Võ Phú ơi! Võ Phú nói cô chuyển đến quí vị đọc cho vui, cô đọc xong xúc động muốn chảy nước mắt chứ chẳng thể nào vui được. Xin mời quí vị cùng chia sẻ nỗi khốn cùng của người Mẹ, người vợ cùng toàn gia có con, có chồng phải đi tù cải tạo.
Thân mến – Hồng Thủy
==============
Kính gửi cô Hồng Thủy,
Con gửi đến cô một trích đoạn trong cuốn tiểu thuyết “Những Ngày Thơ Ấu” mà con đã viết cách đây hơn 20 năm . Con viết hơn 10 chương, nhưng chưa xong và tự nhiên cụt hứng, mấy hôm nay tình cờ tìm lại được, con định viết tiếp cho xong . Con gửi đến cô một trích đoạn . Xin nhờ cô chia sẻ cùng quý cô chú bác anh chị trong Văn Bút đọc cho vui .
Con, Phú
==============
Đi Thăm Nuôi Ba Ở Trại A30
Sắp đến kỳ thi học kỳ I, năm tôi học lớp 8A, cả lớp đều bận rộn ôn thi, không còn thời gian ra biển như trước nữa. Lần này, mẹ xin thầy cô cho tôi thi trước một tuần để kịp chuẩn bị cho chuyến đi. Vì vậy, tôi phải học nhiều hơn, chăm chỉ hơn so với các bạn trong lớp. Năm nay, gia đình tôi sẽ đón Tết xa nhà. Mẹ sẽ dẫn cả nhà đi thăm ba, hiện đang bị giam trong trại cải tạo A30. Hai năm một lần, mẹ dắt chúng tôi đi thăm ba, người đàn ông mà chúng tôi ít khi được gặp.
Ba tôi, trước khi đứa em út của tôi ra đời, là một người lính cầm súng bảo vệ đất nước. Mẹ thường tự hào kể lại về ba, về những ngày ông khoác lên mình bộ quân phục, chiến đấu bảo vệ lý tưởng và chính nghĩa. Nhưng sau khi miền Bắc chiếm miền Nam, ba tôi bị bắt đi cải tạo ở trại Đá Bàn, Khánh Hòa, rồi sau đó bị chuyển đến trại A30 ở Tuy Hòa, Phú Yên.
Mẹ kể rằng, bà nội của tôi đã rất đau khổ khi hay tin ba bị bắt. Bà khóc ngày khóc đêm, nỗi buồn như khiến bà mù cả mắt. Mặc dù bà đã bỏ ra không biết bao nhiêu tiền của dành dụm, nhưng cũng không thể chữa lành đôi mắt của mình. Cả gia đình đều mang trong mình nỗi đau không thể xoa dịu, nhưng mẹ vẫn cố gắng vững vàng, chăm sóc chúng tôi, và giữ gìn tình yêu thương, hy vọng vào một ngày ba sẽ trở về.
Khi một người mất đi người thân, có lẽ sự an ủi duy nhất chính là nhận ra rằng thế giới vẫn tiếp tục xoay chuyển, dù đau đớn và mất mát. Đôi mắt mù lòa của bà không còn nhìn thấy gì nữa, nhưng có lẽ trong những khoảnh khắc đó, không thấy gì lại là điều tốt nhất. Ba tôi là đứa con trai duy nhất trong gia đình, là niềm an ủi và hy vọng của bà, vậy mà giờ đây ba đã vào tù, để lại mẹ già, một người vợ và ba đứa con nhỏ. Tất cả mọi gánh nặng về chi phí sinh sống đều đổ lên đôi vai gầy yếu của mẹ.
Mẹ, từ một cô giáo trẻ, không phải lo nghĩ gì nhiều, giờ đây phải bươn chải để kiếm tiền nuôi gia đình và chăm sóc ba trong trại cải tạo. Khi ba vào tù, mẹ không chỉ mất đi chồng mà còn mất cả công việc dạy học. Mẹ trở nên bơ vơ, lạc lõng, không biết phải bám víu vào ai. Nhưng mẹ vẫn kiên cường, tựa như cây dương liễu vươn mình ra khỏi bão giông. Mẹ làm tất cả mọi việc để có thể nuôi nấng chúng tôi, để chúng tôi được lớn lên, khôn ngoan, có học hành. Mẹ không biết mệt, dường như bà là một cỗ máy không bao giờ dừng lại.
Mỗi sáng, mẹ dậy thật sớm, lúc mặt trời còn chưa mọc, để nấu bún mang ra biển bán cho những người dân chài. Hơn chín giờ sáng, mẹ lại gánh hàng về, lao vào bếp nấu cơm cho hơn ba mươi thầy cô giáo ăn. Một giờ chiều, mẹ lại gánh chè đi bán khắp nơi. Ba giờ chiều, mẹ trở về, chuẩn bị cơm chiều cho gia đình. Mẹ chỉ kịp ăn vội vàng rồi lại lao vào bếp để nấu bún bán cho buổi tối.
Thời điểm đó, tôi chỉ là một đứa trẻ, còn ham chơi, chẳng mấy khi hiểu được những vất vả của mẹ. Mỗi lần mẹ nhờ tôi làm một việc nhỏ, tôi lại viện lý do này, lý do nọ để tiếp tục rong chơi, mặc kệ mẹ đang quay cuồng với trăm công việc.
Những ngày cuối năm, khi tháng Chạp đã về, không khí Tết bao trùm khắp làng xóm. Mọi nhà đều rộn ràng chuẩn bị Tết, quét vôi lại nhà cửa, tô sơn đỏ cho cánh cửa, mái nhà được lợp lại bằng lớp tranh mới. Những mâm bánh mứt được phơi đầy trên vỉa hè, thơm lừng cả con đường. Không khí Tết thật sự đã đến, những ngôi nhà chẳng thiếu sắc xuân.
