Tùy bút Văn Thi SĨ Y Thy Võ Phú

Mời quí vị đọc hai câu chuyện thật cảm động của VÕ PHÚ. Dù chỉ là tình cảm của một con chim bé bỏng hay hương vị của một tô canh cá đơn sơ mộc mạc thời thơ ấu… cũng có thể là một nỗi nhớ khôn nguôi dai dẳng theo ta đến cuối cuộc đời.
Thân mến
Hồng Thủy

Tùy bút: Góc Nhỏ Cuộc Ðời

19. CHUYỆN CON CHIM

<image.png>

Ảnh: Internet

Những người bạn đồng trang lứa với tôi, giờ đây hầu hết đều ở vào cái tuổi mà người Mỹ gọi là empty nesters. (Tạm dịch là “tổ trống”). Cụm từ này thoạt nghe có vẻ lạ tai, nhưng thực ra nó mô tả một cách rất sinh động giai đoạn mà con cái đã trưởng thành, rời khỏi tổ ấm để bay đi, tìm con đường riêng cho mình.

Những căn nhà từng ồn ào, náo nhiệt với tiếng cười trẻ con bỗng trở nên im lặng. Bữa cơm không còn tiếng hỏi han “Hôm nay con đi học thế nào? Có vui không?”, cũng chẳng còn những đôi giày vứt lung tung ngoài cửa. Chỉ còn hai người lớn, vợ và chồng. Hai người lớn đó bỗng dưng thấy mình như đang… học lại cách sống chung lần nữa, nhưng lần này là trong sự tĩnh lặng.

Ở cái tuổi ngũ tuần, lục tuần này, một số bạn tôi quay lại làm vườn, học đàn, học vẽ. Có người học nấu ăn kiểu Pháp, kiểu Hàn. Cũng có người bắt đầu tập yoga, hoặc chạy bộ sáng sớm, đi hiking vào cuối tuần… như một cách tìm lại bản thân sau nhiều năm bận bịu vì con cái. Nhưng không ít người, nhất là những cặp vợ chồng cả hai từng làm việc văn phòng, lại chọn một lối khác: nuôi thú cưng. Họ nói, nuôi một sinh vật nhỏ để chăm sóc cũng là cách giữ lại một phần nào đó cảm giác được cần đến, được quan tâm, được yêu thương…

Người bạn của tôi, một người đàn ông từng nổi tiếng là khô khan và vô cùng thực tế, cũng đã làm điều đó. Nhưng thay vì nuôi chó hay mèo như số đông, anh lại chọn nuôi chim. Một con chim yến phụng nhỏ xíu, lông xanh rực rỡ như một mẩu mùa xuân giữa mùa thu đời người.

Anh nói với tôi:

– Nuôi chó phiền lắm: nào là phải dẫn đi dạo, chích ngừa, cắt lông, làm móng, rồi cả chuyện dọn dẹp mỗi khi nó “bày bừa”. Có những con chó không chịu tiểu tiện nếu không được dắt đi, mà mỗi ngày lại hai ba lần như vậy. Còn mèo thì không được, vợ dị ứng với lông mèo, chỉ cần gần là hắt hơi, ngứa mắt suốt cả ngày.

Sau bao nhiêu lần suy nghĩ, đắn đo vợ chồng anh quyết định nuôi chim.

Anh cười giòn, rồi nói thêm:

– Mà nghe tới “nuôi chim” là mấy “mẹ” thích lắm. Nuôi chim nhẹ nhàng, sạch sẽ, ít tốn công lại được nghe chúng ríu rít rất vui tai mỗi sáng.

Vậy là một buổi chiều cuối tuần, anh ra tiệm thú cưng, chọn một con chim yến phụng (tên khoa học là Melopsittacus undulatus – một loài chim thuộc họ vẹt, có nguồn gốc từ vùng hoang mạc nước Úc). Trong tiếng Anh, chúng được gọi là budgerigar, hay budgie, và ở Mỹ người ta thường gọi đơn giản là parakeet. Loài chim nhỏ bé này có khả năng bắt chước tiếng người, hót líu lo vui nhộn, và đặc biệt là rất thân thiện nếu được nuôi dưỡng từ nhỏ.

