Thưa các anh chị, Chắc tất cả chúng ta đều cảm nhận Hình ảnh Người chiến sĩ VNCH trong lòng chúng ta luôn là một hình ảnh rất hào hùng, thơ mộng. Bao nhiêu bài thơ, bài hát ca tụng người Chiến sĩ VNCH. Hơn thế nữa chính trong các binh chủng cũng có rất nhiều Văn, Thi, Nhạc sĩ có những tác phẩm làm say đắm lòng người và đôi khi cũng làm chúng ta rơi nước mắt. Họ vừa cầm súng vừa cầm bút thật nhuần nhuyễn, đáng nể phục.
Mời quí vị đọc “phóng bút” của anh Lê Mai Lĩnh VỀ NHỮNG NGƯỜI CHIẾN SĨ TÀI HOA.
Thân mến
Hồng Thủy
lê mai Lĩnh phóng bút.
1/ Thời kỳ Việt nam cộng hòa.
Nói đến sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam, trước 30/4/1975, chúng ta không thể không nhớ tới những góp sức, to lớn, bề thế, của những lượng phù sa văn chương Hà nội, từ sau di cư năm 1954.
Nhưng sẽ vô lý, bất công, vô ơn, nếu chúng ta bỏ quên những người cầm bút lính, trong quân lực Việt nam cộng hòa.
Từ năm 1968, sau vụ Mậu thân, đó là một khúc rẽ của chiến tranh, nhưng cũng là một khúc rẽ của văn chương.
Điều mà những ai, trong sinh hoạt văn chương Saigon, đều thấy.
Đó cũng là lúc văn chương rơi vào trạng thái bế tắc, trở nên nghèo nàn, thiếu sinh khí.
Thuật ngữ văn chương bấy giờ, gọi là, nền “ văn chương phòng trà,” đầy tính miệt thị.
Nhưng rồi, biến cố Mậu thân, lệnh tổng động viên, gọi tái ngũ, làm sinh động bộ mặt xã hội, cũng làm nhan sắc văn chương thay đổi.
Và, cũng từ giai đoạn đó, những người cầm bút lính, đã nói không, với nền văn chương phòng trà.
Họ, trong chừng mực nào đó, bằng những tác phẩm thơm mùi máu, mùi thuốc súng, ánh sáng hỏa châu, “ nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang”( Trần Hoài Thư) thay cho “ mười đêm ngà ngọc “( Mai Thảo).
Đó cũng là giai đoạn chiến tranh khốc liệt, những mặt trận lớn xảy ra, Khe sanh, Hạ Lào, mùa hè đỏ lửa, đại lộ kinh hoàng, những trung đoàn,sư đoàn rầm tập, kéo nhau lên mặt trận, cũng là lúc, những trang viết, những tác phẩm, những ghi chép, từ biên cương, tiền tuyến, lui về, gởi về, cho các nhà in, nhà xuất bản, từ và nhờ đó, bộ mặt văn chương miền Nam thay da, đổi thịt.
Và người đọc, cũng bắt đầu chia tay, lơ là, những lượng phù sa năm xưa, 1954, mà trở về, vuốt ve, trìu mến văn chương trận mạc, với Lâm Chương, Lâm hão Dũng, Thế Uyên, Đào Dân, Nguyễn Bắc Sơn, Từ thế Mộng, Nguyễn dương Quang, Phương Tấn, Phan Nhật Nam, Hồ minh Dũng, Trần Hoài Thư, Y Uyên, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Phạm ngũ Yên, Trương Vấn, Yên Sơn, Phan Xuân Sinh…..
Thế nên, đã có một người cầm bút ( tôi chưa tìm ra tên ) nhận xét như sau :
“ Những thế hệ sinh trong khoảng thời gian 1940-1950, theo tôi, là thế hệ thiệt thòi, bất hạnh nhất.
Một thế hệ, đa phần, tuổi thơ nám, cháy.
Một thế hệ, đa phần, chưa kịp uống ngụm nước thanh xuân đầu đời, đã bùn lầy, chiến tranh, súng đạn.
Một thế hệ, đa phần, tiêu trầm tuổi trung niên, trong lao tù, cải tạo.
Khi được thả ra, mấy kẻ không bạc đầu? Lúc trở về mái nhà xưa, mấy người không thương tật thân/ tâm?
Tuy nhiên, thế hệ 1940-1950, cũng lại là thế hệ cung cấp cho văn chương miền Nam 20 năm, những bài thơ, những trang văn, những dòng nhạc, những bức tranh, những khối tượng chói, ngời nhân văn nhất.
Nếu không có phần đóng góp của thế hệ này, tôi e văn chương miền Nam 20 năm, sẽ tẻ nhạt, đơn điệu.
Trừ những người cầm bút ở thế hệ vừa kể, chết trong chiến tranh, khi còn rất trẻ, như Y Uyên, tử trận năm 1969; ở ngọn đồi Nora, Phan Thiết; Hoài Lữ / Lữ Đắc Quảng, chết ở Bình Chánh, Gia Định, đêm Chủ Nhật 27 tháng 5-1965; Nguyễn Phương Loan, tử trận tại Pleime; Trần Như Liên Phượng, Phan Huy Mộng, Hứa Đình Anh, Trịnh Kim Đồng chết ở Bình Định…
Hoặc những người đã để lại nơi trận địa, một phần thân thể mình; như nhà thơ Luân Hoán, nhà thơ Phan xuân Sinh, bị mất bàn chân trái, tháng 1 năm 1969, trong trận đánh ở Mộ Đức, Quảng Ngãi… (1)
Thế hệ 1940-1950, vẫn là thế hệ mang lại cho 20 năm văn chương miền Nam, những mùa gặt văn học, nghệ thuật sung mãn; những game mầu hiện thực máu, xương nhất.
Họ sáng tác trong khoảng lặng giữa hai trận đánh.
Họ sáng tác trong mỗi lần dưỡng quân.
Họ viết, vẽ, làm nhạc trong giao thông hào, trên đường phố, trong quán xá mỗi lần dừng quân; trong bệnh viện, những khi đợi lành vết thương…
Bất cứ một nhà văn, nhà thơ hoặc, họa sĩ, nhạc sĩ nào, sinh trong khoảng thời gian 1940-1950 mà, sinh mạng họ bị thả nổi cho miểng bom, hòn đạn, cũng có thể là một tiêu biểu rực rỡ/ muộn phiền của thời kỳ văn học, nghệ thuật này”
2/ Thời mang tên, những nhà văn H.O.
Sau 30/4/1975, sau khi trả nợ tù 5, 10 năm, họ được người bạn đồng minh xưa, Hoa Kỳ, vì trách nhiệm và nhân đạo, chấp nhận cho họ sang định cư, nên nay, họ, lại là, có danh xưng mới, “ những người cầm bút H.O.”
Từ đó, đầu những năm 1990, văn chương VN lưu vong, trên toàn thế giới, có thêm một dòng văn học mới, văn chương của những cựu tù, gốc lính VNCH.
Hay nói một cách khác, từ đầu năm 1990, văn chương H.O. chiếm lĩnh tuyến đầu văn chương lưu vong.
Họ, viết, viết, viết, đêm ngày.
Họ, vận dụng trí nhớ về những ký ức, hồi ức, sắn khoai, bo bo.
Những đêm buốt giá Hoàng liên Sơn, những ngày cùm, gông Cổng trời, trừng giới.
Tới nay, số lượng tác giã H.O. lên tới hàng ngàn, tác phẩm lên tới, hàng trăm ngàn.
Làm nên một kho tàng văn chương lưu vong vô giá, lượng và chất.
Họ bây giờ là những U70, U80.
3/ Họ, những chiến sĩ văn chương thời hậu Cộng.
Ngày cáo chung của chế độ cộng sản, là một tất yếu của lịch sử.
Nên, thời sau cộng, hậu cộng, sẽ mở ra một mặt trận mới, mặt trận văn hóa.
Nên, cũng chính họ, những U80, 90, sẽ không đào ngũ, mà sẽ ghé vai gánh vác.
Kinh nghiệm chiến trường xưa, trước 1975+ kinh nghiệm tù cải tạo sau 1975 + kinh nghiệm lưu vong H.O. từ 1990, họ, những chiến sĩ, cây viết, dạn dày kinh nghiệm, bản lĩnh có thừa, gan lì có số má, với hàng trăm ngàn tác phẩm văn chương, sẽ cập bến Bạch đằng, cảng Cam ranh, Hải phòng, Đà nằng, sân bay Tân Sơn nhất, Nội Bài, Phú bài.
Theo sau là những hội sách, những đêm đọc thơ, mà bấy lâu nay, nhân dân ta, đói bụng, nghèo sách.
Họ, giờ là những U90, 100, bất sá.
Họ là ai?
Xin thưa, là những người cầm bút gốc lính Việt nam cộng hòa.
Mà, trên đôi vai : Tổ quốc/ danh dự/ trách nhiệm,
Chơi tới bến.
LML.
2/2025.