Các cô gái trong xóm tuy không học thức, nhưng lại rất khéo tay trong việc làm đồ thủ công. Những cánh hoa mai, hoa đào, hay lá non đều được làm từ ruột thân cây mì khô. Vào khoảng đầu tháng Chạp, sau khi thu hoạch củ mì, các cô gái trong xóm lại đi lượm thân cây mì về, phơi khô và cắt ra từng đoạn. Sau khi thân mì khô, họ dùng một chiếc đũa tre lớn để chọc vào lõi thân cây mì, lấy ruột ra, những sợi ruột mì trắng nõn, nhẹ như bông. Họ dùng chai thủy tinh cán dẹp những sợi ruột mì và cắt ra thành từng cánh nhỏ, rồi gắn thành hoa. Cánh hoa mai sẽ được nhuộm màu vàng, còn hoa đào sẽ nhuộm màu hồng phấn. Sau đó, các cô sẽ cắm tất cả những cánh hoa này lên một nhánh cây khô, vậy là nhà nào cũng có một cành mai, cành đào xinh xắn để chơi trong ba ngày Tết.
Những cánh hoa mì ấy tuy đơn giản, nhưng lại mang đậm hương vị Tết. Đó là những ký ức tôi không bao giờ quên về những ngày Tết nghèo, nhưng đầy ắp tình yêu thương và hy vọng.
Những ngày cận Tết, không khí trong nhà càng thêm bận rộn. Mẹ vẫn vất vả với những nồi bún, nồi chè, công việc chất chồng, nặng trĩu trên vai mẹ. Ngoài việc chăm sóc gia đình, lo cho nội, mẹ còn phải làm thêm việc để kiếm tiền mua gạo, thịt và thăm ba. Mẹ luôn động viên tôi: “Con cố gắng phụ mẹ một chút để mẹ kiếm thêm tiền, mua thêm gạo, thịt, chuẩn bị thăm ba. Năm nay nhà mình sẽ được đi thăm nuôi…”
Mỗi khi nghe mẹ nói vậy, tôi càng thương mẹ và càng quyết tâm giúp đỡ. Muốn được thăm ba, tôi không còn lang thang ngoài biển bắt còng, thả diều, hay kiếm chem chép như trước nữa. Ngày ngày, sau giờ học, tôi chỉ quanh quẩn trong xóm để phụ mẹ lo liệu mọi việc.
Ngày 23 tháng Chạp, là ngày đưa ông Táo về trời, cũng là ngày chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình thăm ba. Hôm đó trời mưa to, nước mưa đọng lại trên đường, loang lổ và nhầy nhụa bùn. Chúng tôi mặc áo mưa, đội nón, đi trong mưa như những con vịt lạc bầy, không biết đâu là điểm đến. Mẹ gánh giỏ đi trước dẫn đường, kế là anh Quốc, bà nội và thằng út Sơn. Tôi đi sau cùng, lúc nào cũng cố gắng đi thật nhanh để không bỏ lại mẹ và mọi người phía trước.
Mất hơn nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi mới đến ga xe lửa Lương Sơn. Ga nằm cạnh quốc lộ 1, một căn nhà xây bằng xi-măng, quét vôi vàng. Ga được chia thành hai khu vực: một bên dành cho phòng nhân viên hỏa xa và phòng bán vé, còn bên kia là nơi cho khách vãng lai.
Khi chúng tôi đến nơi, thấy có hơn chục người đang ngồi hoặc nằm ngả trên dãy ghế gắn vào tường, có người ngủ gật trên nền xi măng lạnh lẽo. Mẹ nhìn quanh rồi nói với chúng tôi:
– Ba đứa con và bà Nội lại đằng ghế kia tìm chỗ ngồi. Mẹ đi hỏi người ta chừng nào xe lửa Nam Bắc tới.
– Dạ…
– Dạ….
– Dạ…
Chúng tôi đồng thanh đáp lại, rồi anh Quốc vội vàng nắm tay dìu bà nội ngồi xuống chiếc ghế dài gần cửa ra vào. Bà nội, anh Quốc và thằng Út ngồi trên dãy ghế, cố gắng tìm chút hơi ấm trong cái không gian lạnh lẽo. Tôi đứng gần bậc tam cấp, mắt nhìn ra ngoài, nhìn những đoàn tàu lướt qua trên đường ray, lòng buồn bã và trống rỗng.
Mưa vẫn rơi không ngừng, mỗi lúc một nặng hạt hơn. Cơn mưa như trút hết nước từ trời xuống, táp vào cửa kính, vào những vách tường của ga xe lửa, tạo ra âm thanh rào rào như tiếng thở dài của những đám mây nặng trĩu. Cơn mưa mang theo hơi lạnh, khiến chúng tôi co ro, thu người lại như những con chuột ướt, cố gắng bảo vệ cơ thể khỏi cái lạnh se sắt.
Mẹ đã đi ra ngoài một lúc, và vài phút sau, bà trở lại. Bà nhìn chúng tôi rồi nói:
– Chắc mình phải chờ đến tối. Quốc, phụ mẹ cởi áo mưa cho nội. Con… Nam, giúp em…
– Dạ, dạ….
Chúng tôi ngồi đó, co ro trong cái lạnh, mắt dán vào đường ray, cố gắng tìm kiếm chút hy vọng khi xe lửa sắp đến. Tôi trèo lên chiếc ghế, nhón chân để có thể nhìn ra xa, háo hức chờ đợi bóng dáng chiếc tàu. Ở đằng xa, ánh đèn đường đỏ loét chớp nháy như một dấu hiệu mờ ảo của sự sống giữa đêm tối.
Mệt mỏi, tôi cuối cùng cũng ngồi xuống ghế, nhìn quanh sân ga. Trên trần, những bóng đèn tròn vàng vọt chiếu xuống, tạo nên một ánh sáng yếu ớt, mờ mịt. Cả không gian ấy vắng lặng và buồn tẻ. Một vài người đàn bà ngồi bệt xuống đất, dùng nón che mặt ngủ, những cái nón lớn che phủ gần hết khuôn mặt, chỉ còn lại đôi mắt lờ đờ. Một vài người đàn ông nằm dài trên dãy ghế gỗ, chăm chú đọc báo, nhưng cũng chẳng ai mấy cười nói. Một bé gái nhỏ tựa vào cha mẹ, ngáy khẽ, tiếng ngáy đều đều khiến không khí thêm phần tĩnh mịch. Tất cả đều mệt mỏi và im lặng.
Chỉ có gia đình tôi là vẫn còn thức. Thằng Út đã ngồi vào lòng bà nội, tìm kiếm chút hơi ấm. Mẹ giữ chặt hai chiếc giỏ mây lớn, không rời tay, ánh mắt mẹ nhìn xa xăm, như đang chờ đợi điều gì đó. Anh Quốc thì tựa người vào chiếc đòn gánh, nhắm mắt, mặt mệt mỏi. Cả bầu không khí sao mà tĩnh lặng, buồn bã đến lạ thường.
Tôi nhìn quanh thêm một hồi, rồi ngồi xuống, cố nhắm mắt để tìm chút giấc ngủ. Tiếng thở phì phò của những người xung quanh, tiếng nghiến răng, và tiếng ngáy rè rè của vài người làm cho không gian thêm phần thê lương. Mệt mỏi, tôi cũng không biết mình đã chìm vào giấc ngủ lúc nào.
Bất chợt, tôi giật mình thức giấc khi nghe tiếng còi tàu kêu inh ỏi từ đằng xa vọng lại. Cái tiếng còi dài và vang ấy cứ mỗi lần xe lửa gần tới ga lại kéo lên như một lời cảnh báo, như muốn đánh thức tất cả mọi người dậy. Tiếng còi ấy càng lúc càng gần, như là một dấu hiệu báo trước sự xuất hiện của chiếc tàu. Mẹ gọi chúng tôi:
– Tàu tới rồi, dậy đi các con. Nhanh lên tàu… Quốc, con dắt nội. Nam, con dắt em nhé.
– Dạ, dạ,…
Ánh sáng yếu ớt trong boong tàu chỉ vừa đủ cho chúng tôi tìm lối đi. Chúng tôi tìm thấy hai ghế trống cuối toa xe lửa. Một ghế để cho nội và thằng Út. Ghế còn lại, anh Quốc và tôi chia nhau, mỗi người một nửa. Mẹ ngồi bệt xuống sàn tàu. Mẹ cẩn thận, ôm hai cái giỏ mây đầy ắp thức ăn vào lòng. Tàu rời ga Lương Sơn theo hướng Bắc. Tôi không biết tàu ngưng lại bỏ khách và đón khách bao nhiêu lần. Tới một ga nọ, dọc theo lộ trình, tàu dừng lại và đón khách. Một người phụ nữ, lại gần bên mẹ con chúng tôi làm quen. Người phụ nữ vồn vã hỏi chuyện:
– Cô đi đâu mà đùm đề cả nhà lên xe lửa?
– Dạ, không dấu gì cô chúng tôi đưa cả nhà đi thăm nuôi…
– Úi trời, thăm nuôi à? Tui cũng đi ngã đó. Tui tên Nga. Cô tên chi?
– Dạ, tui tên Hằng…
– Vậy mình cùng lối… Trời ơi… tội nghiệp quá. Tui đi một mình, chị cần tui giúp gì không? Chứ một mình làm sao lên xuống?
Người phụ nữ đổi cách xưng hô.
– Dạ tui xin cám ơn cô trước. Nếu cô không ngại, mai sáng xuống xe, nhờ cô dắt giùm mấy đứa nhỏ bà bà nội nó xuống.
– Dạ, chị yên tâm. Tui thấy chị tui thương lắm. Chuyện nhỏ mà, có gì đâu mà ơn với nghĩa.
Trời mờ sáng, mọi người nhốn nháo khi nghe người lái tàu nói ra từ loa phóng thanh. “Xin quý khách chú ý, kiểm tra lại hành lý, tàu sẽ tới ga Tuy Hòa …”
Một hồi còi tàu vang lên inh ỏi, đánh thức tất cả mọi hành khách. Mẹ dặn chúng tôi:
– Quốc, cẩn thận nhé. Con xuống trước giúp em nha. Nam, con đi theo cô Nga giúp Nội, xuống xe…
Người đàn bà tên Nga đến gần mẹ tôi và nói:
– Chị cứ yên tâm…
Miệng thì nói vậy, nhưng mắt bà ta cứ nhìn chầm vào hai cái giỏ đầy mà mẹ ôm khư khư trong lòng. Người đàn bà, nhìn mẹ rồi nói:
– Thôi chị đưa tui phụ giúp chị một giỏ. Chị yên tâm đi, xuống tàu tui trao lại.
Mẹ ngần ngừ một chút, rồi trao một trong hai chiếc giỏ mây cho người đàn bà đang đứng cạnh. Tôi cảm nhận sự lo lắng trong ánh mắt mẹ, nhưng không nói gì. Trên tàu, cảnh tượng thật hỗn loạn. Mọi người chen lấn, xô đẩy nhau để tìm lối ra. Tiếng chửi thề, tiếng kêu gọi, tiếng rao của những đứa trẻ bán hàng rong vang vọng khắp nơi, tạo thành một âm thanh ồn ào như buổi chợ phiên. Cảnh tượng ấy khiến tôi cảm thấy như mình đang lạc vào một thế giới khác, nơi không có gì ngoài sự hỗn độn và xô bồ.
Tôi cố gắng chen vào đám đông, dồn sức để tìm lối mở đường. Một tay tôi đẩy người này, kéo người kia, tay kia thì túm lấy bà nội, kéo bà qua lối hành lang tàu hẹp. Cảm giác chen lấn ấy thật mệt mỏi, nhưng tôi không dám bỏ cuộc. Sau một hồi vật lộn giữa dòng người, cuối cùng, tôi cũng dắt được bà nội xuống tàu một cách an toàn.
Ra khỏi đám đông, tôi dắt nội đến một góc tàu vắng vẻ, nơi không còn ai xô đẩy nữa. Tôi nhìn quanh tìm mẹ và anh Quốc. Cách tôi không xa, mẹ và anh Quốc đang đứng đợi ở một bên, ánh mắt của anh Quốc tìm kiếm tôi giữa đám người. Anh gọi tôi thật lớn:
– Nam…. Nam… cả nhà ở đây nè. Mau lại đây.
Tôi dắt nội tới cạnh gia đình và đứng đấy, thở. Tôi đưa tay lên trán vệt những giọt mồ hôi đổ xuống mắt cay xè. Mẹ hỏi tôi:
– Con và nội đây, còn cô Nga đâu?
– Dạ con không biết. Mẹ vừa đi rồi, thì cô ấy cũng đi theo mẹ. Con dắt nội chen một hồi lạc mất mọi người.
– Các con đứng ở đây chờ mẹ, nếu các con thấy cô ấy thì giữ lại đây. Mẹ đi tìm cô Nga một chút rồi quay lại.
Mẹ bỏ nội và chúng tôi ở lại đấy và đi tìm người đàn bà tên Nga. Gặp người nào, mẹ cũng hỏi.
Một lúc lâu, mẹ trở lại, mặt mày bơ phờ, tóc tai rũ rượi. Mẹ ngồi bệt xuống đất, thở ra. Mẹ nói như người mất hồn:
– Thôi, mất … Mất sạch rồi. Cả gia tài thăm nuôi nằm trong đó. Trời ơi, quân khốn nạn…. Quân ác ôn….
Anh Quốc đưa mắt nhìn tôi, ngụ ý bảo tôi im lặng. Thằng Út, bước tới bên mẹ, nắm lấy tay mẹ lắc và nói:
– Mẹ ơi, con đói bụng quá…
– Ăn…. Ăn cái gì mà ăn… mất sạch rồi còn gì mà ăn nữa….
Thằng Út không hiểu chuyện, bật khóc lớn. Mẹ kéo thằng Út vào lòng, vuốt tóc nó, dỗ:
– Thôi nín đi con. Mẹ xin lỗi con… Mẹ biết con đói … Chờ mẹ tí xem còn gì ăn không?
Mẹ lôi cái giỏ mây còn lại và tháo đường chỉ khâu ở miệng giỏ. Mẹ lấy ra một lon gi-gô lớn, bên trong là cơm nguội. Anh Quốc, thằng Út, và tôi đều nhìn chầm vào gô cơm. Chúng tôi đói từ đêm qua tới giờ mà không dám hỏi. Mẹ nhìn chúng tôi và nói:
– Mình chỉ còn cơm, gạo, và bún khô. Mấy hũ thịt, cá kho, muối mè, đường, mắm, đều ở bên cái giỏ kia. Trời ơi….
Mẹ phủi tay vào hai bên quần, bốc một nắm cơm và bóp chặt lại, đưa cho thằng Út, mẹ nói:
– Con ăn đỡ nắm cơm này đi, rồi tí nữa vô chợ mẹ mua thêm tí cá, tí canh cho con. Thằng Quốc, thằng Nam, lấy cơm ăn nè.
Mẹ bốc một cục cơm đưa lên miệng nội và nói thật lớn vào tai nội:
– Mời mẹ ăn cơm.
Bà nội nhai tròm trèm miếng cơm mẹ đút xong, rồi khẽ hỏi:
-Bây có chi mằn mặn cho tao ăn không? Lạt quá khó nuốt…
Mẹ nhìn bà, mắt đỏ hoe, và nước mắt bất chợt tuôn rơi. Mẹ không nói gì, chỉ nhẹ nhàng kê miệng vào tai bà nội, thì thầm:
– Mẹ ăn đỡ chút cơm lạt đi, chút nữa con vô chợ mua cho mẹ ít thịt, cá…
Anh Quốc, bưng tô cơm, đưa về phía mẹ, giọng anh đầy lo lắng:
– Mẹ cũng ăn một miếng đi, hồi tối giờ mẹ chưa ăn gì hết.
Mẹ nhìn anh, lắc đầu nhẹ:
– Các con và nội ăn đi. Mẹ không đói…
Mẹ nói vậy, nhưng tôi thấy mắt mẹ không khỏi chực trào nước mắt. Dường như, dù bụng mẹ có cồn cào, mẹ vẫn không muốn ăn, chỉ muốn chăm lo cho gia đình, cho chúng tôi.
Chúng tôi ăn hết gô cơm chỉ trong một lúc, miếng cơm trắng đối với chúng tôi lúc đó quý giá vô cùng. Cơm trắng là món mà gia đình chúng tôi hiếm khi có được. Lúc còn ở nhà, chúng tôi chỉ ăn cơm độn bắp, khoai mì, và những củ mì Ba Tư, mì Ấn Độ, to bằng cánh tay, vỏ mì được để nguyên rồi phơi khô, sau đó đem đi xay vụn trộn với bắp và ít gạo mốc. Đó là nguồn lương thực chính của gia đình chúng tôi. Chỉ khi có dịp đi thăm ba, như hôm nay, chúng tôi mới được ăn cơm trắng. Mặc dù cơm trắng không có mắm, muối gì, nhưng với chúng tôi, đó là một bữa ăn tuyệt vời, không khác gì sơn hào hải vị.
Ăn xong, mẹ dắt cả nhà vào chợ Tuy Hòa. Chúng tôi, năm người, chen chúc dắt tay nhau, đi qua các sạp hàng tìm mua mắm muối để mang đi thăm nuôi ba. Mẹ đã dành dụm suốt hai năm trời, nhưng đến khi chúng tôi vừa tới ga Tuy Hòa, gần như tất cả đã cạn kiệt theo người đàn bà tên Nga. Trong túi mẹ lúc này chỉ còn vài ngàn đồng. Không biết với số tiền ít ỏi này, chúng tôi sẽ còn phải đi đâu, làm sao để có thể tiếp tục.
Mẹ vào chợ mua một ít mắm, muối, đường tán, ớt khô, và cả thuốc rê — những thứ bà định mang theo để thăm ba. Mẹ cẩn thận bỏ hết vào giỏ, rồi dắt chúng tôi ra một quán cơm gần đó. Mẹ mua một tô canh khổ qua, một dĩa cá cơm, và mở giỏ lấy cơm ra cho cả nhà ăn. Bữa cơm ấy, đối với chúng tôi, ngon đến kỳ lạ. Tôi tự nhủ rằng, nó còn ngon hơn bất cứ món ăn xa hoa nào mà vua chúa thời xưa được thưởng thức trong những câu chuyện cổ tích tôi từng nghe.
Ăn xong, chúng tôi ra bến xe thồ, và cả nhà chiếm gần nửa chuyến xe. Xe thồ chở chúng tôi vượt qua những con dốc, những đồi núi cheo leo, đến một trạm ở khu vực hẻo lánh gần trại cải tạo A30. Đến nơi, chúng tôi rời khỏi xe và tiếp tục đi bộ suốt hơn nửa ngày trời, vượt qua những con đường đất đỏ, cỏ dại, cho đến khi nhìn thấy cổng trại A30.
Trại A30 là một khu cải tạo lao động, nơi những tù nhân phải làm ruộng lúa và hoa màu phụ từ sáng sớm đến tối mịt mới được nghỉ ngơi. Câu châm ngôn quen thuộc mà những người quản trại thường xuyên nhắc nhở tù nhân là: “Lao động là vinh quang.” Bên trong trại, cảnh vật thô sơ, những người tù bị giám sát chặt chẽ, nhưng trong tâm trí tôi lúc này, chỉ có một điều duy nhất là mong mỏi được gặp ba, dù chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.
Sau một hồi hỏi thăm và trao đổi quà cáp cho quản giáo trại, cuối cùng gia đình chúng tôi được dẫn vào một khu vực chờ đợi. Không khí nơi đây yên tĩnh và lặng lẽ, chỉ có tiếng gió rít qua những cánh cửa sắt của trại. Trong lúc ngồi đợi, tôi lắng nghe những câu chuyện rời rạc từ các quản giáo và tù nhân, và từ đó, tôi biết được ba tôi đang lao động cải tạo ở trên rừng, trong đội làm rừng. Đội này chuyên vào rừng đốn củi cho nhà bếp của trại, và chặt tre để làm thúng, nia.
Sau này, qua những người bạn tù của ba kể lại, tôi mới biết rằng những ai làm việc trong rừng thường có phần dễ chịu hơn so với những đội làm công việc đồng án. Bởi họ có thể kiếm thêm chút thức ăn trong những lần đi đốn củi. Thỉnh thoảng, họ có thể bắt được vài con chuột, con rắn, thậm chí là bò cạp, hoặc kiếm được trái chuối, trái sung trong rừng để lót dạ khi đói. Những điều đó làm tôi vừa xót xa, vừa cảm thấy một niềm hy vọng nho nhỏ, rằng ít ra ba tôi cũng có những lúc không phải hoàn toàn chịu đói.
Chúng tôi ngồi chờ trong khu vực thăm nuôi đến khi trời chạng vạng tối. Khi bóng tối đã bắt đầu bao trùm, người quản giáo bước ra và dẫn một người đàn ông ốm tong teo, râu tóc bờm xờm, dáng đi run rẩy đến trước mặt mẹ tôi. Ông ta đứng đó, nhìn chúng tôi một lúc, rồi chậm rãi nói:
– Cấp trên cho phép anh, chị được thăm nuôi một tuần lễ A873 được nghỉ ngơi ba ngày, sau đó phụ việc đồng áng trong những ngày còn lại. Hết thời gian thăm nuôi, sẽ trở lại công việc cũ.
– Xin cám ơn chú…
– Cám ơn quản giáo…
Người quản giáo bỏ đi vào trong. Để lại người đàn ông mặc đồ rách mướp, vá chằng vá chịt, ốm tong teo, tóc tai bờm xờm. Đó là ba tôi sao?
Ông tới bên gia đình chúng tôi, ôm lấy nội tôi rồi kê vào tai bà, nói:
– Con đây, mẹ! Mẹ đi đường mệt không?
– Thằng Một đây sao? Bây làm chi mà ốm vậy?
– Dạ, con… Một đây…
Ba tôi quay qua mẹ con chúng tôi và nói:
– Thôi mình về trại … Út Sơn ơi, lại đây ba cõng đồng đồng nhé?
Thằng Út đưa mắt nhìn ba và chạy vòng ra sau lưng mẹ. Nó ôm lấy chân mẹ và lắc đầu. Mẹ ngồi xuống bên thằng Út và nói:
– Ba con đó, lại chào ba đi con. Quốc, Nam, lại chào ba…
Anh Quốc và tôi tới trước ba, vòng tay lại, cúi đầu xuống và nói:
– Con chào ba….
– Con chào ba….
Ba tôi cõng thằng út Sơn trên vai, chúng tôi cùng nhau lầm lũi đi về trại. Thằng út lúc đầu nhất định không chịu để ba tôi đụng vào người, nhưng mẹ phải vừa dỗ ngọt vừa hăm dọa, nó mới chịu leo lên lưng ba cõng.
Đêm nay, trời trong xanh, vầng trăng sáng rõ in lên con đường đất, chiếu sáng những chiếc bóng của chúng tôi, sáu người di chuyển trong đêm tối. Chúng tôi lội qua một con suối nhỏ, vượt qua một chiếc cầu bắc qua dòng nước, rồi tiếp tục bước đi thêm một đoạn nữa. Sau một lúc, chúng tôi tới một căn chòi tranh nhỏ, dựng vội vã cạnh gốc cây. Đây là một khu vực cách xa khu nhà lớn của trại cải tạo, nơi mà tù nhân và người thân có thể tạm nghỉ ngơi. Tất cả tù nhân đều phải ngủ trong một gian nhà lớn, nơi mỗi người nằm trên một cái giường chồng nhỏ xíu, làm từ những thanh cây mà họ tự tay dựng lên.
Cách khu nhà lớn không xa, có vài căn chòi nhỏ dành cho những người thân đến thăm nuôi từ xa. Chòi tranh đơn sơ, bên trong chỉ có hai chiếc giường lót bằng cây bông lau, một chiếc bàn nhỏ và vài chiếc ghế đơn giản. Ba tôi đặt thằng út xuống chiếc giường, rồi quay sang dắt bà nội vào bên trong, nói với bà một cách nhẹ nhàng:
– Mình tới nơi rồi, mẹ nghỉ đi…
– Thằng Một đâu, con?
– Dạ con đây… Mẹ nghỉ đi cho khoẻ…
Mẹ tôi lôi trong giỏ ra những thứ lỉnh kỉnh đi thăm nuôi, đặt lên bàn. Ba hỏi:
– Ở nhà mẹ con em ra sao? Cực khổ lắm phải không?
– Dạ …
Mẹ khóc!
– Đây, em có mua ít thuốc rê và giấy cho anh. Anh đem qua cho những người bạn dùng lấy thảo.
Ba nhìn xuống bàn, những vật dụng bày ra…
Một bao gạo, ít lọn bún khô, vài con khô, ít muối, ớt khô, tiêu, tỏi…
Ba hỏi:
– Lần này em không kho cho anh ít thịt?
Mẹ vừa mếu vừa nói:
– Em bị họ lừa lấy sạch rồi. Cả một giỏ đồ ăn, cái áo ấm, và ít tiền trong túi áo em để dành cho anh đã bị quân khốn nạn lấy trộm rồi…
– Vậy, em còn tiền không? Cho anh ít mua thuốc uống. Lúc này anh bị sốt rét rừng chịu không nỗi….
Mẹ móc trong ngực ra một nắm tiền, trao hết cho ba, mẹ nói:
– Em chỉ còn bấy nhiêu, anh lấy mà mua thuốc.
– Thế còn em?
– Mẹ, em và các con sẽ tính sau.
Ba cầm nắm tiền, lấy mấy tờ, rồi đưa lại cho mẹ. Ba nói:
– Anh lấy đủ mua thuốc sốt rét. Số còn lại, em giữ lấy còn mua vé tàu về nữa.
Mẹ cầm lấy bỏ vào ngực áo.
Chúng tôi vừa đặt lưng xuống giường là ngủ không biết trời trăng gì cả. Có lẽ hai ngày đường mệt mỏi, nên ngủ thật ngon.
Khi tôi thức dậy, chỉ thấy một mình bà nội ngồi trên giường. Tôi chạy đi tìm ba, mẹ, anh Quốc và thằng Út.
Ra khỏi căn chòi lá, tôi thấy thằng Út đang trèo đu đưa trên gốc mít, cạnh căn chòi. Nó líu lo hát: “Trèo lên cây mít, đưa mông đít cho kiến nó thui… úi dà… úi dà ….”
Tôi hỏi:
– Ê, cu Sơn… Ba, mẹ, và anh Quốc đi đâu rồi?
– Đi thăm bạn tù gì đó từ sớm hết rồi.
– Sao mày không đi?
– Em không muốn đi theo ông râu ria ở dơ đó.
– Út, em không được nói vậy, mẹ nghe đánh chết. Ba mà mày dám nói ông râu ria ở dơ…
– Ổng hôi rình à, chắc là không tắm lâu rồi. Em ở nhà chơi sướng hơn. À, anh Nam nè … Anh trèo lên đây em chỉ cho cái này hay lắm…
– Cái gì trên đó mà hay? Trèo xuống chứ kiến lửa nó đốt cho phù mỏ.
– Anh trèo lên đây đi, em chỉ cho. Trên này mới thấy được.
Tôi trèo lên gốc mít, cạnh thằng út Sơn. Nhìn theo hướng tay nó chỉ. Tôi thấy bên dưới xa xa là một hồ cá. Dưới hồ cá có vài con cá vàng bơi lội. Tôi nói với thằng Út:
– Cái hồ cá đẹp quá! Toàn là cá vàng không. Tao nghĩ chắc là cá ba đuôi. Tao với mày đi xuống dưới đó coi thử nha?
– Em không dám. Mẹ dặn em chỉ chơi vòng vòng đây thôi, ra xa có chó sói. Em sợ lắm.
– Tao hỏi mày có đi không?
– Anh đi mình đi, em sợ!
– Mày không đi thì đừng hối hận nhé…
Nghĩ sao, nó nói:
– Mình đi gần thôi nha anh Nam. Đừng đi xa nha…. Xuống coi rồi về nhé ?
– Ừa, đi coi thôi….
Hai anh em chúng tôi mon men theo con đường nhỏ dẫn xuống ao nuôi cá. Chúng tôi chưa kịp tới gần, một tiếng còi tu huýt thổi. Chúng tôi giật mình dừng lại, quay lại nhìn. Một chú quản giáo mặc bộ đồ màu cứt ngựa, chạy tới hỏi:
– Hai thằng này, mày đi đâu xuống đây?
Tôi đưa tay chỉ lên căn chòi lá phía trên đồi và nói:
– Dạ, tụi cháu thăm nuôi ba trên kia. Thấy cá đẹp quá, xuống coi thử.
– Về… Trở về trên trại mau. Cá của quản giáo Dạn nuôi. Mày mà lớ ngớ ổng bợt tai nha con. Mau lên lại trại…
– Đó, em nói không được đi mà anh đòi lại gần…
– Thôi im đi… Mình về!
Chúng tôi trở về căn chòi lá và chơi trò đua trâu. Trò chơi này, anh Quốc chỉ cho tôi lúc trước. Để chơi trò này, mỗi đứa hái một lá mít, xé hai bên đường gân trên đầu làm sừng trâu. Lấy một cọng chỉ hoặc cước, cột trên đầu cuốn lá và luồn ra phía sau. Sau đó, cuộn phần cuối thân lá lại làm mình trâu. Xong, dùng tay kéo sợi dây cho phần đầu và sừng lên xuống. Kéo cho thật đều tay. Nếu ai kéo mà lỡ gãy đầu thì coi như thua.
Ba, Mẹ và anh Quốc về đến căn chòi tranh mang theo rất nhiều món quà cho chúng tôi. Ba nói đó là những món đồ mà các bạn tù làm trong lúc rảnh rỗi. Mỗi khi có thân nhân lên thăm nuôi, họ thường gửi lại những món quà như thế để tặng cho gia đình. Những món đồ thủ công này đẹp mắt, được làm từ gỗ, từ tre, thậm chí là từ những lon sữa bò cũ mà các tù nhân khéo léo chế tác thành những món quà độc đáo. Mẹ cũng nhận được một chiếc lược làm bằng sừng trâu, trên đó khắc tên ba và mẹ, món quà nhỏ nhưng đầy ý nghĩa mà ba dành tặng cho mẹ.
Tôi thích nhất là con lật đật, một món đồ chơi được làm từ tre. Nó có hình dáng một con khỉ, mỗi khi chúng tôi bóp nhẹ hai cành tre lại với nhau, con khỉ lại nhảy lên nhảy xuống trông rất buồn cười. Anh em chúng tôi thích thú với trò chơi này, và nó trở thành món quà yêu thích nhất của chúng tôi trong những lần thăm nuôi. Ban đầu, ba gọi nó là “con khỉ gánh xiếc”, nhưng trong một chuyến thăm trước, vì vội vàng xuống xe lửa lúc mười hai giờ đêm, mẹ đã để quên túi xách chứa mấy con khỉ gánh xiếc trên xe. Từ đó, chúng tôi gọi nó là “con lật đật”, và nó trở thành món đồ chơi gắn liền với những kỷ niệm thời thơ ấu của chúng tôi.
Ngày thứ hai, anh em chúng tôi được các chú, các bác, bạn tù của ba dẫn vào rừng đốn củi. Trong rừng, chúng tôi được thưởng thức những quả xay chua chua như dấm, những quả chùm bao vừa chua vừa ngọt, những thứ mà chúng tôi chưa từng thấy bao giờ. Những điều giản dị ấy làm chúng tôi cảm thấy vui vẻ, và nhờ những chú, bác, chúng tôi học được nhiều bài hát dân gian, những bài hát mà lúc đó tôi nghe mà cảm thấy rất thân thuộc, như một phần của đời sống nơi đây.
Khi đoàn người vác củi trở về từ rừng, chúng tôi chạy theo sau, những tiếng hát vui vẻ, rộn rã của các chú bác vang lên trong không gian yên bình của rừng núi. Cảm giác ấy thật khó quên, một ngày đi vào rừng không chỉ là cơ hội để giúp ba và các bác làm việc, mà còn là dịp để chúng tôi học hỏi, trưởng thành, và có những ký ức đẹp đẽ với ba và gia đình trong hoàn cảnh khó khăn này.
Các chú các bác, bạn tù của ba, dạy chúng tôi rất nhiều bài hát và bài vè lắm, nhưng tôi chẳng nhớ được bài nào, ngoại trừ một bài nó có giai điệu như thế này: “Đêm nay bác không ngủ. Vì một miếng đu đủ. Để ở trên đầu tủ. Chờ đồng bào ngủ hết. Bác ngồi dậy, bác lấy bác ăn….”
Chúng tôi líu lo hát ca như đàn chim nhỏ, mang lại cho toàn trại cải tạo một sức sống mới. Dù chú quản giáo Dạn có khó tính đến đâu cũng phì cười với chúng tôi.
Những ngày thăm nuôi rồi cũng trôi qua nhanh chóng. Chúng tôi, lục đục thu xếp đồ đạc để chuẩn bị rời khỏi trại cải tạo A30 và trở về miền Nam. Hôm chia tay, nỗi tiếc nuối dâng lên trong lòng khi những ngày ở bên ba, bên các chú bác trong trại ngắn ngủi và trôi qua quá nhanh. Tôi ước gì mình có thể ở lại lâu hơn, được bên ba thêm một chút nữa.
Ngày chia tay, chúng tôi bịn rịn, không nỡ rời xa nhau, hứa hẹn sẽ gặp lại vào một ngày gần nhất. Mẹ dặn ba giữ gìn sức khỏe, phấn đấu kiên cường để sống, để có thể trở về đoàn tụ cùng gia đình. Ba vội quay lưng đi, không giấu nổi những giọt nước mắt đang trực trào ra. Trong khoảnh khắc đó, thằng Út Sơn cuối cùng cũng chịu hôn lên má ba, tạm biệt ba bằng một cái hôn ngọt ngào, dù trước đó nó vẫn không chịu gần ba.
Rời khỏi cổng trại A30, chúng tôi lại tiếp tục hành trình trở về. Đi bộ hơn nửa ngày đường, lội qua suối, trèo qua những đồi núi, cuối cùng chúng tôi cũng đến được trạm xe thồ. Khi tới nơi, đã xế trưa. Trạm xe thồ vắng lặng, không một bóng người. Chúng tôi ngồi đợi, nhìn nhau trong im lặng, chờ đợi chuyến xe xuống núi. Thời gian trôi qua, nhưng vẫn không thấy ai qua lại. Mãi đến tối mịt, vẫn không có dấu hiệu của chiếc xe nào. Lúc ấy, mẹ chợt ngớ người ra, rồi nhớ ra một điều quan trọng: hôm nay chính là mùng Ba Tết.
Tết năm nay, chúng tôi đón ở một nơi hẻo lánh, giữa không gian vắng lặng của trạm xe thồ. Không có bánh chưng, không có những tiếng cười đùa, không có không khí Tết như ở nhà. Tất cả chỉ còn là một cảm giác xa xăm, cô quạnh, và những kỷ niệm đau lòng về một mùa Tết đặc biệt mà chúng tôi phải đón ở một nơi xa lạ, nơi mà mọi người đều đã về đoàn tụ cùng gia đình, chỉ còn lại chúng tôi – những người thân yêu vẫn phải tiếp tục chiến đấu cho cuộc sống phía trước.
Mẹ quyết định mon theo con đường mòn lội bộ xuống thị xã Tuy Hòa. Vì nếu có ở lại trạm xe thồ này cũng chẳng có xe để trở xuống. Mẹ lấy cơm ra cho Nội và chúng tôi ăn trước khi bắt đầu cuộc hành trình mới.
Ăn uống xong, gia đình ba thế hệ chúng tôi tiếp tục dò đường đi trong đêm. Mẹ dùng sợi dây chuối khô cột chúng tôi lại thành một hàng dọc như một đoàn tàu mà đi. Mẹ đi trước dẫn đường. Kế đến là Nội, anh Quốc, út Sơn. Tôi là người cuối cùng của đoàn tàu năm người ấy.
Đêm nay, vầng trăng lưỡi liềm treo lơ lửng trên cao làm bạn đường soi sáng cho chúng tôi đỡ vấp ngã. Ánh trăng sáng, in rõ năm chiếc bóng xuống dưới mặt đường. Chúng tôi dẫm chân lên chiếc bóng của mình trong đêm. Đi được vài tiếng, út Sơn gọi mẹ:
– Mẹ ơi, con khát nước, mình nghỉ tí nha mẹ?
– Ừa, cũng được.
Chúng tôi dừng chân nghỉ uống nước ven đường. Đúng lúc đấy, từ trong rừng, tiếng ầm ầm và vệt sáng rọi qua đi về hướng chúng tôi. Mẹ tôi thở phào nói:
– Lạy Trời…. Lạy Phật, có xe đi qua…
Đó là một chiếc xe reo chở gỗ lậu từ trong rừng đi ra. Mẹ ra đứng giữa đường, dùng nón quẫy, lấy làm tín hiệu. Người tài xế dừng xe lại và chửi đổng:
– Đ ..M….Bộ bà không muốn sống nữa hay sao mà đứng giữa đường chận xe?
– Dạ, xin lỗi anh… Chúng tôi đi thăm nuôi từ trại A30 xuống. Nhưng chờ từ sáng tới giờ không có một chiếc xe thồ nào về thị xã, chúng tôi đi bộ tới đây thì mệt quá. Mong anh thương xót chở giúp gia đình chúng tôi về thị xã Tuy Hòa. Chúng tôi đội ơn anh…
Mẹ vừa phân trần, vừa gọi chúng tôi lại:
– Các con lại cầu xin bác chở giúp một đoạn đường đi các con.
Chúng tôi đứa khóc, đứa mếu, mong người tài xế chuyến xe reo ấy thương xót mà cho quá giang một đoạn. Người tài xế, nhìn chúng tôi, rồi nhìn qua người phụ lái nói:
– Trực, giờ tính sao?
– Thì anh cứ chở họ làm phước ba ngày Tết, chứ tính sao giờ.
– Dạ mẹ con em đội ơn các anh…
Người tài xế nói:
– Thôi được rồi, coi như tui làm phước. Nhưng xe không đủ chỗ ngồi. Chị nhắm đu phía sau xe được không? Nếu không….
– Dạ được, cám ơn anh…
Mẹ nói nhanh, dường như sợ rằng người tài xế sẽ đổi ý. Bà nội, ba anh em chúng tôi chia nhau căn cabin xe, ngồi sát nhau, cố gắng giữ thăng bằng trên những chiếc ghế gỗ cứng nhắc. Bác tài xế là người tốt bụng, dù chiếc xe chở đầy hàng hóa, nhưng ông vẫn tìm cách cho chúng tôi ngồi thoải mái nhất có thể. Mẹ và chú phụ xe, anh Trực, thì phải trèo lên phần sau xe, bám vào những khúc cây cổ thụ, cố gắng giữ vững chỗ đứng trong suốt chặng đường dài.
Chiếc xe bắt đầu lăn bánh, nhẹ nhàng vươn lên những con đường đèo dốc, uốn quanh các sườn núi. Dưới ánh đèn xe, bóng tối của miền quê hẻo lánh như bao trùm lấy chúng tôi. Mặc dù không phải là cách di chuyển lý tưởng, nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm thấy một sự an toàn lạ thường, như thể chiếc xe ấy chính là chiếc bè cứu sinh của chúng tôi, đưa chúng tôi vượt qua sóng gió, mưa bão, về lại nơi an toàn.
Xe chạy suốt đêm, băng qua những đoạn đường trống vắng, đôi khi chỉ có tiếng động của động cơ và những lời thủ thỉ giữa mẹ và chú Trực. Đến khi mặt trời bắt đầu ló dạng, chúng tôi mới về đến chợ thị xã Tuy Hòa, nhưng lúc đó đã là giữa đêm. Cả gia đình tôi mệt mỏi, nhưng lòng vẫn nhẹ nhõm vì đã vượt qua được chặng đường nguy hiểm.
Chúng tôi không thể tìm được một chỗ nghỉ ngơi trong lúc ấy, và cũng không muốn làm phiền ai. Cuối cùng, mẹ dẫn chúng tôi đến một gian sạp bán đồ tạp hóa ngay trong chợ, nơi mấy người bán hàng đang thu dọn đồ đạc sau một ngày buôn bán. Cả gia đình nằm lại trên những chiếc sập gỗ kê tạm, nơi mà mùi gỗ cũ, mùi mỡ từ các món ăn đêm xộc vào mũi, nhưng tất cả đều không quan trọng, vì chúng tôi đã tìm được một nơi để nghỉ ngơi. Cả nhà trải chiếu lên mặt đất, cuộn tròn lại và ngủ một giấc ngắn cho qua đêm.
Mẹ vẫn luôn kể lại câu chuyện ấy cho chúng tôi nghe mỗi khi gia đình có dịp ngồi lại bên nhau. Những lần ấy, mẹ thường kể một cách chậm rãi, như thể muốn níu kéo lại những kỷ niệm khó quên đó. Câu chuyện không chỉ là về sự giúp đỡ của bác tài xế tốt bụng, mà còn là một lời nhắc nhở về tình yêu thương, sự hy sinh của cả gia đình. Sau khi kể xong, mẹ hay nhìn chúng tôi và hỏi với giọng đầy trầm tư: — Nếu đêm đó không có bác tài xế tốt bụng, không biết bà nội và gia đình chúng ta sẽ ra sao?
Câu hỏi ấy không chỉ là một lời kể lại đơn thuần. Mẹ hỏi như một cách để nhấn mạnh về lòng tốt của người khác, về tình thương mà đôi khi ta nhận được bất ngờ trong những hoàn cảnh khó khăn. Đó cũng là một bài học mà mẹ muốn chúng tôi khắc ghi: trong cuộc sống, giữa biết bao khó khăn, có thể sẽ luôn có những người tốt, những vòng tay sẵn sàng giúp đỡ khi ta không ngờ tới.
Chúng tôi đều im lặng, mỗi người chìm vào suy nghĩ của riêng mình. Những đêm dài thức dậy từ những nỗi lo lắng và mệt mỏi, dần dần biến thành ký ức ấm áp, về những người đã giúp đỡ, về những chuyến đi tưởng chừng như vô vọng nhưng lại chứa đầy tình người.
Ngày hôm sau, khi mặt trời lên, chúng tôi dậy sớm, chuẩn bị lên đường tiếp tục hành trình. Cái sạp tạp hóa là nơi tạm trú, một điểm dừng chân trong ký ức của chúng tôi – một điểm dừng không quá dài, nhưng lại đầy ắp tình cảm, những lời mẹ dặn dò, và cả những đêm không ngủ, cùng nhau vượt qua thử thách.
