Con chim đầu tiên ấy được anh đặt tên là Milo, nghe dễ thương, gần gũi, như thể là một thành viên mới trong gia đình. Những ngày đầu, anh mua chiếc lồng nhỏ, đặt trong góc phòng khách. Nhưng dần dà, tình cảm dành cho chú chim nhỏ ấy cứ lớn lên theo thời gian. Anh bắt đầu tìm hiểu kỹ hơn: đọc sách, tra cứu tài liệu, tham gia cả những diễn đàn của người nuôi parakeet trên mạng. Anh học cách nhận biết tâm trạng của chim qua tiếng hót, cách rỉa lông, cách nhảy nhót trên cầu. Anh biết được rằng nếu một con chim parakeet chớp mắt chậm rãi khi nhìn bạn, đó là dấu hiệu nó đang tin tưởng bạn.

Chỉ sau vài tháng, chiếc lồng nhỏ không còn đủ chỗ để chứa các đồ chơi cho chim nữa. Anh đổi sang lồng lớn hơn, có thêm cầu tụt, xích đu, gương soi, thậm chí lắp cả những món đồ chơi nhỏ mà chim có thể gõ vào hay mổ mổ mỗi khi buồn chán. Anh bắt đầu mua những loại thức ăn như: hạt kê, yến mạch, dưa chuột, cà rốt cắt mỏng, và các loại cát đặc biệt giúp chim tiêu hóa tốt hơn. Mỗi ngày, Milo được thả ra khỏi lồng ít nhất một giờ để bay nhảy quanh phòng. Anh và vợ thậm chí còn… không bật quạt khi chim được thả, chỉ để tránh Milo bị gió lùa làm cảm lạnh.

Có lần, vợ chồng anh dự định đi du lịch châu Âu ba tuần, kế hoạch đã ấp ủ từ mấy năm trước khi con cái còn chưa rời nhà. Nhưng rồi gần sát ngày đi, anh bỗng ngồi thừ ra, nhìn Milo nghiêng đầu ngơ ngác.

Và thế là… chuyến đi đành hủy bỏ.

Vợ chồng anh nói với nhau: “Châu Âu đó thì vẫn còn đó, nhưng Milo thì chỉ có một.” Họ quyết định đi gần thôi, vài ngày, nhờ cô hàng xóm qua cho ăn. Nhưng phần lớn những chuyến đi xa sau đó, vợ chồng anh đều chọn cách ở nhà để chăm cho con chim bé nhỏ ấy.

Tôi từng trêu:

-Tụi mày điên rồi. Nuôi chim mà như nuôi con mọn.

Anh chỉ cười, mắt nhìn xa xăm:

– Ừ, thì cũng như con vậy. Không nói được, nhưng có cảm xúc. Tao thấy nó hiểu được ý tụi tao. Có hôm buồn chuyện công việc, tao ngồi im. Milo bay đến đậu lên vai, dụi đầu vào cổ. Tao tin là nó thương tao.

Nghe đến đó, tôi cười, nhưng cười kiểu… nghẹn nghẹn. Không phải vì anh nói sai, mà vì tôi hiểu: đến một lúc nào đó trong đời, ta bắt đầu thấy những thứ nhỏ bé, như một con chim, lại có thể cho ta nhiều cảm xúc hơn cả lời nói của người lớn.

Chuyện sẽ dừng lại ở đó nếu như không có… bi kịch.

Một buổi sáng nọ, anh nhắn tôi một dòng ngắn gọn:

“Milo nó không ăn nữa rồi.”

Tôi chưa kịp hiểu, anh gọi đến, giọng như vừa trải qua một cơn đau, suốt đêm:

– Milo chắc nó bịnh. Không hót, không bay, chỉ bám vào thanh ngang trong lồng như bám vào cuộc đời. Vợ chồng tao chở nó đi bác sĩ.

Tôi suýt phì cười.

– Con chim bé bằng bàn tay mà đi bác sĩ?

Anh nói nghiêm túc:

-Ừ. Chứ mày tưởng bỏ nó ở nhà nằm chờ chết chắc?

Rồi anh kể. Vợ anh thì ngồi ghế sau ôm lồng chim như ôm em bé sơ sinh. Anh chạy xe mà cứ thò tay ra sau kéo tấm mền che nắng cho lồng, sợ chim bị chói. Đến phòng khám, họ điền tên “Milo” vào mẫu, ghi ngày sinh ước chừng, giống loài, tình trạng hiện tại.

