Truyện Văn Thi Sĩ Đỗ Dung

Chúng ta thường nghe câu ” Xa mặt cách lòng “. Nhất là với các đấng liền ông thì chuyện “cách lòng” sẩy ra quá dễ dàng, nhanh chóng. Riêng nhân vật trong CẦM BẰNG THEO GIÓ thì quá tàn nhẫn. Lấy nhau vì tình. Đi tù vợ lo thăm nuôi, dồn tiền bạc cho đi vượt biên trước. Vậy mà đi thoát được, đã vội phụ phàng, còn nỡ gửi giấy ly hôn về VN cho vợ. ĐỖ DUNG ơi, hy vọng chỉ là hư cấu chứ không phải truyện thật. Mời quý vị đọc để xót xa cho số phận một người vợ quá tội nghiệp.
Thân mến
Hồng Thủy

CẦM BẰNG THEO GIÓ

Đỗ Dung

Hảo dậy sớm hơn mọi ngày. Nàng thấy nóng ruột, dạ bồn chồn. Hôm nay có kết quả kỳ thi ra trường. Hoặc là nàng tốt nghiệp thành Dược sĩ, hoặc lại phải ở lại tụng bài, chờ khóa thi sau.

Mặc dù biết bài làm của mình cũng khá, phần thi vấn đáp cũng trả lời suôn sẻ, nhưng sao tim nàng vẫn hồi hộp, lo âu…

Sau khi chắc chắn nhìn thấy tên và số báo danh của mình trên bảng vàng, Hảo chuyện trò, chia vui với những người bạn vừa tốt nghiệp cùng khóa. Nàng khoan khoái cho chiếc Honda chạy từ từ trên con đường Cường Để ngập nắng, rồi hướng về Đinh Tiên Hoàng để về nhà báo tin vui.

Mặt ngẩng cao, hít đầy bầu không khí trong lành vào lồng ngực, lòng nàng lâng lâng sung sướng.

Một tiếng nói mơ hồ, nhẹ như gió thoảng bên tai:

— Hảo… Bích Hảo!

Hảo xoay người ngoái nhìn về phía sau. Một chiếc Honda nhẹ lướt lên ngang xe nàng. Một giọng nói trầm ấm cất lên:

— Xin lỗi… Phải Bích Hảo, con cô giáo Khanh không?

Hảo cho xe ghé sát lề đường gần trường Nông Lâm Súc. Nàng nhìn sững người thanh niên trước mặt.

— Huân! Phải Huân, con bác giáo Ngọc không? Trời ơi! Lâu lắm chúng mình không gặp nhau! Huân có thay đổi nhưng Hảo nhận ra ngay. Đi đâu đây?

— Huân vừa ghé thăm một thằng bạn ở Văn Khoa ra, nhìn thấy xe Hảo chạy ngang nên vội phóng theo liền. Đúng là lâu quá rồi, vậy mà mình cũng nhận ra Hảo ngay. Chúng mình ghé vào quán cà phê gần đây nói chuyện đi.

Hai người bước vào một quán cà phê nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, cùng nhau nhắc lại chuyện ngày xưa.

Ngày ấy, hai gia đình còn ở Hà Nội. Hai bà giáo còn rất trẻ, cùng dạy chung trường, cùng chia sẻ với nhau những vui buồn của nghề giáo. Dần dần, hai bà trở thành đôi bạn thân, chuyện trường lớp, chuyện gia đình, chuyện chồng con, chuyện vui buồn trong cuộc sống… chuyện gì cũng kể cho nhau nghe.

Hai gia đình cũng trở nên thân thiết theo. Con cái hai nhà lớn lên cùng nhau. Khi ấy, mỗi nhà mới có ba đứa trẻ, hằng ngày ríu rít chạy sang nhà nhau, sinh hoạt vui vẻ như anh chị em trong cùng một nhà. Cứ thế, một mối dây thân tình được tạo nên, tưởng rằng sẽ không bao giờ bị chia cắt.

Trong đám trẻ ấy có Huân, con trưởng của bà giáo Ngọc, và cô con gái lớn của bà giáo Khanh là Bích Hảo. Huân còn có một mối liên hệ đặc biệt nữa: Chàng là học trò cưng của bà giáo Khanh.

Rồi năm 1954 đến.

Đất nước chia đôi. Một dòng người di cư từ Bắc vào Nam. Hai gia đình cũng theo dòng người ấy vào Sài Gòn.

Từ đó, cuộc sống không còn giống trước. Hai bà giáo không còn cùng chung nhiệm sở. Hai gia đình cũng không còn ở gần nhau. Mỗi người có một công việc, một cuộc sống, một mái nhà riêng. Cha của Huân là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cha của Bích Hảo làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ trang trí nội thất, bàn ghế, giường tủ.

Những mối liên lạc ngày trước dần thưa đi, rồi có lúc tưởng như đã mất hẳn.

Hai đứa trẻ ngày nào nay cũng đã lớn. Huân bước vào đời quân ngũ. Hảo theo học ngành Dược.

Cuộc sống cứ thế cuốn mỗi người đi một hướng. Không ai biết người kia đang ở đâu, và cũng chẳng ai chờ đợi một cuộc gặp lại. Có lẽ nếu cuộc đời cứ bình lặng như thế, Huân và Hảo chỉ còn là hai cái tên trong một miền ký ức xa xôi của tuổi nhỏ.

Vậy mà hôm nay, tự nhiên Hảo cảm thấy bồn chồn, nao nao khác lạ. Cuộc gặp gỡ thật tình cờ. Không có sự sắp đặt, không chuẩn bị, mà bây giờ Hảo đang ngồi đây, trong một quán cà phê nhỏ, đối diện với Huân, người con trai trưởng của bà giáo Ngọc.

Như có một định mệnh nào đó an bài, từ những đứa trẻ xa nhau khi chỉ mới lên chín, lên mười, nay đã trở thành hai người trưởng thành thế mà chỉ vừa thoáng nhìn đã nhận ra nhau ngay.

Cả hai đang ngồi trầm ngâm nhớ về những ngày thơ ấu, Hảo chợt hỏi:

— Bây giờ Huân có thêm mấy người em nữa?

— Năm! Tổng cộng Huân có tám anh chị em, bốn trai, bốn gái. Còn gia đình Hảo?

— Cũng không thua kém. Hảo có tám chị em gái, chỉ có một đứa em trai. Vậy là chín đứa, hơn nhà Huân rồi nhé!

Cả hai cùng cười, nghĩ bụng: Hèn gì các cụ bận rộn, không có thì giờ nghĩ đến bạn xưa.

Huân chợt nói:

— Hảo cho Huân về nhà thăm mẹ Hảo xem cô còn nhận ra mình không nhé!

Về đến nhà, bà Khanh cũng vừa mới đi làm về, còn đang ngồi nghỉ trong phòng khách.

Hảo chạy ngay đến gần, ghé vào tai mẹ nói nhỏ, báo tin vui:

— Mẹ! Con của mẹ đã là Dược sĩ. Con thi đậu rồi!

Rồi nàng cười:

— Con mới gặp lại một người. Xem mẹ có nhớ không nhé!

Đúng lúc đó, Huân bước vào, kính cẩn cúi đầu:

— Con chào cô ạ!

Bà Khanh ngước mắt nhìn lên:

— Chào cậu!

— Thưa cô, mẹ con là cô giáo Ngọc!

Tiếng Hảo vang lên:

— Mẹ có nhớ ai đây không?

— Ôi Trời! Huân, học trò giỏi của cô đây mà! Lớn quá rồi. Nhưng có nói cô mới nhận ra, chứ nếu gặp ngoài đường thì chưa chắc cô đã nhận ra được đâu. Ngồi chơi đi con!

Rồi bà giáo Khanh tíu tít hỏi thăm Huân những chuyện về gia đình xưa nay.

Từ sau lần gặp lại đó, hai bên bắt đầu qua lại. Những thân thiết giữa hai nhà được nhắc đến, và từ cái tình thân cũ, một tình cảm mới dần dần nảy nở. Hai bầy con có dịp quen biết nhau và càng ngày càng thân hơn. Thỉnh thoảng, ông bố của Hảo lại lấy chiếc xe van lớn của hãng, chở cả đám trẻ đi ăn, đi chơi…

Tình cảm của Huân và Hảo ngày càng thắm đượm, lại được cả hai gia đình ủng hộ. Ngày nghỉ là Huân đã có mặt ở nhà Hảo.

Và kết quả là sang năm 1973, một đám cưới tốt đẹp của Huân và Hảo đã diễn ra.

Đám cưới giản dị nhưng ấm cúng, lịch sự và trang trọng.

Hai bà giáo không thể ngờ rằng hai đứa trẻ ngày nào còn chạy qua chạy lại giữa hai nhà, nay đã trở thành một đôi vợ chồng. Một mối duyên tưởng như thời gian đã cất đi, vậy mà sau gần hai chục năm lại tìm đường quay trở lại.

Bích Hảo bước vào cuộc hôn nhân của mình với những ước vọng thật bình thường và hồn nhiên của một thiếu nữ trẻ. Sau đám cưới, nàng có một người chồng yêu thương, có một gia đình hạnh phúc riêng. Một tương lai phơi phới đang đợi chờ…

Nhưng thực tế, Hảo phải về ở chung với gia đình nhà chồng. Mặc dù cả hai vợ chồng đều đã có công việc làm chắc chắn với đồng lương ổn định. Hằng ngày, nàng vẫn phải dậy sớm sửa soạn đi làm tại hãng bào chế Biofarmo gần hồ Con Rùa. Khi về nhà, dù mệt nhoài, nàng vẫn phải chu toàn nhiệm vụ của người con dâu trưởng. Ở chung với gia đình đông người, trong một căn nhà nhỏ càng lúc càng khó khăn, càng có những xung đột tuy nhẹ nhàng nhưng khó hàn gắn.

Người thương nàng nhất có lẽ vẫn là ông bố.

Ông hiểu con gái mình. Ông cũng hiểu những điều khó giải quyết trong một gia đình, nhất là chuyện mẹ chồng nàng dâu. Có những điều càng nói ra càng thấy khó. Hai bà mẹ vốn là bạn thân từ thuở còn trẻ, vậy mà khi con cái thành vợ thành chồng, tình bạn giữa hai người cũng không đủ để ngăn những va chạm xảy ra giữa mẹ chồng với nàng dâu.

Ông không muốn con gái phải chịu cảnh ấy lâu dài.

Thương con là một chuyện, còn giữ thể diện cho con rể và gia đình bên chồng lại là một chuyện khác. Ông vốn làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ gỗ và trang trí nội thất. Thế là ông âm thầm lo cho con một căn nhà ở cư xá Thanh Đa.

Một căn nhà nhỏ nhưng thật đẹp. Một căn nhà được ông sửa sang tươm tất bằng tất cả tấm lòng thương con của người cha. Từng món đồ trang trí được ông nắn nót, chăm chút. Những thứ cần thiết cho một gia đình trẻ được ông sắp xếp đâu vào đó. Ông muốn khi dọn ra ở riêng, con gái ông có một nơi ấm áp để trở về; Huân có một nơi để xây dựng cuộc sống hạnh phúc của một gia đình nhỏ.

Ai có hỏi, ông không nói đó là căn nhà ông mua cho con gái, mà khéo léo nói đó là nhà của chính hai vợ chồng con tự mua. Người trong nhà hiểu. Ông hiểu. Con gái ông hiểu. Và có lẽ Huân cũng hiểu. Nhưng chẳng ai cần nói ra. Đó là cái tế nhị của người cha. Thương con đến đâu cũng giữ cho con một chút tự trọng; thương con rể cũng không muốn làm con rể mất mặt, ngại ngùng.

Căn nhà đã xong.

Có lẽ lúc ấy Hảo đã nghĩ đến cuộc sống mới. Không còn những va chạm trong căn nhà đông người. Buổi sáng đi làm, chiều về nhà mình. Có chồng bên cạnh trong căn nhà xinh xắn. Buổi tối, dưới ánh đèn vàng ấm áp tỏa ra từ cây đèn góc nhà, hai vợ chồng có thể thoải mái, vui vẻ bên nhau ngồi xem TV hoặc thả hồn theo tiếng nhạc.

Hai vợ chồng còn trẻ. Huân đang là sĩ quan Hải quân và được gửi đi học tại trường Phú Thọ. Chàng cũng đã hoàn tất chương trình để lấy bằng kỹ sư điện.

Cuộc đời tưởng như đã đi đúng đường. Cứ thế cuộc sống sẽ êm ả trôi.

Hai vợ chồng đã dọn vào căn nhà mới, rộn ràng sửa soạn ngày mời gia đình hai bên cùng bạn bè thân hữu đến ăn tân gia.

Nhưng bữa ăn tân gia ấy không bao giờ có.

Bởi lịch sử đã không cho họ kịp vui hưởng căn nhà mà ông bố đã lo lắng thu xếp.

Tháng Tư năm 1975 ập đến.

MẤT NƯỚC!

Chỉ một biến cố tang thương mà bao nhiêu dự định của biết bao gia đình tan theo.

Căn nhà Thanh Đa vẫn còn đó, đẹp đẽ, đầy đủ, nhưng thiếu một điều quan trọng nhất:

Một cuộc sống hạnh phúc bình thường mà Hảo từng ao ước.

Cha của Huân là sĩ quan, đáng lẽ phải đi học tập nhưng ông không đi trình diện.

Huân thì phải đi. Chàng phải vào nơi tập trung cải tạo, để Hảo ở lại. Tổ ấm hai vợ chồng bây giờ trở thành ngôi nhà chỉ còn có người vợ trẻ cô đơn chờ chồng.

Hằng ngày nàng vẫn đi làm ở viện bào chế cũ, nay đã đổi tên thành Xí nghiệp Dược phẩm 25. Chiều về lạnh lẽo, cô đơn, ngồi một mình lặng lẽ trong căn nhà nhỏ nhớ chồng. Mong ngóng đến ngày được giấy thăm nuôi để sửa soạn mua sắm và nấu nướng. Bao nhiêu lần ngóng tin. Bao nhiêu đêm nằm trằn trọc một mình trong căn nhà vắng, không biết ngày mai sẽ ra sao.

Những lần có giấy phép chính thức, Hảo cùng mẹ chồng lên trại tập trung học tập ở Trảng Táo, Tây Ninh. Hai mẹ con vất vả tàu xe, khuân mấy bao đồ nặng trĩu. Gặp Huân được mấy tiếng, đau xót nhìn nhau rồi nghẹn ngào, lủi thủi ra về.

Ngoài những lần chính thức, Hảo cũng liều lĩnh theo mấy người vợ có giấy phép, coi như người nhà đi theo để đi thăm lén. May có lần được gặp chồng. Khi Huân không tìm cách ra được, nàng đành lặng lẽ quay về.

Rồi một ngày, khi nghe tiếng chuông cửa. Chàng đã trở về.

Vợ chồng mừng tủi ôm nhau, tưởng như trong mơ!

Những ngày sau đó quấn quýt, âu yếm, chăm sóc nhau cho bõ bao năm dài xa cách. Hảo tưởng rằng sau ba năm chờ đợi, cuối cùng hai vợ chồng cũng có thể bắt đầu lại.

Nhưng cuộc sống lứa đôi êm đềm không được bao lâu.

Họ vừa bước ra khỏi một cánh cửa thì trước mặt lại mở ra một cánh cửa khác.

Lần này là một cánh cửa dẫn đến con đường mà thời ấy rất nhiều người Việt Nam phải chọn:

Vượt biên. Ra đi.

Hai vợ chồng chưa kịp sống một cuộc đời bình thường đã phải tính chuyện rời khỏi quê hương. Hảo và Huân cứ như những chiếc lá trong cơn dông, cuốn theo chiều gió lốc.

Cha của Huân phải trốn tránh vì không đi học tập, thỉnh thoảng cũng đến tá túc tại nhà của con. Cuộc sống thật nặng nề, ngột ngạt, nơm nớp lo âu. Tương lai không biết sẽ ra sao.

Mọi người phải tìm đường để ra đi, mà mỗi lần ra đi là một lần đánh cược với sinh mạng.

Rồi một tin buồn như sét đánh ngang tai.

Ông bố của Huân và hai đứa em cùng bước lên một con tàu. Sau đó không ai có tin tức gì về chuyến đi mang mấy chục con người ấy. Con tàu đã vĩnh viễn biến mất giữa biển khơi.

Nhưng biến cố đã không dừng lại ở đó.

Người cha đã từng thương con gái, âm thầm mua cho vợ chồng con căn nhà đẹp ở cư xá Thanh Đa, chưa được vui với cuộc sống mới của con thì con rể phải đi tù. Con rể mới được thả về thì bây giờ chính ông cũng bị cuốn vào vòng lốc xoáy.

Ông làm nghề thầu, cung cấp đồ gỗ và đồ trang trí nội thất. Với chính quyền mới, ông bị xếp vào thành phần tư sản. Một ngày người ta đến nhà bắt ông đi, giam ông ở Xuyên Mộc, Đồng Nai. Họ không chỉ bắt người mà xưởng gỗ và những của cải trong nhà cũng bị tịch thu.

Căn nhà từng đầy đủ, từng là nơi ông bỏ bao công sức để dựng nên một cuộc sống tử tế cho gia đình, dần dần cũng trở nên trống trải. Nhưng mất mát lớn nhất của ông là cảm giác bất lực của một người cha. Ông từng nghĩ mình có thể che chở cho vợ con, có thể lo cho con một mái nhà, có thể nhìn con cái trưởng thành, dựng vợ gả chồng. Vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả những gì ông từng gây dựng đã bị lấy đi.

Ông vào trại cải tạo trong nỗi uất ức không bút mực nào tả xiết.

Hai gia đình vốn từng có một mối giao tình đẹp từ thuở còn trẻ, giờ đây lại gặp nhau trong một hoàn cảnh không ai có thể tưởng tượng nổi. Một người mẹ vừa mất chồng và hai đứa con ngoài biển. Một người mẹ thì chồng phải đi tù và mất hết tài sản. Vậy mà cả hai bà mẹ ấy vẫn phải dành dụm, lo lắng cho những đứa con tìm đường vượt biên.

Ba người em của Huân được mẹ lo cho đi ba nơi khác nhau cũng may mắn thoát được, tấp vào mấy đảo nhỏ, nhưng từ từ cũng gặp nhau tại đảo Galang, Nam Dương. Tiền bạc gia đình đã cạn kiệt nên hai cô con gái còn lại đành ở nhà với mẹ, đợi ngày ông ngoại bên Pháp bảo lãnh

Và rồi, sau bao lần tính toán, bao nhiêu lần thất bại, vợ chồng Hảo cũng vẫn tìm cách ra đi. Có chuyến đi rồi lại trở về. Có chuyến bị lừa nên mất tiền nhưng may không bị bắt. Cuối cùng tiền bạc cạn dần. Hảo đành để Huân đi một mình. Và chuyến đi ấy thành công.

Tàu Huân được vớt, đưa vào đảo Pulau Bidong ở Mã Lai.

Huân ở đảo chờ ngày đi định cư.

Hảo ở lại.

Nàng bán căn nhà Thanh Đa, về sống với mẹ và các em. Nàng vẫn tin rằng rồi sẽ có ngày hai vợ chồng được đoàn tụ. Dù chồng ở một nơi rất xa, nhưng nàng vẫn cương quyết đợi chờ.

Hằng ngày nàng vẫn đến sở làm, bận rộn với công việc và có bạn bè gần bên nên cũng khuây khỏa. Nhưng khi trở về, nằm trên chiếc giường cũ của một thời con gái, nàng không khỏi xót xa cho phận mình.

Nhà Hảo có một bầy con gái. Ba người em liền sau Hảo đã đi du học từ trước năm 1975. Cậu con trai được gửi theo một gia đình quen từ ngay Tháng Tư năm mất nước. Mấy cô con gái nhỏ đành ở nhà với mẹ và chị để chờ bố và chờ mấy chị bên Mỹ gửi giấy về bảo lãnh.

Sự chờ đợi kéo dài không biết đến bao lâu. Nhưng Hảo vẫn chờ. Chờ người chồng đầu gối tay ấp, người mà nàng đã thương yêu, đã cùng nàng đi qua những bước thăng trầm, những nỗi khó khăn của cuộc đời.

Thư từ qua lại hàng tuần, rồi hàng tháng.

Nàng vẫn yên chí đợi chờ.

Một năm.

Hai năm.

Rồi ba năm.

Nàng vẫn vững lòng chờ đợi.

Nhưng ngày 1 tháng 3 năm 1983, tin ông bố vì tuổi già sức yếu và vì quá uất ức đã chết trong tù khiến cả nhà sững sờ, đau xót.

Cùng thời gian ấy, nàng nhận được một lá thư từ Mỹ gửi về. Không phải tờ giấy mà nàng chờ đợi. Mà là tờ giấy ly hôn.

Không có đoàn tụ. Không có ngày lên đường. Không có căn nhà mới ở một đất nước khác mà nàng hằng mong đợi.

Tờ giấy trả lại nàng hai chữ: TỰ DO.

Hơn ba năm đợi chờ là một khoảng thời gian rất dài đối với một người vợ trẻ trong một xã hội mới đầy đổi thay. Hảo không hiểu nổi tại sao Huân lại lạnh lùng viết thư nói rằng chàng trả lại nàng hai chữ “Tự Do”.

Mẹ nàng thật giận.

Các em và bạn bè của Hảo thì tức.

Tức đến mức không hiểu nổi tại sao, trong khi một người vợ mỏi mòn chờ đợi chồng mấy năm, đã cùng chồng chống chọi qua những ngày học tập, trải qua những năm tháng lo vượt biên, những ngày đói khổ và sợ hãi… Cuối cùng lại nhận được từ người chồng một tấm giấy ly hôn.

Hai điều đau khổ đã đến với Hảo thật tàn nhẫn. Vừa có tin buồn mất cha chưa lâu, nàng lại nhận được giấy ly hôn từ chồng. Người Hảo như tê đi, không còn cảm giác.

Nhưng điều lạ lùng nhất là Hảo không nổi giận với Huân mà vẫn đem lý lẽ ra để bênh vực. Nàng cho rằng do thời cuộc nên con người dễ đổi thay. Có lẽ sống xa nhà, một mình nơi đất khách, trải qua những năm tháng đầy biến động, con người ta dễ yếu lòng.

Hảo nói một câu nghe vừa buồn vừa thương:

“Ông ấy có phải là Bụt đâu.”

Bạn bè nghe xong chắc muốn… nổi quạu thay cho nàng!

Một người chịu không nổi, bật lại:

“Thế mày là Bụt à?”

Cả đám bạn vừa tức vừa thương. Tức vì Hảo hiền quá. Thương vì Hảo vẫn còn tìm một lý do để bảo vệ người đã làm mình đau.

Có lẽ lúc ấy Hảo cũng biết. Biết rằng Huân đã thay đổi. Biết rằng ở bên kia, chàng đã có một cuộc sống khác. Nhưng lòng người đâu phải cái công tắc, muốn tắt là tắt được.

Gần bốn năm chờ đợi đâu phải chỉ nói một câu “ly hôn” là có thể xóa sạch. Và một cuộc hôn nhân bắt đầu từ một tình yêu có gốc rễ tận những ngày thơ ấu càng không dễ dàng biến thành một mối quan hệ xa lạ chỉ vì một tờ giấy.

Hảo vẫn hy vọng. Không phải hy vọng Huân sẽ quay lại ngay. Mà có lẽ nàng chỉ mong một điều rất nhỏ: Nếu một ngày nào đó Huân nhận ra mình đã sai, nếu chàng quay về xin lỗi, nàng vẫn có thể tha thứ. Bởi Hảo chưa bao giờ nghĩ mình là người hoàn hảo. Và nàng cũng chẳng bắt Huân phải là một vị thánh. Nàng chỉ nghĩ: Con người ta có thể sai. Nếu biết sai thì vẫn còn có thể tha thứ.

Cũng có thể hai điều đau khổ quá lớn cùng lúc đến với Hảo. Thương xót cha nhiều hơn nên nỗi đau về sự phụ bạc của chồng cũng vì thế mà nhẹ bớt.

Các em của Hảo lúc ấy đã ở Mỹ. Một người trong gia đình tìm hiểu và biết rằng Huân đang sống chung với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ ấy muốn được chính thức kết hôn với Huân, và điều kiện để chuyện đó có thể xảy ra là Huân phải chấm dứt cuộc hôn nhân với Hảo. Vậy là mọi chuyện trở nên rõ ràng. Không còn là chuyện thời cuộc. Không còn là chuyện xa cách. Cũng không còn là một cuộc hôn nhân bị hoàn cảnh đẩy đưa đến chỗ lạnh nhạt.

Đó là một sự lựa chọn. Huân đã lựa chọn.

Hảo đau. Đau đến tê điếng.

Nhưng điều đáng nói là nàng không làm ầm lên, cũng không chạy đi tìm chồng để níu kéo.

Bạn bè biết Hảo đau. Nhưng Hảo lại cứ tìm cách nói đỡ cho người làm mình đau. Có lẽ vì Hảo hiểu con người vốn yếu đuối. Có lẽ vì nàng không muốn biến một mối tình đã từng đẹp thành một cuộc chiến của oán hận. Và cũng có lẽ, sâu trong lòng, nàng vẫn còn thương. Nhưng thương không có nghĩa là phải níu kéo. Hảo không van xin. Nàng chấp nhận.

Không phải vì nàng không đau, mà vì nàng hiểu một điều rất rõ:

Khi người ta đã muốn đi, giữ lại cũng chẳng còn là tình yêu.

Hảo ký giấy. Cuộc hôn nhân bắt đầu từ cuối năm 1973 chính thức kết thúc sau những năm tháng mà cả hai đã cùng trải qua quá nhiều biến cố.

Năm 1982, bà giáo Ngọc cùng hai cô con gái sang Pháp theo sự bảo lãnh của ông ngoại Huân.

Mãi đến tháng Năm năm 1991, chị em Hảo cùng mẹ mới đặt chân sang Mỹ.

Đến phi trường San Francisco, Hảo nhìn quanh, trong lòng vẫn có một niềm hy vọng mong manh: biết đâu Huân sẽ ra đón. Nhưng không. Chỉ có mấy cô em gái của Hảo và vài người bạn thân của mẹ nàng.

Vân, em của Hảo, cho biết người đàn bà đã sống với Huân, đã bắt Huân phải ly dị vợ, cuối cùng cũng không ở với Huân. Bây giờ Huân đang sống chung với mẹ và mấy người em.

Vậy là Huân đã không trở về. Có thể vì ăn năn. Có thể vì tự ái hay quá mắc cỡ vì hành động bội bạc của mình.

Nhưng có một điều Hảo đã hiểu. Hiểu rằng tình yêu của Huân với nàng không đủ đầy, không đủ mạnh. Hoặc có thể vì Hảo mới sang, tay trắng, nên Huân ngại phải cưu mang.

Dù vì lý do gì đi nữa, Hảo cũng thấy nhẹ lòng.

Nàng phải mạnh mẽ và quên đi những chuyện ưu phiền. Và nếu cuộc đời đã lấy đi của nàng nhiều thứ, thì nàng phải quyết định giữ lấy một thứ: Tương lai của mình. Phải đứng trên đôi chân của mình.

Chỉ bốn tháng sau, Hảo đã xin được việc làm teacher aide tại một trường học gần nhà.

Nàng chấm dứt khoản trợ cấp mà chính phủ thường cấp cho người mới nhập cư, 300 đô-la một tháng trong tám tháng. Nàng quyết tâm học lại.

Ở thời điểm ấy, các giáo sư của Đại học Dược Sài Gòn cũ đang tranh đấu, nên những dược sĩ Việt Nam có cơ hội được thi lấy bằng tương đương.

Hảo liên lạc với các bạn sang trước, rồi ghi tên học lớp hàm thụ để thi bằng tương đương Dược sĩ trên toàn nước Mỹ.

Liên lạc lại với những người bạn cũ, mỗi đứa mỗi hoàn cảnh nhưng vẫn có dịp gặp nhau để an ủi, chia sẻ. Cuộc sống tuy vất vả nhưng Hảo thấy vui vẻ và yêu đời hẳn lên.

Bốn năm.

Bốn năm miệt mài học hành, vừa học vừa đi làm tại các dược phòng. Bốn năm ấy không có chồng bên cạnh. Không có ai hứa hẹn tương lai. Không có một mái gia đình mới để trông chờ.

Hảo tự nhủ:

“Đời mình còn dài. Không thể cứ ngồi đó mà chờ một người đã chọn rời bỏ mình.”

Rồi ngày tốt nghiệp cũng đến. Hảo có bằng Dược sĩ.

Và thật may, đó cũng là lúc ngành Dược ở Mỹ đang phát triển mạnh. Những hệ thống siêu thị lớn bắt đầu mở thêm các dược phòng, nhu cầu dược sĩ tăng cao. Hảo có việc làm. Nàng bắt đầu đứng vững bằng chính đôi chân mình. Có lẽ đó là lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Bích Hảo không còn là người vợ của ai, không còn là người đàn bà ngồi chờ giấy bảo lãnh của một người chồng ở phương xa.

Nàng chỉ đơn giản là Bích Hảo. Một Dược sĩ. Một người đàn bà tự mình xây dựng lại cuộc đời.

Nhưng đúng lúc Hảo bắt đầu tìm được nhịp sống mới, một hôm người em của Huân lại liên lạc với nàng;

“Chị Hảo về với anh Huân đi!”

Câu nói ấy, nghe thì đơn giản, Hảo nghe mà chẳng biết nên cười hay nên khóc. Hảo đã bước qua bao khó nhọc, bao đớn đau. Người đã gửi cho nàng giấy ly hôn, giờ đây lại được nhắc đến như thể chuyện cũ có thể quay ngược trở lại. Hảo đã bước qua đoạn đời đau khổ đó rồi!

Sau đó, Huân chính thức cưới một người vợ khác và chẳng bao lâu sau, Huân bị ung thư và qua đời vài năm sau đó.

Lần này, giữa họ không còn là một cuộc hôn nhân. Hảo cũng có một thoáng bâng khuâng nhớ lại một đoạn đời đã từng có thật. Một đoạn đời rất dài.Rất đau. Nhưng cuối cùng, Hảo đã mạnh mẽ sống tiếp.

Chuyện vợ chồng coi như đến đó là hết. Không ai biết trong lòng hai người lúc ấy còn gì với nhau, mà có lẽ cũng chẳng cần biết nữa. Có những chuyện của một đời người, đến cuối cùng chỉ còn lại một chữ: Thôi.

Hảo tiếp tục sống.

Các em đều học hành xong, lập gia đình, ra ở riêng. Còn nàng vẫn ở với mẹ, hai mẹ con nương tựa nhau. Hảo cương quyết không lấy chồng nữa. Mẹ còn sống ngày nào thì nàng ở với mẹ ngày đó.

Bạn bè thấy nàng cứ một mình mãi cũng sốt ruột. Hết người này tới người kia tìm cách mai mối.

Một hôm, Hảo buông một câu:

“Tao chỉ thay tã cho mẹ tao thôi…”

Thế là cả đám bạn im luôn. 😂

Sau đó mẹ Hảo mất.

Các em ai cũng có gia đình riêng nhưng vẫn gần gũi với chị. Bạn bè cũng vậy.

Hảo sống một mình nhưng chẳng đến nỗi cô độc. Nàng vui vẻ đi đây đi đó với bạn bè, gần gũi các em, các cháu; chăm chút cho căn nhà và khu vườn của mình.

Cho đến một ngày, Hảo ra vườn tưới cây. Nàng vấp phải cái ống nước nằm dưới đất, té xuống mà không ai hay biết. May sao có người hàng xóm đi ngang nhìn thấy, gọi 911 đưa nàng vào phòng cấp cứu. Hảo bị gãy xương vai, dập xương ống tay. Sau một thời gian nằm nhà thương, nàng được về nhà.

Các em chia nhau luân phiên đến thăm. Có therapist đến nhà tập hằng ngày, lại có cô giúp việc đến mỗi ngày bốn tiếng.

Vậy là cũng ổn.

Nghĩ lại, có lẽ Hảo không phải Bụt thật. Nàng chỉ là một người đàn bà có lòng. Mà người có lòng thì đôi khi chịu thiệt. Hảo đã chịu thiệt nhiều rồi. Nhưng may mắn là nàng không để những chuyện ấy làm mất đi niềm vui sống.

Bây giờ Hảo vẫn ở đó, gần các em, gần bạn bè. Có lúc đau ốm, có lúc té ngã, có lúc cần người giúp, nhưng bên cạnh vẫn có người. Sau một đời long đong như vậy, Hảo còn có người thân để nương tựa, còn có bạn bè để gọi nhau một tiếng, còn có một căn nhà để yên ổn trở về.

Hôm nay trời đã vào Thu, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi, Hảo thấy người đã khỏe, bước ra sân sau nhìn lên trời cao, nhìn quanh thấy phong cảnh thiên nhiên đẹp quá. Hảo sẽ chịu khó tập tành cho khỏi hẳn để đại hội Trưng Vương năm nay sẽ đi gặp bạn bè. Từng khuôn mặt, từng khuôn mặt hiện ra. Một bầy con gái tung tăng trên lòng đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một đời người trôi đi quá nhanh. Hảo nhớ quá một thời ngây thơ trẻ dại!

Đỗ Dung

September 1, 2026

Discover more from VBHNVDBHK

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading