Về Nhà Thơ Từ Thế Mộng – Văn Thi Sĩ Lê Mai Lĩnh & Lãm Thúy

Lời giáo đầu.

Cách nay hơn 17 năm, tôi vô cùng sung sướng, khi được nhà thơ Từ thế Mộng chửi : Đ. M. Mày là thằng bạn tốt nhất của tao.

Khi tôi tặng anh $300.00, đủ để in hai tập thơ, mà Lời Ca Cỏ Non, là một.

Tôi biết anh do nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn giới thiệu.

Anh lính chính quy, sư đoàn, lâu lâu mới về phép.

Mỗi lần như thế, nhà anh là một đàm trường văn nghệ, là nơi hội tụ

Những tay viết sừng sỏ tỉnh lẽ :

Nguyễn Bắc Sơn, Nguyền dương Quang, Nguyễn như Mây, Thái phi Kích, Tạ chí đại Trường, Phan anh Dũng, Mai Việt, Minh Ngọc, Kim Hạnh, Bích Thu…

Những buổi như thế, ca hát, đọc thơ không thể thiếu.

Nếu nhà thơ Quan Dương chấm, Cao đông Khánh, Lê mai Lĩnh, là hai nhà thơ đọc thơ hay nhất hãi ngoại, thì so với Từ thế Mộng, chỉ là tép, mà anh, là tôm hùm, lobster.

Chuốc vào cho anh vài xị nước mắt quê hương, thì Cao bá Quát, Tú Xương, Tản Đà, Văn Cao, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Trần Dần, liệu mà biến.

Lúc đó, ông đại úy tiểu đoàn trưởng Nguyễn đình Tư, là chúa tể của muôn loài văn chương.

Năm 1992, biết mình sắp xa, lưu đày, tôi làm một quy cố hương, về Quảng trị.

Trên đường trở lại, tôi ghé Huế thăm bên bà xã, nhân tiện ghé 26 Lê Lợi, trụ sở hội nhà văn Thừa thiên, thăm nhà thơ Thái Ngọc San.

Ông này làm thơ hay, nhưng chọn đời mình, quá dỡ.

Ông ta theo việt cộng.

Ông từng bị nhà văn Lâm Chương, đại úy BĐQ, dã cho một cái tát, ngay tại tòa soạn tạp chí, tôi quên tên, của nhà văn Nguyên Minh, nay là chủ xị tạp chí VĂN, còn sống hùng sống mạnh tại Sải Gòn.

Chuyện là thế này.

Lâm Chương và Thái Ngọc San, cùng lúc có mặt tại tòa soạn, trong một tranh cải về chiến tranh, TNS miệt thị quân lực VNCH.

Ngài đại úy liền vung quả đấm vào mặt ông làm thơ trốn lính.

Chuyện này tôi nghe nhiều người kể lại, riêng ông LC (Lâm Chương) thì ấm ớ hội tề, không chối cũng không xác.

Năm 1965, TNS (Thái Ngọc San) tìm đến nhà tôi ở Phan rang, dù trước đó chúng tôi chưa biết mặt nhau.

TNS nói, tôi là TNS, nghe anh ở đây, tìm đến thăm và nhờ anh giúp đỡ.

Tôi giữ anh ở lại 3 ngày, mồi, rượu không thiếu.

Bấy giờ tôi làm timekeeper cho hãng thầu Mỹ RMK/ BRG, ở phi trường Bửu Sơn.

Anh nói, tôi muốn về Huế mà không có tiền và giấy tờ tùy thân.

Lúc đó ông anh tôi là đại úy chỉ huy trưởng một đơn vị đặc biệt tại Ninh thuận trực thuộc CIA.

Tôi nói ông anh cấp cho TNS (Thái Ngọc San) một sự vụ lệnh ma, tôi tặng cho nhà thơ một vé máy bay một chiều ra Huế, không quên dúi vào túi chàng 1.000 cho ấm cẳng.

Khi tôi vào, nhà thơ mừng lắm.

Ông kéo thằng tà lọt lui vào sau nhà.

Sau đó, nó đem về 10 chai bia Trung Quốc và một bọc mực nướng.

Buổi nhậu có nhà văn Bửu Chỉ, nhà thơ Lâm thị Mỳ Dạ và vài người khác tôi không biết tên.

Đó là hiệp nhất.

Hiệp hai, tôi chủ động, rũ TNS xuống cầu Đập đá, thăm và nhậu với nhà thơ Trần vàng Sao.

Nhà thơ có hai bài thơ lưu danh thiên cổ: Người đàn Ông 43 tuổi nói chuyện về đất nước @mình/ Tao chửi.

Sau đó tôi xuôi Nam, ghé Qui Nhơn thăm nhà thơ Lê văn Ngăn.

Chúng tôi biết tên nhau qua các tạp chí có đăng thơ.

Nhưng đến năm 1971, mới biết mặt nhau, vuông, tròn hay méo.

Chúng tôi đều hao hao, tam giác cân ?

Tôi nói lại, mặt tam giác.

Tôi, trung úy trưởng ban CTCT, chi khu Lạc dương, LVN (Lê Văn Ngăn) là trung sĩ quân tiếp vụ.

Mỗi tháng, ông trung sĩ dành cho tôi hai thùng sữa bò, 98 lon.

Ba đứa con tôi uống sữa quân tiếp vụ.

So với thời giá, rẻ hơn ngoài khoảng 300/400 đồng.

Nhưng mỗi lần đến nhận sữa, tôi đều bao cho ba thầy trò ông trung sĩ một chầu nhậu, từ 700/1000.

Đều đặn như thế, mỗi tháng.

Sau đây là mấy câu thơ tôi làm khi gặp LVN (Lê văn Ngăn) tại Quy Nhơn.

“ Ngày gặp bạn sau chót tại Qui Nhơn, năm 1992,

Bạn chủ biên tờ NGUYỆT SAN BÌNH ĐỊNH.

Đêm vỉa hè QUI NHƠN HỘT VỊT LỘN, rượu NÀNG HƯƠNG,

Sao bạn cũng để tôi trả tiền.

BÊN THUA CUỘC trả tiền cho BÊN THẮNG CUỘC,

Ngó sao đặng,

hỡi nhà thơ Lê văn Ngăn.

Rời Quy Nhơn, tôi vào Phan thiết.

Những ngày Phan thiết, đêm ngủ trọ nhà thi sĩ Nguyễn như Mây, ngày, rượu, thơ, trà, nhà thi sĩ Từ thế Mộng.

Trong dịp này, nhờ cái máy đánh chữ xách tay của Nguyễn như Mây, tôi đã copy lại tập thơ “ Chiến tranh Việt nam và Tôi,” của Nguyễn Bắc Sơn.

Tập bản thảo này, 11 năm sau, 1994/2005, tôi trao lại nhà thơ Trần Hoài Thư, kèm theo $50.00, nhờ Thư quán bán thảo, tái bản, sau khi hai vợ chồng anh, cùng các nhà thơ Phan Xuân Sinh, Trần trung Đạo, Lương thư Trung, Dư Mỹ, Nguyễn Ngọc Thanh, anh chị nhà thơ Nguyễn văn Ngọc, thanh toán xong, nồi bún bò Huế, rất Huế, của mụ Lĩnh, tại thành phố Hartford, bang Connecticut, 2005.

Hôm lên máy bay sang Mỹ, dấu bản thảo trong áo quần, tôi và Phương Đông run như đuôi thằn lằn.

Nếu bị bắt, đi tù, ra tù, đạp xích lô.

Thi sĩ không chết, đó là lúc, phải được người đời nhắc nhở, văn học ghi tên.

Mà muốn được thế, thì những người bạn của thi sĩ, phải không quên, phải nhắc nhở trước tiên, đó là bổn phận văn học, cũng là nghĩa cử đẹp với bạn mình.

Chúng tôi dựng lại chân dung nhà thơ TỪ THẾ MỘNG, hôm nay, không ngoài mục đích đó.

Vâng, hỡi thế gian, hỡi tha nhân, hỡi cuộc đời, hãy nhớ giùm chúng tôi, rằng đến giữa đời này, đã có nhà thơ TỪ THẾ MỘNG.

Và, chàng đã ra đi, năm 2007, nhưng, những tiếng thơ và những tác phẩm văn học của chàng, đã và sẽ, LƯU DẤU THIÊN THU.

Anh có về, nhớ ghé thăm tôi, tôi muốn được nghe anh chửi, Đ. M. Mày là một thằng bạn tốt nhất của tao, nghe Chính.

R.I.P.

USA / 10/2/2024.

KTS/ Lê mai Lĩnh.

Mùa Hạ Phan Thiết – 05/2023


VN Ðọc thơ Từ Thế Mộng

Lãm Thúy

( Lẽo Ðẽo Một Phương Qùy )

Hình như giữa năm 2003. Trần Hoài Thư có tặng Lãm Thúy tập thơ “Lẽo đẽo một phương quỳ”. Cái tên nghe ngồ ngộ, còn Từ Thế Mộng _ Tác giả _ thì vẫn còn xa lạ với Lãm Thúy. Dù trước 75, Lãm Thúy rất mê thơ và cũng biết được một số bài thơ tiêu biểu của các tác giả quen thuộc.

Tập thơ mỏng đọc hơn nửa đêm đã hết, nhưng dư âm của nó thì để lại lâu dài.

Thơ Từ Thế Mộng hay, nói vậy hình như còn chưa đủ. Nó còn bao gồm cả sự duyên dáng, dí dỏm, chân thực và rất dễ cãm nhất là thơ lục bát của ông thật mượt mà.

“Còn gì lại giữa mông mênh

Có cô em đứng làm thinh mỉm cười!”

(Buổi trưa rượu ngà ngà tắm biển Ninh Chữ)

Cũng trong bài này, tác giả đã bộc lộ ra bản chất của mình:

“Đất trời cũng nhẹ như ta

Cũng phiêu lãng tắm, cũng tà tà bay”

Cái không gian trong thơTừ Thế Mộng là biển và dĩ nhiên, hầu hết những hình bóng Mỹ nhân đều mặc aó tắm:

“ Anh đứng trên bờ

Chờ em đến thiên thu

Còn hắt bóng

Em thanh thản đi lên

Thân thể mịn căng trong chiếc aó tắm màu xám

Với bàn tay nâng ướt tóc

Nghẹn ngào

Anh thấy mắt em nâu!

(Chờ em đến thiên thu) (trang 15 )

Dời mắt khỏi thân thể “ mịn căng” ấy để còn có thể thấy mắt em nâu. Tác giả “nghẹn ngào” là phải. Cách diễn tả thật đạt! Sự ngưỡng mộ tình yêu thương, lòng ham muốn khát khao, tất cả họp lại làm thành nỗi nghẹn ngào một trạng thái xúc động tột cùng gần như đau đớn.

Tả về cô gái nhỏ cao nguyên, ngây thơ như con nai rừng, Từ Thế Mộng viết:

“Đôi vú nâng nâng trên ngực em trần

Là gái lạ của trời cao nguyên đó

Ánh mắt hoang vu, nụ cười trẻ nhỏ

Thịt da nàng in nắng mới tinh khôi.”

(Nai rừng)

Cái đẹp của thân thể phụ nữ, nhất là những gái tơ nõn nà, được nhà thơ miêu tả vô cùng hấp dẫn, gợi cảm, mời mọc:

“Thân thể em căng ra như những sợi dây dàn

Căng ra

Và sắp nở

Những đóa hoa trên aó tắm xanh em.

Không còn xanh

Mà như lửa

Anh tan thành giọt nhỏ

Ríu hương em

Mà nổi điệu đàn lên

Điệu đàn em

Ôi trời ơi

Muốn rụng ra ngoài tim”

( Cây đàn muôn điệu trang 24)

Thơ Từ Thế Mộng như thế đó . Cái hừng hực như lửa của lòng đam mê, của sự khát khao, của ý chiếm đoạt. Tất cả bộc lộ hồn nhiên, không che giấu.

Thơ anh có những câu thắp bừng bừng lửa dục, nhưng là thứ lửa dục đáng yêu, sự ham muốn chiếm ngự, thống lĩnh cái đẹp, thứ lửa nồng nàn của một trái tim say đắm. Đọc thơ anh như vậy, rồi nghĩ đến sự tàn phá của thời gian, sự lụi tàn của đời sống, những thứ đáng buồn ấy đã mang anh ra khỏi cuộc đời. Nghe sao thật ngậm ngùi.

Tình yêu trong thơ Từ Thế Mộng thiết tha vô cùng. Chính sự mẫn cảm với cái đẹp làm thơ anh thêm duyên dáng, dễ thương. Anh không chối bỏ cái «mê gái» của mình khi chiêm ngưỡng những dung nhan mỹ nữ :

Áo trắng ngây thơ đôi vú nhỏ

Áo xanh mơn mởn bờ mông non

Áo hồng chúm chím môi vừa nụ

Ôi gái tơ nào hoa chẳng thơm !

(Gái tơ trang 78 )

Trong bài thơ « Biển màu » , cái đẹp lồ lộ, khêu gợi :

Chập chùng hoá những bờ vai

Hoá ra em trắng từ hai bán cầu.

Chưa hết đâu, trong bài thơ ngắn « Biển hừng », nỗi rạo rực đắm say còn bộc lộ rõ ràng hơn :

Em nhỏ nhẻ đi lên

Biển còn xanh ướt tóc

Sao áo tắm hoa em

Lại hừng như lửa bốc ?

Cái cách đảo ngữ tự nhiên trong thơ Từ Thế Mộng làm tăng thêm sức gợi cảm, thi vị của thơ : « Áo tắm hoa »

« Lửa bốc » « áo xanh em »

Cũng trong chiều hướng thưởng thức cái đẹp thiên nhiên của gái tơ ta thấy :

Tà Dôn

Có gái ngủ ngày

Ngực non tơ

Nhú

Xanh đầy áo hoa.

( Quê nhà lẩn thẩn trang 65 )

Nỗi nhớ quê nhà của thi nhân cũng đặc biệt hơn thiên hạ. Hình ảnh « ngực non tơ _ nhú » thật xiết bao gợi cảm, đi cùng màu sắc « xanh đầy áo hoa » thì thật tuyệt !

Đọc thơ Từ Thế Mộng, thấy quả là nhan sắc được tôn vinh. Từ đó chúng ta tự hỏi phải chăng những phụ nữ, nhất là phụ nữ đẹp cũng cần có những đàn ông « mê gái» để chiêm ngưỡng sắc hương của mình ? Và hẳn là hãnh diện biết bao cho những mỹ nhân nào đã từng là đề tài, là niềm thi hứng cho những thi nhân viết lên những dòng thơ tuyệt diệu, những trang thơ mượt mà , thắm đượm để lại cho đời như câu thơ :

Tặng em

Nõn hoa lan này

Để hoa

Thơm được bàn tay

Em cầm

(Ngọc Lan trang 68)

Ôi! Lãng mạn và dễ thương làm sao! Hoa Ngọc Lan trắng trong tinh khiết, thơm tho ngần ấy, mà còn hãnh diện bởi được bàn tay em cầm, thì quả là bàn tay ngà ngọc ấy còn trắng muốt thơm lừng hơn cả Ngọc Lan hương

Chỉ tặng một đoá hoa, qua đó đủ nói lên trọn vẹn niềm ngưỡng vọng thiết tha.

Chính bởi mối tình si mê ấy, thi nhân mới nói rằng:

Có em

Có cả thiên đường

Không em

Chút cỏ vô thường

Cũng không!

( Giọt mưa của tôi trang 37 )

Có khi đọc thơ, ta cảm được vì ta hiểu điều tác giả muốn nói, có khi , hơn thế, ta hiểu cả những điều tác giả không định nói. Riêng Lãm Thúy, khi đọc thơ, có khi không hiểu gì cả mà vẫn cảm thấy hay. Ví dụ như hai câu « Không đề 1 » ( trang 32)

Thấy em một chút đã mừng

Cần chi biết sợi dây lưng ngắn dài !

Sao mà có cái dây lưng vào đây không biết nữa !

Nhưng trong hai câu « Không đề 2”

Anh ơi đừng nhíu lông mày

Đừng xao xác ngó mà trầy trụa em.

………thì Lãm Thúy hiểu liền, mà còn hiểu sâu sắc nữa là khác.

Tiếng Việt ta có thành ngữ “Ngó như lột trần người ta”. Nhà thơ tài hoa của chúng ta còn dữ dội hơn: ngó đến “trầy trụa”.

Thử nghĩ xem, Từ Thế Mộng ở biển, yêu biển, cả một rừng sắc hương trong thơ anh và cả một rừng áo tắm.

Áo rượu chát, áo hoa, áo xám, áo xanh, áo đỏ, áo trắng, áo hồng…ngó miết mà người đẹp sợ “trầy trụa” sắc hương.

Cũng có những khi, thơ ông hiền hòa những mối tình trong sáng:

Cặp đầy ấp

Mộng vàng hoe

Thôi

Em đừng gõ

Guốc đè ngợp anh!

(Bài ca Áo trắng trang 89)

Tưởng tượng phong phú thay! Tiếng guốc học trò gõ nhịp trên đường mà có thể đè ngợp người tình si. Cũng bởi lòng si mê, nhung nhớ tương tư ấy mà:

Nghe từng giọt

Nhểu

Đêm

Đen

Nhớ em

Lẩn thẩn

Đốt đèn

Đếm

Mưa!

(Đếm mưa trang 91)

Cũng bởi niềm say mê cuồng nhiệt ấy, nên :

Ta còn hay đã mất ?

Có sá gì đâu em !

Xa em, ở đâu rồi cũng chỉ là hoang mạc

Hồn ta, ngọn đèn tàn hắt hiu !

( Như là chiêm bao trang 104)

Thơ Từ Thế Mộng luôn ánh lên cái sắc đa tình.

Cho anh hôn

Cả nốt ruồi son anh

Trong mình em

Bừng bừng

Lửa cháy

(Cho anh hôn trang 33)

Cũng chính bởi tính “mê gái” ấy mà tác giả thú nhận:

Thấy em mặc áo tắm

Anh cứ hay rùng mình

Khoảng hở và khoảng khuất

Cứ làm anh chông chênh!

(Chông chênh trang 84)

Nhưng trong thâm sâu hồn anh ta đọc thấy có nỗi gì đó thật xót xa, thật tội nghiệp. Đó là khi:

Chờ em cho mãn kiếp

Chờ

Cho chiêm bao vẫn cứ ngờ

Chiêm bao!

Cho mình

Như dĩa dầu hao

Giốc tim

Rót hết lửa vào

Phương em!

Cho mình

Đêm cứ thừa đêm

Thấy em cuộn bóng mình bên

Gối người!

(Chờ em _ trang 36)

Ý thơ đau xót này, ta bắt gặp lần nữa trong bài thơ “Đêm trăng nghe tiếng vạc kêu” (trang 102)

Xẹt ngang qua mái hiên nhà

Không gian rộng

Bỗng vỡ oà

Vạc kêu!

Tiếng kêu

Lạnh chỗ anh nằm

Nghe quằn quại

Cả tiếng lòng

Quạnh hiu

Giật mình

Thấy mộng quàng xiên

Thấy tay em đã

Mòn yêu dấu người!

Thú thực, đây là bài thơ Lãm Thúy yêu nhất trong cả tập thơ của Từ Thế Mộng. Câu thơ hàm súc biết bao, ngậm ngùi chua xót biết bao, những khoảnh khắc đau xót như vậy trong đời người cũng đủ làm tan nát cả trái tim rồi.

Tiếng vạc kêu sương đêm trăng buồn, quằn quại như tiếng lòng hiu quạnh, hoang vu. Nhớ đến người mơ, mộng mị quàng xiên , như câu hát nào tội nghiệp:

“ Em trong vòng tay lạ

Em thành đàn bà

Cho anh xót xa!”

Ở đây, không những em đã là đàn bà trong vòng tay khác mà câu thơ còn ẩn chứa nỗi buồn rầu cay đắng trong câu ca dao:

Cổ tay em trắng lại tròn

Em để ai gối nó mòn một bên!

Ôi! người đàn bà mình yêu, tay mòn yêu dấu, thân mòn gối chăn với ai đâu. Buồn chưa!

Trong trái tim đa tình, lãng mạn của thi nhân, Từ Thế Mộng còn chứa động biết bao tình cảm đằm thắm ngọt ngào cho những thân yêu ruột thịt _ cha mẹ, vợ con _ bạn bè, cháu chắt, quê hương:

Cha già gót nhẹ như tiên

Thương cha thương cả ưu phiền của cha

Ngày qua rồi tháng cũng qua

Chỉ lòng hiếu thảo là hoa không tàn

(Hoa không tàn Trang 30)

Và người cha thân yêu của ông được hình dung đơn sơ, mộc mạc.

Sướng sao là cái sơ sài

Cực sao là cái động hoài tới thân”

Còn mẹ, bao giờ cũng là hình ảnh tảo tần:

Suốt đời lặn lội vì con

Quản gì thân mẹ có còn hay không?

Viết cho con trai, Anh nói:

Con mãi là nụ hồng

Trong lòng ba chớm nở

( Bài thơ mừng con trai Trang 45)

Cho con gái thì :

Ba còn gì để lại cho con

Ngoài những bức thư tình ba viết cho má con

Và những bài thơ cô đơn của ba

( Bức thư của người con trai Trang 51)

Với bạn bè cũng thắm thiết yêu thương.

Càng cầm tay nhau, càng chếnh choáng

Bịn rịn

Rời nhau là lênh đênh !

(Phan Thiết từ đây ta lẻ bạn Trang 17)

Riêng câu thơ viết cho Bo _ “Bé ngoại” thật dễ thương:

Trong vòng tay ấm bao la

Ngước lên hỏi mẹ

Quê nhà

Ngoại đâu?

Chỉ ngần ấy thôi, đủ biểu lộ một trời yêu thương ngọt ngào, những ngọt ngào mà chua xót hơn cả là tình thương bao la tác giả dành cho đứa con bệnh hoạn tội nghiệp.

Mọi người quen đều thương mến con

Con lộ ra biết bao điều khác

Rất tự nhiên dễ cho người tội nghiệp

Con trú mình như một vết thương!

Đứa trẻ “sinh ra để gánh nợ đời”

Gánh xấu xa cho anh

Gánh ngu đần cho chị

Gánh bệnh hoạn cho mẹ cha thỏa lòng sáng ý

Bằng hồn con ngờ nghệch giữa nhân gian

Còn thơ cho vợ, người đầu ấp tay gối, anh viết thật tức cười

Hỡi em rất hay ghen chồng

Hít hà chi lắm cho lồng lộn lên

Lộn lồng ông mới quàng xiên

Không dưng sao lại làm duyên hít hà.

Phần này thì để người đọc tự hiểu, Lãm Thúy không dám phân tích.

Riêng tình quê hương vẫn bàng bạc trong tim anh bằng những nỗi nhớ nhung đau xót:

Và trái tim con

Đau thắt nỗi quê nhà

Và biết bao những hình ảnh núi non, biển sóng, Tà Dôn, Phan Thiết, Qui Nhơn.

Muốn có một cái nhìn tổng quát về thơ Từ Thế Mộng, Lãm Thúy bắt buộc phải phân tích cà hai mặt: mặt nổi là tính dê gái , bạn bè ai cũng biết, thơ anh bộc lộ rõ ràng, còn mặt kia là một con người đầy ắp lòng yêu thương, chân tình, giấu kín một hồn thơ sâu lắng buồn rầu, cô đơn.

Muốn viết về thơ anh lâu rồi, từ ba bốn năm trước, nhưng Lãm Thúy tự biết mình không có khả năng đó và cảm thấy mình tầm thường, nhỏ nhoi, không xứng đáng để phê bình một nhà thơ đã thành danh trước 1975.

Nay, người thơ đã đi về cát bụi, những cảm nghĩ đơn sơ này thay cho một lời tiễn biệt muộn màng gửi đến Từ Thế Mộng, một thi nhân tài hoa mà Lãm Thúy đầy lòng ngưỡng mộ./.

Nguồn TQBT

Lãm Thúy

October 15, 2024

Discover more from VBHNVDBHK

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading