là một nhà văn từ trước 75 và là em kết nghĩa với nhà văn Duyên Anh…
Tác Phẩm đã xuất bản:
Cái Tủ Chè Mất Tích (1972)
Hộp Thiếc Bí Mật (1973)
Thư Cho Phi (1974)
Nhân loại Đi Về Đâu (1974)
Biệt Kích Văn Nghệ Duyên Anh (1987)
Vũ Đức Nghiêm, Anh Tôi (1991)
Dịch Phẩm:
The American Children in Vietnam,1995
(Những Đứa Trẻ Con Mỹ Hẩm Hiu, tiểu thuyết Duyên Anh)
The Prisoner, 1996 (Một Tù Binh Mỹ Ở Việt Nam, Tiểu thuyết Duyên Anh)
Còn làm truyền thông: Phụ trách câu Chuyện Trong Tuần, Vietnam Television,
Westminster, California, 1987…
NGƯỜI BẠN GẦN BẢY THẬP NIÊN
Có lẽ ở trên đời này, hiếm có người nào được may mắn như tôi, vì đã được quen biết và thân thiết với 1 người bạn suốt 68 năm.
Dĩ nhiên là có những năm tháng chúng tôi xa nhau vì chiến tranh , vì
vận nước… nhưng đến khi gặp lại thì lúc nào cũng thân thiết , gắn bó.
Năm 1958, chúng tôi ngồi chung một lớp, đệ
thất A3, Trung học Hồ Ngọc Cẩn.
Trong lớp học trên dưới 50 học sinh đó, anh Lương là một
trong mấy anh lớn tuổi nhất.
Thuở ấy, tôi là một đứa bé gầy gò, yếu đuối, đứng chỉ mới tới ngang vai anh thôi.
Nhưng Trần Chương Lương thì đã là một chàng trai vai rộng , ngực nở , cánh tay cuồn cuộn bắp thịt.
Giai đoạn này, phong trào luyện tập cơ thể bằng phương pháp tập tạ đang phát triển, và lực sĩ đẹp nổi tiếng ở Việt Nam là Nguyễn công Án, em ruột lực sĩ Nguyễn Thành Nhơn.
Tôi nghĩ anh Lương cũng đã bắt đầu tập tạ , nên anh là một trong vài người “cốt xì tô” nhất lớp.
Chẳng ai dám động đến anh, và anh thường đứng ra hòa giải , can gián, khi những bạn trong lớp có chuyện cãi cọ hoặc “đụng độ” với nhau.
Chúng tôi đã cùng nhau say sưa trước lời giảng của những vị thầy đức độ tài giỏi, cùng ngưỡng mộ vẻ đẹp thuần khiết của cô giáo độc thân 26 tuổi dạy việt văn…
Chúng tôi đã cùng đến sân vận động Lê Văn Duyệt, sân Nguyễn văn học, tập thể thao mỗi tuần với thầy Đoàn đình Quất và thầy Văn Đen, cùng sôi nổi trong những ngày biến động của Sài Gòn trước cuộc đảo chính 1/11/1963…
Rời trung học, chúng tôi mỗi người đi một ngả đường; anh vào quân đội, và tôi chọn ngành dạy học, suốt mấy chục năm tang thương biến đổi của đất nước, chỉ thỉnh thoảng mới biết tin nhau qua những người bạn chung…
Cho đến năm 1999, mới gặp lại nhau trên đất Cali.
Hôm ấy, vừa thấy tôi ở một tiệm sửa xe vùng Westminster, câu đầu tiên anh nói khi ôm lấy tôi:
-Hiền, sao lúc này to lớn như vậy?!!
Thì ra sau mấy chục năm, người bạn học nhỏ bé của anh năm nào đã đứng cao hơn anh gần một cái đầu!
Nhưng chúng tôi vẫn nhận ra nhau qua
ánh mắt và nụ cười hồn nhiên năm nào.
Một ngạc nhiên vô cùng thích thú đối với tôi , là tôi không bao giờ ngờ anh bạn “lực sĩ kiến càng” của tôi năm nào thuở trung học, hình như không mấy xuất sắc về môn văn thơ, bây giờ đã trở thành thi sĩ!
Cả ngàn bài thơ đã được anh viết ra từ trái tim rực lửa dành cho quê hương Việt Nam.
Cảm hứng đến với Trần Chương Lương thật dễ dàng.
Tôi cũng chẳng thể ngờ người chiến sĩ ấy lại có một trái tim thật mềm, thật rung động với những câu thơ tình ướt át và đầy cảm xúc:
“…Nàng thì chắp cánh bay xa
Còn ta lủi thủi xót xa một mình…
Hoặc là
“ Thì ra tình những hững hờ
Mà mình lại muốn đắp bờ mộng sâu”
Ngoài những bài thơ mang tính chiến đấu, thiết tha với vận nước, Trần Chương Lương còn sáng tác và phổ thơ nhiều nhạc phẩm, và tôi đã được hân hạnh thu thanh ba ca khúc tiêu biểu của anh, “ Buồn Viễn Xứ “, “Về Làm Chi”.
Xin cảm ơn Trần Chương Lương; anh đã cho tôi tình bạn thân thiết chân thành.
Pasadena 28 tháng 8, 20 26
VŨ TRUNG HIỀN
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ nhà thơ NHẤT HÙNG:
Nhất Hùng là thi sĩ sáng tác nhiều thể loại, đặc biệt, nổi tiếng với thể Đường luật là một Đường thủ có đẳng cấp ở hải ngoại.
Ông còn có nhiều thơ được phổ nhạc. Xin giới thiệu vài trách vụ ông đảm nhận trong Văn Học Nghệ Thuật:
Nguyên Đệ Nhất Phó Chủ Tịch VBVNHN Trung Ương
Đương kim Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Sĩ VN Hải Ngoại.
Hiện Nhất Hùng và gia đình đang cư ngụ tại Tiểu bang Maryland Hoa kỳ và vẫn tiếp tục sáng tác thơ văn đều đặn..
Đọc “THƠ XƯỚNG HỌA – Tha Nhân và Bằng Hữu” – nhất hùng
Trong khi đọc tập ‘’THƠ XƯỚNG HỌA – Tha Nhân và Bằng Hữu’’ Nhất Hùng có bài thơ như sau:
ĐỀ TẶNG THI TẬP THA NHÂN
Đôi lời khẩu phục bác Tha Nhân
Vượt “cổ lai hy” tám bốn xuân
Mến dạ nghĩa tình đời lãng tử
Trọng lòng hào hiệp sống phong trần
Tiếp giao cởi mở đầy tinh tế
Thơ phú trào tuôn quá xuất thần
Tiếc hổ long này không thuận vận
Hội cơ thi triển hết kinh luân
nhất hùng – hoa thịnh đốn – Sep 01/2026
Thơ ca không chỉ là tiếng lòng của cá nhân, mà còn là dòng chảy văn hóa nối liền các thế hệ. Thi tập “Thơ Xướng Họa – Tha Nhân và Bằng Hữu” – đặc biệt Phần Một: Thơ Tiền Nhân – là minh chứng sống động cho mạch nguồn bất tận ấy.
Bằng sự trân trọng cội nguồn và tài hoa, Tha Nhân cùng các bằng hữu đã tạo nên một không gian đối thoại kỳ thú. Ở đó, những áng thơ kinh điển của các bậc tiền nhân được xướng họa, nối vần, lật mở những tầng ý nghĩa mới mẻ, sâu sắc, đầy trăn trở trước vận mệnh non sông và nhân sinh quan đa dạng trước dòng đời trăm vẻ.
Tác phẩm được bố cục công phu, trình bày mạch lạc: chữ thẳng – thơ Tha Nhân. Chữ nghiêng – thơ bằng hữu và tiền nhân, giúp người đọc dễ dàng nhận diện sự đối lập tinh tế giữa nguyên tác và các bài họa. Không những thế tác giả còn tập hợp các kiệt tác của những tên tuổi lớn trong lịch sử văn học Việt Nam và Trung Hoa cùng sự góp mặt của các văn thi hữu.
Đọc qua phần xướng họa, người đọc không khỏi bồi hồi trước những cung bậc cảm xúc đa dạng – từ tâm sự hoài cổ đến những tấm lòng ưu thời mẫn thế qua những bài thơ của Mộ Quy của Đỗ Phủ và được họa lại với nỗi niềm tha hương, lữ thứ của Tha Nhân và Bằng hữu, bài Cảnh Nhàn của Trạng Trình lại mở ra triết lý sống nhàn tản, phóng khoáng cho đến những vần thơ hoài cổ thẫm đẫm nỗi lòng u uất của Bà Huyện Thanh Quan như Thăng Long Thành Hoài Cổ hay Qua Đèo Ngang.
Nổi bật là âm hưởng hào hùng từ Cự Ngao Đới Sơn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến bài họa Diệt Loài Tinh của Tha Nhân, thể hiện tầm nhìn hướng ra biển đảo và ý chí bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, thể hiện khí phách hiên ngang và lòng yêu nước nồng nàn của tác giả. Tha Nhân còn thể hiện những góc nhìn sắc sảo, thâm trầm khi họa thơ Tú Xương (Thói Đời, Quan Tại Gia) hay sự phẫn uất, trăn trở trước bức tranh xã hội qua các bài họa Vịnh Bức Dư Đồ Rách của Tản Đà và Cụ Phan Bội Châu, tác giả đã buông một tiếng cười vừa châm biếm vừa chua xót.
“Thơ Xướng Họa – Tha Nhân và Bằng Hữu” không đơn thuần là một thi tập giải trí hay phô diễn tài nghệ xướng – họa Đường Thi. Hơn thế, đây là một nhịp cầu văn hóa nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại nhiều trăn trở. Qua từng câu chữ, tâm huyết của tác giả Tha Nhân và các bằng hữu hiện rõ một tinh thần gìn giữ hồn thơ dân tộc, tôn vinh các bậc tiền nhân, đồng thời gửi gắm những thông điệp nhân sinh, tình yêu quê hương đất nước thiết tha đến muôn đời sau. “Còn núi còn sông còn ta đó – Có lúc ta bồi chúng bạn coi!”
Đã được bác Tha Nhân ưu ái, Nhất Hùng lại có cơ duyên được Bác họa lại khá nhiều bài (Của Lạ Thiêng Hơn – Lạc Diệp Tri Thu – Chiều Bên Hồ Thu – Ôi Đàn Bà – Tấm Gương Minh Tuệ – Chỉ Một Con Đường) và lại còn được Bác Layout bài thơ MƯA THU của nhất hùng trên một nền tranh tuyệt đẹp – một kỷ niệm bất ngờ và trân quý.
Ở phần 2, phần 3 của THI TẬP – là những bài Xướng Họa của Bác Tha Nhân và Bằng Hữu – một rừng hoa muôn màu muôn sắc – một công trình đồ sộ, chỉ người có cái TÂM “tứ hải giai huynh đệ”, có cái TẦM am hiểu thơ Đường, yêu thơ Đường khôn tả mới có thể XƯỚNG mà có biết bao bài HỌA và cũng HỌA lại biết bao bài của bằng hữu và cũng chỉ người có tâm hồn kết giao rộng mở mới trải lòng và chăm chút tất cả các tác phẩm của huynh đệ như thế. Nếu nói, Bác Tha Nhân có thiện cảm với hầu hết các Đường Thủ trong giới Đường Thi ở hải ngoại chắc cũng không sai.
Hưng phấn với dòng Thơ Đường muôn màu muôn vẻ, cứ như đang thưởng thức một buổi tiệc thịnh soạn và cảm khái với bao khẩu khí hào hùng, nhân văn, đa tình, đa cảm, nhất hùng xin phép được kính họa bài: “TÁM BỐN GIÀ ĐÂU” nhân sinh nhật 84 của Bác Tha Nhân, là bài thơ được trình bày cuối cùng trong Thi Tập và cũng là bài thơ khẩu khí mà Nhất Hùng rất thích.
TÁM BỐN GIÀ ĐÂU!
Tám bốn già đâu? Chỉ nhức lưng
Tập tành cố gắng bịnh chưa ngừng
Xoay xoay thấy nhói nên đành khựng
Vặn vẹo nghe đau lại phải ngưng
Rực rỡ mai đào Xuân vẫn hứng
Đì đùng pháo tết tớ rưng rưng
Năm nay Ất Tỵ đang lờ lững
Tuổi Hạc vây, còn thích bánh chưng
ThaNhân, Camthành Oct 12th, 2025 (Bát vận đồng âm)
CHÚC TUỔI 84
Bác “khoe” tám bốn chỉ đau lưng
Lai láng hồn thơ khó đỗi ngừng
Lúc đụng đối nan thời phải khựng
Khi va tử vận mới đành ngưng
Xuân tha hương vợi nguồn thi hứng
Tết đất nhà đầy ngấn lệ rưng
Nhưng chí còn bền tâm vẫn vững
Đợi Hoàng kỳ sắp có ngày chưng!
Nhất Hùng – Hoa Thịnh Đốn – Sep 01, 2026
Nhà thơ Nhất Hùng
GIỚI THIỆU THI TẬP
THƠ XƯỚNG HỌA THA NHÂN VÀ BẰNG HỮU
Giáo Sư Quyên DI tên thật là Bùi văn Chúc hay Chúc Bùi là một nhà Văn, nhà thơ và nhà giáo nổi tiếng và giảng viên uy tín về ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam tại Hoa Kỳ…
Trước năm 1975, ông đã từng là Chủ Bút của Bán Nguyệt San Ngàn Thông từ năm 1971 cùng với nhà văn Hoài Mỹ và là khuôn mặt gắn liền với tủ sách Tuổi Hoa.
Từ năm 1995 tới nay ông miệt mài giảng dạy Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam ở các trường UCLA, CSU Long Beach và môn Sư phạm song ngữ tại CSU Fullerton.
Có thể nói Giáo Sư Quyên Di là người đã dành cả đời gắn bó với Văn Chương Chữ Nghĩa để phổ biến chữ Việt cho nhiều thế hệ trẻ sau này…Ở hải ngoại nói chung và Hoa Kỳ nói riêng, rất ít người mà không biết tên Quyên Di, ông là Giáo sư được tuyệt đại đa số sinh viên theo học đều mến mộ và quí trọng …
Thơ Xướng Hoạ là một thú văn chương tao nhã của khách làng thơ. Trong văn học Việt Nam, có
những giai thoại thơ xướng hoạ rất thú vị, như thơ xướng hoạ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương và các
nho sĩ trêu ghẹo, cuộc đối đầu bằng thơ xướng hoạ giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị, thơ
xướng hoạ của hai vị danh nho Nguyễn Khuyến – Dương Khuê v.v…
Gọi là thú văn chương tao nhã, nhưng “nghề chơi cũng lắm công phu,” đặc biệt xướng hoạ thơ
Đường luật. Lắm công phu, vì cả người xướng lẫn người hoạ đều phải rành rẽ âm luật thơ
Đường. Một bài Đường luật thất ngôn bát cú, chỉ có 56 chữ mà người làm thơ phải tuân thủ
những quy luật rất khe khắt về vần, luật trắc bằng, niêm, đối để viết nên 56 chữ ấy. Chỉ riêng về
phép đối thôi đã là một thử thách cam go cho thi nhân. Câu trên và câu dưới (cặp 3-4 và cặp 5-6)
phải đối nhau về ý (chính đối hoặc đối chọi,) về luật trắc-bằng, về tự loại: chữ ở câu trên là danh
từ, tính từ, trạng từ, động từ, điển tích… thì chữ ở câu dưới cũng phải là danh từ, tính từ, trạng
từ, động từ, điển tích… như thế. Bởi vậy, người xướng làm được bài thơ hay đã khó, đến người
hoạ, phải giữ nguyên vần người xướng đã dùng, hoặc là tán đồng, hoặc là đối ngược lại với ý của
bài xướng, mà bài thơ vẫn hay, ấy mới thật sự là khó.
Trong thú làm thơ xướng hoạ lại còn có những cách chơi rất cầu kỳ, như “Ý Bát Vận Đồng Âm”
chẳng hạn: “Ý” là bài hoạ phải đối đáp lại ý của bài xướng, hoặc tán đồng và xiển dương; hoặc
phản ý, đưa ra một ý ngược lại. “Bát Vận Đồng Âm” là vần gieo ở cuối tất cả tám câu; cuối câu
1, 2, 4, 6, 8 là thanh bằng; cuối câu 3, 5, 7, 9 là thanh trắc (hoặc ngược lại) ; bài xướng dùng âm
nào làm vần thì bài hoạ cũng phải dùng đúng âm đó. Thí dụ như bài dưới đây:
CÂU THƠ BÌNH RƯỢU!
Câu thơ bình rượu với cây đàn
Quẩy gánh rung rinh gánh gánh than!!
Bước thấp lao đao tình chóng cạn
Bước cao lếu láo lợi mau tàn
Ngày vui đôi hớp không gì ngán
Tối khoái dăm câu có gió ngàn
Nằm khểnh vuốt râu quên tán thán
Câu thơ bình rượu với cây đàn
(Tha Nhân họa ý bài Cảnh Nhàn của cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Một lối “chơi công phu” khác của thơ xướng hoạ là “Tung Hoành Trục Khoán.” Lối này, người
hoạ không cần giữ phép hoạ bình thường, nhưng chọn hai câu trong bài xướng để làm bài hoạ.
Trong bài hoạ, nhà thơ dùng 7 chữ trong câu trên của hai câu đã chọn, rải thành 7 chữ đầu trong
7 câu bài thơ của mình (trục tung); còn câu 8, tức là câu cuối, thì dùng nguyên câu dưới của hai
câu đã chọn mà viết lại (trục hoành.) Chẳng hạn bài thơ chữ Hán “Cự Ngao Đối Sơn” của cụ
Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà thơ Vũ Bình Lục dịch như sau:
CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI
Núi tiên biển biếc nước trong xanh,
Rùa lớn đội lên non nước thành.
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá,
Dầm chân đất sóng vỗ an lành.
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ,
Đất Việt muôn năm vững trị bình.
Chí những phù nguy xin gắng sức,
Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình.
Nhà thơ Tha Nhân chọn hai câu luận:
“Biển Đông vạn dặm dang tay giữ,
Đất Việt muôn năm vững trị bình”
Để viết thành bài “tung hoành trục khoán” như sau:
DIỆT LOÀI TINH
BIỂN bảo bọc ta chan chứa tình
ĐÔNG phương hùng cứ diệt loài tinh
VẠN thời nghìn kiếp ngăn đầu giặc
DẶM nẻo trăm nơi cưỡi cá kình
DANG rộng nhân từ chiêu hiếu nghĩa
TAY nâng độ lượng đón văn minh
GIỮ gìn bờ cõi luôn toàn vẹn
ĐẤT VIỆT muôn năm vững trị bình!
Và còn nhiều lối thơ “công phu” khác nữa trong thi tập này, xin dành cho độc giả tự tìm biết.
Trong thi tập THƠ XƯỚNG HOẠ của Tha Nhân có đủ những ngón chơi “công phu” đó, đọc mà
thích!
Thi tập lại có những bài thơ hay mà cắc cớ. Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương có những bài thơ
như thế, thí dụ bài Vịnh Cái Quạt sau đây:
VỊNH CÁI QUẠT
Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự ngàn xưa.
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?
Hồ Xuân Hương
Tha Nhân hoạ bài ấy, cũng cắc cớ không kém
CHUYỆN ẤY
Xưa nay mấy kẻ tạm ưng vừa,
Chuyện ấy muôn đời mãi chẳng xưa!
Nếu thiếu chắc gì mà đã thiếu,
Còn thừa thì cũng hẳn không thừa.
Anh hùng lắm trận chơi vơi bão,
Quân tử nhiều trò chới với mưa.
Chiều chuộng nằn nì nâng lại hứng,
Xong rồi tự hỏi thoả lòng chưa?
Tha Nhân kính phụng họa
Không những có những bài xướng hoạ theo lối thơ Đường, nhà thơ Tha Nhân còn có những bài
hoạ mà bài xướng là thơ Lục Bát. Khi ấy, người viết bài hoạ phải theo đúng cả cước vận lẫn yêu
vận mà người xướng đã dùng. Thí dụ dưới đây cho thấy Tha Nhân hoạ bài xướng Lục Bát “Lá
Vàng Cuối Thu” của nhà thơ Trầm Vân một cách rất tài tình.
Bài xướng “Lá Vàng Cuối Thu” (chỉ trích 8 câu đầu):
Cho anh mượn lại nụ cười
Xưa xao xuyến gió bầu trời ngả nghiêng
Con đường hẹn rối lời chim
Xạc xào lá rụng cho mềm lòng thu
Hàng cây nghiêng xuống đón chờ
Hồng lên giọt nắng ngẩn ngơ yêu người
Lục bình nương sóng thả trôi
Tình nương sóng mắt đâm chồi nụ hoa…
Bài hoạ: VÀNG ĐỜI LÁ THU (chỉ trích 8 câu đầu)
Tháng Tư khoan hãy vui cười
Vết đau còn đó cả trời đất nghiêng
Từ người cho đến muông, chim
Xót xa một nỗi buồn mềm cả thu
Khổ đau ập đến ai chờ
Sóng hồng đổ xuống khó ngơ lòng người
Biết bao thân xác nổi trôi
Vì mong có được đời chồi, nở hoa!..
Thi tập Xướng-Hoạ của Tha Nhân gồm ba phần. Phần đầu là hoạ thơ tiền nhân. Phần thứ hai là
xướng hoạ với bằng hữu. Phần thứ ba là thơ sinh nhật Tha Nhân & các bài hoạ.
Trong phần đầu, Tha Nhân hoạ lại các bài thơ nổi tiếng của tiền nhân: Đỗ Phủ, vua Lê Thánh
Tôn, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Bà
Huyện Thanh Quan, Lạc Đình Trần Chương Thiện (tổ phụ của Tha Nhân,) Trần Tế Xương, vua
Thành Thái, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, tổng thống Ngô Đình Diệm, Nhượng Tống, Tế Nhị,
Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương, thiền sư Tuệ Sỹ.
Trong phần hai, Tha Nhân hoạ lại các bài thơ của chừng 160 tác giả. Nhiều khi Tha Nhân không
chỉ viết một bài hoạ, mà viết tới hai, ba, bốn bài hoạ để đáp lại một bài xướng. Tính ra, đó quả là
một khối sáng tác đồ sộ. Trong số chừng 160 tác giả đó, có nhiều tác giả rất nổi tiếng, như Hà
Thượng Nhân, Cao Tiêu, Cao Mỵ Nhân, Tôn Nữ Hỷ Khương, Chẩm Tá Nhân, Vũ Lang, Dương
Hồng Anh, và rất nhiều nhà thơ đương thời nổi tiếng khác nữa.
Trong phần ba là những bài thơ của Tha Nhân sáng tác kỷ niệm những lần Sinh Nhật đặc biệt như SN 77, 80, 83 và 84 đã được các bằng hữu góp họa mua vui hoặc chúc mừng…
Tôi không đủ lời để giới thiệu một cách đầy đủ hơn về tập thơ này cũng như về thi tài của nhà
thơ Tha Nhân nên chỉ giới thiệu một cách tổng quát, xin quý độc giả khi thưởng thức những bài
thơ trong thi tập này tự khám phá thêm.
Cam thành,
Những ngày sắp vào thu 2026
QUYÊN DI





