Anh bảo:

– Trời đất, tao còn chưa được khám kỹ vậy lần nào!

Sau vài lần tái khám, bác sĩ thú y trịnh trọng tuyên bố:

– Milo bị ung thư. Giai đoạn cuối.

Anh lặng người. Con chim bé tí như vậy mà cũng ung thư. Ở đời, cái gì có sự sống thì cũng có bệnh tật, đúng không? Nhưng đau đầu chưa phải chuyện đó mà là: chữa thì sao?

Bác sĩ ngập ngừng rồi đưa ra hai lựa chọn:

Một là điều trị tích cực bằng xạ trị, hóa trị và chăm sóc đặc biệt, chi phí từ 3,000 đến 5,000 đô la – nhưng không đảm bảo khỏi bệnh. Hai là tiêm thuốc để Milo ra đi nhẹ nhàng, chi phí chỉ từ 50 đến 100 đô la. Nếu thêm dịch vụ thiêu đốt và giữ tro cốt trong hũ có khắc tên Milo bằng laser, tổng chi phí khoảng 200 đô la.

Anh kể đến đó rồi cười ngặt nghẽo:

– Trời đất… Mày nghĩ đi. Hồi nhỏ tụi mình thằng nào mà không cầm ná cao su đi vòng xóm, thấy con chim nào là bắn đoàng! – gỡ xuống, lặt lông, nướng sả ớt. Ăn nhóp nhép. Giờ… tốn tiền tiêm thuốc cho con chim chết êm, rồi mua… quan tài mini, thiêu đốt, giữ tro cốt!

Tôi cũng không nhịn nổi nữa. Cười mà nước mắt muốn rơi.

Anh nói tiếp, như để kết luận:

– Con chim mà còn sướng hơn người. Chỉ có ở cái xứ này thôi. Ở Việt Nam, chắc nó đã thành món chim quay lá chanh rồi.

Nhưng rồi anh thở dài.

Cuối cùng, vợ chồng anh quyết định chọn phương án hai, để Milo ra đi nhẹ nhàng, trong vòng tay của hai người từng xem nó như con. Họ đến phòng khám, đặt lồng xuống. Milo cố rướn đầu nhìn anh lần cuối. Bác sĩ tiêm thuốc, nhẹ nhàng. Mọi thứ diễn ra yên ắng. Trong phong chỉ có tiếng đồng hồ tích tắc và tiếng hít mũi khe khẽ của người vợ.

Khi mọi việc xong xuôi, anh mang hũ tro cốt của Milo về, đặt trên kệ sách, ngay bên cạnh một tấm ảnh chụp cả gia đình ngày xưa, lúc con anh còn nhỏ, lúc tổ ấm còn đủ đầy. Hũ tro ấy không chỉ là Milo, mà là tất cả những tháng ngày anh đã học được cách yêu thương một sinh vật không nói được tiếng người.

Hôm rồi ghé nhà, tôi thấy hũ tro vẫn còn đó. Anh bảo có khi sẽ nuôi lại một con chim khác. Không phải để thay thế Milo, mà như một cách để không cho lòng mình trống trải.

Anh nói:

– Nuôi chim rồi tao mới hiểu… Tình yêu thương không nhất thiết phải lớn lao. Chỉ cần nằm gọn trong một cái lồng bé xíu, mỗi sáng cất lên một tiếng ‘chíp’ cũng đủ làm cho cuộc đời thấy ấm áp.

Tôi cười rồi trả lời:

– Cái thằng này tới tuổi rồi…. Giờ đem cả triết lý ba xu ra nói nghe cũng được.

– Ha… Ha…

Cuộc đời thật lạ. Có những thứ khi còn trẻ ta xem là nhỏ nhặt, thậm chí là vô nghĩa , như một con chim, đến lúc già lại trở thành điều giữ cho tim mình ấm. Tình yêu không phải lúc nào cũng ồn ào, lớn lao. Đôi khi, nó chỉ là một sinh vật bé bỏng biết hót chíp chíp mỗi sáng, là một ánh mắt ngơ ngác, một cái dụi đầu vào cổ trong lúc mình im lặng.

Milo không chỉ là một con chim. Nó là biểu tượng cho một thời điểm đặc biệt trong đời. Khi con cái đã bay đi, còn mình thì học cách ở lại. Và qua câu chuyện tưởng như buồn cười của một người đàn ông từng săn chim, giờ lại bỏ tiền cho chim chết yên lành và thiêu tro giữ lại. Tôi chợt hiểu rằng: Ai rồi cũng sẽ có lúc cần một thứ gì đó để yêu thương vô điều kiện, dẫu chỉ là một con chim.

Richmond – Thứ Sáu cuối tuần 07/11/2025

=======

20. CÁ LONG HỘI

<image.png>

Tôi nghe đến cái tên “cá long hội” lần đầu tiên khi còn là một đứa trẻ mới hơn mười tuổi. Cái tuổi còn mải rong chơi, chưa hiểu hết nỗi buồn vui, được mất của đời người. Thế nhưng, cái tên tưởng chừng vô nghĩa ấy lại in sâu trong tâm trí tôi như một vết hằn khó phai.

Hồi đó, nhà tôi nghèo lắm. Nghèo đến mức mỗi bữa cơm chỉ mong có ít rau luộc, một cái trứng vịt dầm nước mắm hay chiên lên là đã thấy hạnh phúc ấm bụng. Ba tôi “ghét cay ghét đắng” cá mà đặc biệt là loại cá mang cái tên “cá long hội”. Thật ra, tên của “cá long hội” là cá liệt, nhưng ba tôi, cũng như ông nội tôi trước kia, gọi nó bằng cách nói lái đầy ám ảnh: “cá long hội”, ý rằng đó là loài cá dễ làm mắc xương, “lôi họng” người ăn. Có lẽ trong quá khứ, họ từng chứng kiến hoặc trải qua chuyện không hay liên quan đến loại cá ấy? Một ký ức chẳng mấy vui vẻ, ám ảnh đến mức biến thành điều cấm kỵ truyền từ đời này sang đời khác?

Nhưng cái nghèo thì nào có chừa ai. Cá liệt rẻ, dễ mua, lại luôn sẵn có trong những mẹt cá ở bến hay chợ chiều, nhất là ở vùng ven biển Lương Sơn, nơi gia đình tôi trước kia sinh sống. Những ngày mẹ đi buôn xa, không kịp về lo bữa tối, việc bếp núc trong nhà lại được giao cho anh lớn nhất của tôi.

Hôm ấy, anh ra chợ, thấy mẹt cá liệt còn tươi rói, mắt cá long lanh như giọt sương đầu cơn mưa, lại vừa túi tiền. Không nghĩ ngợi nhiều, anh mua về, làm sạch, ướp muối, tiêu rồi kho khô.

Mùi cá kho tiêu bốc lên thơm lừng, len lỏi khắp gian bếp nhỏ. Cả năm anh em tôi ngồi xúm quanh, bụng đói cồn cào mà lòng thì háo hức. Nồi cá liệt đá kho tiêu vừa nhấc khỏi bếp lửa riu riu, khói còn bốc lên nghi ngút. Những lớp cá xếp chồng, đẫm màu nâu cánh gián của nước kho sệt lại, xen chút ánh vàng của nghệ, vài lát ớt đỏ khô, tiêu sọ thơm nồng.

Cơm dọn ra, anh mời ba xuống ăn. Nhưng vừa nhấc nắp mâm, ba sầm mặt.

– Mày mua cá… long hội về cho tao ăn hả?! – Ông gằn từng chữ, rồi bất ngờ hất tung cả mâm cơm.

Anh tôi chết lặng, rồi ấm ức khóc. Chúng tôi đứng bên, ngơ ngác không hiểu gì, chỉ thấy tiếc nồi cá kho đang thơm lừng bị đổ lăn lóc dưới nền đất.

Phải mãi sau này, khi đã lớn, tôi mới hiểu được cơn giận dữ của ba không chỉ vì món ăn, mà vì một vết thương xưa cũ nào đó. Một nỗi sợ, một ký ức không lời?

Ngược lại với ba, tôi lại thích ăn cá liệt đến lạ (tôi chỉ nếm được mùi vị loài cá này khi ba đi vượt biển). Khi ba vượt biên sang Philippines, tôi mới lần đầu được ăn món cá liệt nấu thơm cà.

Ngày ấy, mẹ vất vả mưu sinh nuôi đàn con, không còn thời gian chăm lo từng bữa ăn giấc ngủ. Tôi thường sang ngủ lại nhà bạn, là dân xóm chài ven biển.

Vào những đêm trăng treo lơ lửng giữa trời hay khi bình minh vừa chạm nhẹ nơi chân sóng, mặt biển ánh lên sắc bạc, long lanh trong một gam màu dịu dàng. Đó là khoảnh khắc người làng chài mang lưới ra khơi. Trên những chiếc thúng chai hay xuồng tre bé nhỏ chòng chành giữa sóng nước, họ lặng lẽ đưa mắt theo từng con sóng vỗ bờ, như dõi theo nhịp thở của biển cả.

Họ bủa vây những đàn cá đang tiến dần vào gần bờ. Có thể đàn cá theo ánh trăng hay là để tìm ăn, để sinh sản, hoặc chỉ đơn thuần là trôi theo bản năng muôn đời? Và cũng chính lúc ấy, lưới quáng được thả xuống – một cách đánh bắt mộc mạc, chân phương, đã nuôi sống biết bao thế hệ cư dân vùng ven biển.

“Cá lưới quáng” – cái tên mộc mạc mà thân thương, dành cho những mẻ cá được đánh bắt từ loại lưới này. Không phải là những loài cá lớn quý hiếm, chẳng phải sơn hào hải vị, nhưng cá lưới quáng lúc nào cũng tươi rói, ngọt lành. Chúng mang trong mình hương vị chân chất của biển khơi, và sự bình dị thân quen như chính cuộc sống của những người dân miền biển, nghèo khó nhưng luôn thấm đẫm nghĩa tình.

Mỗi lần lưới được kéo lên, nước biển còn nhỏ giọt theo tay, cá còn quẫy đành đạch trong lưới ướt sũng. Nào là cá liệt, cá đối, cá sơn, cá phèn, cá nục, cá nóc… đôi khi cả những con mực con tôm bạc nhỏ sót lại từ đêm trăng. Đủ loại cá dân dã, thứ nào cũng lấp lánh ánh bạc của biển, như lộc trời ban tặng. Người đi chợ đêm thường đứng sẵn trên bãi, chờ những mẻ cá đầu tiên được gỡ ra, lựa lấy những con còn nhớt bóng, mắt trong veo, mùi biển mằn mặn còn bám theo từng thớ thịt.

Cá lưới quáng không phải loại có nhiều thịt, nhưng vị thì ngọt thanh, đậm đà, mộc mạc mà chẳng cần cầu kỳ. Chỉ cần kho tiêu, nấu thơm cà, hay chiên giòn chấm mắm ớt là đã có ngay một bữa cơm vừa ngon vừa nhớ mãi. Với người miền biển, cá lưới quáng không chỉ là món ăn, nó là một phần ký ức, là tiếng lửa reo bên bếp củi xế chiều, là tiếng con nít cười vang quanh mâm cơm nóng hổi, là mùi nước mắm cay cay len qua từng khe cửa gió.

Trong những năm tháng thực phẩm khan hiếm, khi gạo thịt đều phải mua bằng tem phiếu dưới sự quản lý của nhà nước, thì những con cá của người dân chài luôn trở thành món ăn quý giá nhất. Cá lưới quáng vẫn giữ nguyên sự chân chất vốn có – như một món quà của biển cả, của đất trời, mang theo hương vị của quê hương và cả tình thương lặng thầm của những người cha, người mẹ ngày đêm bám biển, chỉ mong sao con mình không phải chịu cảnh đói lòng.

Tôi vẫn nhớ như in buổi tối năm ấy, hay sang nhà bạn ngủ lang. Ánh đèn hột vịt leo lét, vàng vọt hắt ra từ chiếc đèn dầu lửa, soi rõ dáng má Liễu đang lom khom bên bếp, nấu nồi canh cá liệt với thơm cà.

Mùi canh bốc lên nghi ngút, quện trong không khí một thứ hương thơm khó tả: vị chua nhẹ của thơm, vị ngọt bùi của cà, cái mặn mòi đậm đà của nước mắm, xen lẫn chút cay nồng xộc lên mũi từ trái ớt xanh mà má dầm sẵn trong chén nhỏ. Cá liệt còn nhớt trơn, vừa mới bắt lên, thịt trắng nõn như bông, nóng hổi, mềm ngọt tan ngay đầu lưỡi.

Tôi ngồi đó, xì xụp bên mâm cơm đơn sơ, vừa ăn vừa khẽ hít hà, lòng bỗng thấy rưng rưng. Không chỉ cái bụng đói được lấp đầy, mà dường như cả trái tim tôi cũng được sưởi ấm. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu ra rằng hạnh phúc có khi giản dị lắm – chỉ là một nồi canh cá nghi ngút khói, là tiếng má Liễu ân cần hỏi “Con ăn no chưa?”, là hơi ấm lan tỏa khắp gian bếp nhỏ. Đó là lúc tôi cảm nhận được một thứ tình thương êm đềm, thầm lặng mà lớn lao – thứ tình thương mà có lẽ cả đời tôi sẽ không bao giờ quên.

Giờ đây, tôi đã trưởng thành, cuộc sống vật chất đầy đủ hơn ngày xưa, có thể dễ dàng thưởng thức những món cao lương mỹ vị. Thế nhưng, tôi vẫn luôn nhớ và thèm món canh cá liệt nấu với thơm và cà của năm xưa. Thỉnh thoảng, vì cơn thèm da diết, vợ tôi lại mua một gói cá liệt ở chợ Á Châu về nấu cho tôi ăn. Thế nhưng, dù có cố gắng thế nào, tôi vẫn không tìm lại được cái hương vị, cái cảm giác của nồi canh cá liệt thuở ấy. Hương vị đậm sâu đã in hằn vào ký ức tuổi thơ tôi.

Mỗi lần ngồi trước tô canh nghi ngút khói, tôi không chỉ ăn để lấp đầy chiếc bụng đói. Tôi ăn để được quay trở lại những ngày tháng xa xưa, để sống lại những mảnh ký ức mà thời gian cứ chồng chất phủ mờ. Trong hương vị canh ngót thơm cà hành chua chua ấy, tôi nhìn thấy ba, người đàn ông lầm lũi mang trên vai vết thương lòng từ một quá khứ chẳng mấy ai rõ, suốt đời gồng mình làm trụ cột gia đình, dù đôi khi, tình thương của ông lại hiện ra qua những cơn giận dữ bất ngờ và khó hiểu.

Tôi nhớ ánh mắt anh trai tôi hôm đó, ánh mắt của một đứa trẻ non nớt đang học cách làm người lớn, cố gắng cáng đáng mọi việc trong nhà giữa những thiếu thốn bủa vây, để rồi bất lực bật khóc vì những chuyện vượt ngoài sức hiểu biết của tuổi thơ.

Tôi cũng nhớ cả cái mâm cơm bị hất tung, những hạt cơm văng vãi khắp nền đất, như từng hạt nỗi buồn nhỏ nhoi mà day dứt, vỡ òa giữa gian bếp chật hẹp. Ấy vậy mà, chính nơi đó, trong bao đắng cay, vẫn le lói một thứ tình thân lạ lùng, không cần nói thành lời, mà bền chặt hơn bất cứ điều gì trên đời.

Giờ thì tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết: ai cũng có cho mình một nỗi sợ riêng, một vết thương riêng, và một cách rất riêng để bày tỏ tình thương. Ba tôi cứng cỏi mà trầm mặc. Mẹ tôi lặng lẽ hy sinh. Anh tôi đầy những cố gắng vụng về. Còn tôi, tôi chọn giữ lại những gì dịu dàng nhất, hương thơm chua chua, ngọt ngọt của món canh cá liệt ngày xưa.

Vì có những món ăn không chỉ làm no bụng, mà còn lấp đầy những khoảng trống trong tâm hồn. Canh cá “long hội” đối với tôi chính là một món ăn như thế, một món ăn bình dị, nhỏ bé, nhưng lại đủ sức khơi dậy cả một bầu trời ký ức: về những năm tháng cơ cực mà vẫn đầy hơi ấm, về những người thân yêu đã lặng lẽ bước qua đời tôi, và về chính bản thân tôi, đứa trẻ từng lớn lên bên mâm cơm đạm bạc, giữa khói bếp nghèo, và trong tình thương của những con người chưa từng cạn tình, dù cuộc đời có khắc nghiệt đến đâu.

Richmond, 072425

August 10, 2025

Discover more from VBHNVDBHK

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading