Hồi Ký Văn Thi Sĩ Đỗ Dung

Hồng Thủy mất BỐ khi mới 18 tháng nên không biết cảm giác được có BỐ ra sao. Đọc hồi ký ĐỖ DUNG viết về Bố thật cảm động và trong lòng HT thật buồn và nuối tiếc: “phải chi mình cũng được có BỐ, BỐ tuyệt vời đến vậy hay sao? “. Cám ơn cô em ĐỖ DUNG thân yêu của chị đã chia sẻ những cảm xúc về BỐ mà chị không may mắn được hưởng.

Xin mời quí vị thưởng thức một bài viết thật hay và cảm động về BỐ nhân dịp ngày LỄ MỪNG CHA sắp đến.
Thân mến
Hồng Thủy

Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh

Đỗ Dung kính nhớ Bố.
FATHER’S DAY 2026

Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.

Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.

Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.

Tôi cúi xuống hỏi:

“Bố có biết con là ai không?”

Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.

“Dung.”

Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.

Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.

Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.

Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.

Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.

Ba hồi dài.

Lúc nào cũng vậy.

Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.

Đứa ở sân trước chạy vào.

Đứa ở sân sau chạy lên.

Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.

Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.

Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.

Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.

Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.

Ông vốn là người lính.

Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.

Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.

Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.

Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.

Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.

Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.

Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.

Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.

Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.

Ông mê nhạc tiền chiến.

Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.

Ông thích thơ.

Thích viết.

Thích những câu chữ đẹp.

Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.

Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.

Nhưng tôi biết chắc một điều:

Có những người cha không nói “Bố thương con”.

Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.

Nhà tôi đông con.

Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.

Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.

Biết đứa nào yếu đuối.

Biết đứa nào bướng bỉnh.

Biết đứa nào đang buồn.

Biết đứa nào cần được giúp đỡ.

Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.

Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.

Rồi đất nước đổi thay.

Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.

Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.

Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.

Khi ấy tôi còn trẻ.

Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.

Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.

Nhớ những đêm đèn khuya.

Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.

Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.

Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.

Ông không viết về hận thù.

Ông viết về nhân cách.

Ông không nói đến thất bại.

Ông nói đến lòng tự trọng.

Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.

Bố thuộc về số ít những người như thế.

Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.

Nhưng không phải là một người bị đánh gục.

Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.

Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.

Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.

Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.

Mẹ cũng già đi.

Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.

Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.

Ánh sáng không còn mạnh.

Nhưng vẫn sáng.

Vẫn đủ để soi cho nhau.

Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.

Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.

Một khu nhà trên đồi Mê Linh.

Một mặt hồ.

Một dãy nhà hình chữ U.

Ông bà ở giữa.

Con cháu quây quần xung quanh.

Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.

Nhiều năm qua đi.

Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.

Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.

Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.

Ông xây bằng ký ức.

Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.

Bằng những bài hát cũ.

Bằng những lời dạy đơn sơ.

Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.

Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.

Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.

Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.

Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.

Nó nằm trong chúng tôi.

Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.

Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.

Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.

Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.

Tôi ngồi bên cạnh Bố.

Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.

Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.

Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.

Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.

Ba hồi dài.

Rõ ràng.

Ấm áp.

Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.

Đỗ Dung

June 13, 2026

Discover more from VBHNVDBHK

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading