Lương Ðình Tuấn ở cạnh nhà Trang Thư trong xóm Bắc. Tuấn lớn lên trong xóm Bắc, nhưng nó không nói rặt giọng Bắc như Trang Thư, hay Khế. Giọng nói của Tuấn pha trộn giữa Bắc và Nam. Ba của Tuấn là người Bắc, mẹ là người Nam, gốc Bến Tre. Không biết vì lý do gì mà gia đình nó lại chọn vùng đất Lương Sơn này làm “quê hương” chứ không phải ngoài Bắc hay trong Nam. Với giọng nói lơ lớ giữa Nam và Bắc, nên thằng Sơn gọi nó là Tuấn Pha để khỏi nhầm lẫn giữa nó và Trần Văn Tuấn, một người bạn khác trong lớp chúng tôi, hay còn gọi là Tuấn Măng.
Nhà Tuấn Pha có cái rẫy kề bên chùa Áo Vàng, bên kia đường rầy xe lửa. Rẫy nhà nó trồng bắp, rau, bầu, bí theo từng mùa. Lần đầu tiên tôi đến nhà Tuấn đó là năm 1991, khi chúng tôi vừa học xong lớp 8 trường phổ thông cơ sở cấp 2 Vĩnh Lương. Hôm đó đầu mùa hè, khi lớp chúng tôi vừa nghỉ, Tuấn đi lại bàn học, nơi tôi ngồi. Tuấn hỏi:
– Nam… Hôm nay được nghỉ sớm. Mày muốn về nhà tao chơi không? Tao dẫn mày qua rẫy bẻ bắp, câu cá rô.
Vốn tánh ham vui và ham chơi, nên tôi đã đi cùng với Tuấn về nhà nó. Tôi ngồi sau xe đạp cho Tuấn chở đi. Rời khỏi trường, Tuấn thong thả đạp xe trên con đường làng. Cơn gió thổi qua làm dịu bớt cái nắng gay gắt của mùa hè. Ðạp xe qua khu nhà lợp tôn, rẽ trái, chúng tôi tới đường quốc lộ số 1. Con đường quốc lộ số 1 trải nhựa dưới cái nắng đầu hè óng ả theo vệt nắng ban trưa hắt lên hầm hập. Tuấn đạp xe thật nhanh, băng qua chùa Áo Vàng rồi quẹo trái. Trước khi tới khu nhà ở, chúng tôi đi qua một ngôi nhà bỏ hoang, cỏ mọc um tùm. Ngôi nhà cấp bốn với tường vôi chỗ vàng chỗ xanh, loang lổ rong rêu trông hoang tàn đổ nát. Cỏ xanh um. Cạnh bên ngôi nhà có hai cây vú sữa với tàn lá xum xuê bao phủ kín cả ngôi nhà. Qua khỏi ngôi nhà hoang là nhà của Tuấn.
Tuấn thắng xe đạp lại trước cổng, dắt xe đạp vào trong, dựng trước hiên. Một người phụ nữ ngoài 30 đang ngồi nhặt rau lang trước mái hiên. Tuấn chào bà:
– Thưa má con đi học về.
Tôi nhìn người phụ nữ rồi chào theo Tuấn:
– Dạ con chào bác.
Tuấn quay sang tôi, giới thiệu:
– Ðây là má tao. Còn đây là Nam, bạn của con.
– Con mới tới chơi. Con gọi bằng dì chứ đừng gọi bằng bác nghe già lắm.
Tôi lập lại:
– Dạ, con chào dì.
Tuấn hỏi má:
– Bố có nhà không má?
– Ổng mới qua rẫy bẻ mớ bắp để xế chiều má đem ra chợ bán.
– Dạ.
Nói rồi, Tuấn quay qua tôi, nó nói tiếp:
– Nam, chờ tao chút. Tao vô trong thay đồ rồi dắt mày qua rẫy.
– Ừa…
Tuấn phóng chân lên bậc tam cấp rồi mất hút vào trong nhà.
Má Tuấn hỏi tôi:
– Nhà con ở đâu?
– Dạ con ở dưới thôn Văn Ðăng, gần xóm chài.
– Ờ… Có gần nhà thờ Lương Sơn không?
– Dạ cũng gần, qua khỏi nhà thờ Lương Sơn chừng vài phút.
– Ờ… Dì hiếm khi xuống xóm dưới. Chỉ biết quanh quẩn trong nhà và ngoài rẫy.
Chúng tôi đang trò chuyện thì Tuấn từ bên trong đi ra. Nó mặc cái quần đùi và cái áo thun bạc màu. Nó hỏi tôi:
– Mày thay áo không? Mặc áo tao cho mát.
Vừa nói nó vừa ném qua cái áo thun cho tôi. Tôi chụp lấy và nói:
– Chắc không cần. Nghỉ hè rồi đâu cần giữ áo trắng đồng phục chi.
Nói xong tôi ném cái áo lại cho nó. Tuấn chụp lấy rồi tiện tay vắt lên chiếc xe đạp. Nó nói:
– Vậy thôi, mình đi.
Tuấn quay qua nói với má nó:
– Má, con dắt thằng Nam qua rẫy chơi, chiều chiều tụi con dìa nha má.
– Ừa… Qua nói bố mày bẻ ít bắp nếp luộc cho bạn ăn.
– Dạ, má con đi.
– Dạ… Chào dì, con đi.
– Ừa… Hai đứa đi chơi dzui dzẻ.
Chúng tôi chào má Tuấn rồi đi bộ qua rẫy bắp bên kia đường quốc lộ số 1. Khi đi ngang qua ngôi nhà hoang, chúng tôi thấy Thương và một vài đứa trẻ học chung trường với chúng tôi đang loanh quanh ở trong vườn. Một vài đứa ở trên cây, mấy đứa còn lại chạy đi lượm những trái vú sữa xanh. Tôi bỗng giựt mình khi nghe những tiếng "đùng… đùng…”. Tôi đưa mắt nhìn Tuấn, hỏi:
– Tiếng gì mà đùng đùng vậy Tuấn?
– Ờ… À… Tụi nó chọi vú sữa đó.
– Chọi vú sữa, chơi trò gì vậy?
– Muốn biết thì đi theo tao.
Tuấn dắt tôi đi vào trong sân nhà, rồi vòng ra phía sau lưng ngôi nhà. Tôi thấy mấy đứa trẻ chọi những trái vú sữa còn xanh vào vách tường. Tôi thắc mắc hỏi mấy đứa:
– Tụi bây chơi trò gì vậy?
– Chọi vú sữa chứ chi. Bộ mày chưa từng chọi hả?
– Chưa. Mà chọi làm gì?
– Thì cho mềm rồi ăn chứ chi.
– Trời! Sao tụi bây không để cho chín rồi hái ăn hái sống chát ngầm sao ăn?
– Ðợi chín làm gì còn phần hả bố?
Tuấn chạy tới, kéo tay tôi:
– Thôi mình đi. Kệ bọn nó.
Một vài đứa nhỏ, có lẽ nhỏ hơn chúng tôi vài ba tuổi, hỏi Tuấn:
– Anh Tuấn qua bên rẫy hả? Cho tụi em đi theo với.
– Không. Tụi mày ở nhà chơi đi. Chút chiều nếu có ổi chín tao cho.
– Dạ…
Chúng tôi rời khỏi ngôi nhà hoang, rời khỏi đám nhỏ, băng qua đường quốc lộ số 1, băng qua đường ray xe lửa, xuống con dốc nhỏ mới tới rẫy nhà Tuấn. Dọc đường đi tôi hỏi Tuấn:
– Ủa sao mày gọi ba mày là bố, nhưng không gọi mẹ?
– Tao cũng không biết. Chắc tại quen. Má tao không thích tao gọi mẹ. Má tao xưng hô là má, gọi tao con. Còn bố tao thì xưng bố. Nên quen miệng vậy thôi.
– Ờ… Ngộ hén!
– Ờ…
Chúng tôi theo lối mòn nhỏ, đi xuống con dốc. Vừa xuống con dốc nhỏ, một cơn gió nhẹ tạo ra những tiếng rì rào khi cơn gió đi xuyên cánh đồng bắp. Từng hàng bắp đứng thẳng tắp, lá rũ xuống. Những trái bắp thò ra từ các nhánh, tôi tưởng như những khuôn mặt trẻ thơ đang chơi trốn tìm hay những đứa bé đang khép nép sau lưng mẹ. Tia nắng ấm áp chiếu bên vườn bắp, soi rõ khung cảnh xung quanh. Những tàn cây xanh rợp bóng di chuyển từng hồi theo các đám mây trên không. Hai bên đường, ven lối đi, những bụi cỏ mắc cỡ có chùm hoa tím tí xíu cũng tranh thủ khoe với đàn bướm trắng nhởn nhơ. Tôi nghịch chân, đá vào những cánh lá xanh. Chúng xếp lại nằm im khi tôi chạm vào.
Khi đi qua khỏi cánh đồng bắp, chúng tôi đến một cái giàn với rất nhiều trái bầu, trái mướp, treo lủng lẳng. Phía sau giàn mướp giàn bầu là căn chòi nhỏ có cái võng và cái giường tre. Tuấn gọi lớn vào trong:
– Bố ơi… Bố…
Không thấy tiếng trả lời. Tuấn lẩm bẩm:
– Chắc bố đi ra suối.
Tuấn nói với tôi:
– Chắc bố tao ở ngoài suối. Ði theo tao.
Tôi đi theo sau Tuấn, đến bên con suối nhỏ. Nước suối trong veo thấy cả những viên đá cuội dưới lòng suối. Tuấn đưa mắt nhìn quanh con suối tìm bố, nhưng không thấy ai. Tuấn lại lẩm bẩm:
– Không có trong chòi, cũng không có ngoài suối. Không biết bố đi đâu nhỉ?
– Hay là có khi nào bố mày ngoài đám bắp không? Hồi nãy tao nghe má mày nói bố mày bẻ bắp để chiều đem ra chợ bán.
– Ờ… Chắc vậy. Thôi mình đi qua đám bắp bên kia.
Bên rẫy bắp, một người đàn ông mặc áo dài tay, đội mũ tai bèo đang bẻ bắp bỏ vào gùi. Thấy người đàn ông, Tuấn gọi:
– Bố…
Người đàn ông nghỉ tay, quay lại nhìn chúng tôi. Tuấn chỉ qua tôi rồi giới thiệu:
– Thằng Nam, bạn của con. Còn đây là bố mình.
– Dạ con cháu chú.
– Chào cháu.
Ông quay sang Tuấn nói:
– Phụ bố hái ngô để bố đốn cho sạch…
– Dạ.
Chúng tôi phụ bố của Tuấn bẻ bắp, bỏ vào gùi. Trước khi rời khỏi vườn bắp, Tuấn bẻ vài ngọn cờ bắp khô, dùng làm phao để tí nữa chúng tôi câu cá rô. Tuấn vác gùi bắp lên vai đi về căn chòi.
Vào đến căn chòi, Tuấn chọn hơn chục trái, chặt bỏ đầu đuôi, lột bớt lớp vỏ ngoài, đổ nước ngập những trái bắp, bỏ vào một muỗng muối rồi đem luộc. Trong khi chờ bắp chín, nó đi ra sau căn chòi, lấy hai cái cần câu được làm bằng cây trúc. Tuấn tìm thấy cái lon sữa bò đã gỉ sét rồi lấy cái cuốc đến bên lu nước cuốc đất tìm trùn. Sau một hồi đào bới, chúng tôi bắt được hơn chục con con trùn đỏ choét, dài thòn lòn. Tôi bốc những con trùn đỏ bỏ vào cái lon để tí nữa làm mồi câu cá rô. Những con trùn trườn qua lại qua kẽ tay nhơn nhớt, như muốn trốn thoát. Bắt xong mớ trùn, chúng tôi rửa tay rồi đi vào chòi. Bố của Tuấn còn làm việc ở vườn bắp. Ông chặt những cây bắp phơi khô, bó thành từng bó để dành nhúm lửa.
Chúng tôi ngồi trên giường tre, đợi bắp chín. Khi nước sôi và mùi thơm của bắp bay đi khắp mảnh vườn là chúng tôi biết rằng bắp sắp chín. Tuấn vớt bắp ra rổ. Chờ cho bắp nguội, Tuấn chọn sáu trái, lột bỏ bớt vỏ, cột thành một chùm. Nó đưa chùm bắp cho tôi. Tuấn nói:
– Mày cầm giùm tao. Ðể tao rửa sơ cái nồi rồi mình đi câu.
Tuấn đổ hết nước bắp ra ngoài đất, múc nước trán sơ cái nồi, lấy chùm bắp từ tay tôi rồi bỏ vào trong. Nó đưa cái nồi lại cho tôi. Tuấn bảo:
– Ăn bắp đi. Ăn nóng mới ngon.
Chưa nói xong, nó lấy một trái, lột sạch vỏ rồi đưa lên miệng gặm. Thấy vậy, tôi cũng lấy một trái bắp lột ra cạp ăn. Mùi bắp nóng thơm phức. Bắp ở quê là loại bắp nếp, đặc trưng rất dẻo và thơm. Trái bắp nhỏ chừng gang tay. Hạt bắp trắng như sữa, mùi thơm lừng, ăn rồi nhớ mãi bởi vị thơm ngọt của trái bắp nếp được trồng trên mảnh đất quê nhà. Trái bắp thơm như dòng sữa mẹ, trắng, dẻo. Ăn chưa xong trái bắp, Tuấn giục:
– Mình đi câu thôi.
Chúng tôi ra khỏi căn chòi. Tuấn lấy hai cái cần câu và lon mồi. Tôi đi theo Tuấn ra đến cái mương nước, chỗ ngã ba ranh giới giữa rẫy bắp của nhà Tuấn và có lẽ là ruộng lúa của nhà người khác. Tới nơi, nó lấy lon mồi để xuống bờ cỏ. Tuấn nói:
– Mày ăn thêm bắp đi. Ăn cho no luôn khỏi ăn cơm chiều.
– Ừa.
Tôi để cái nồi bắp xuống bãi cỏ, cạnh lon trùn, ngồi xuống và lấy bắp ra ăn. Trong khi tôi ăn bắp, Tuấn dùng cờ bắp cột vào cọng cước để làm phao câu. Nó móc mồi trùn vào lưỡi câu, thả xuống mương nước. Tôi ngồi cạp bắp trong khi Tuấn thả mồi câu. Vừa thả xuống, nó lại nhấc cần câu lên. Kéo theo một con cá rô nhỏ bằng hai ngón tay. Tuấn nói:
– Nam mày bỏ mấy quả ngô trong nồi ra, múc nước giùm tao cái.
Tôi bỏ ba trái bắp còn lại trên đám cỏ xanh, khom người múc nước vào cái nồi. Tuấn gở con cá rô nhỏ ra, thả vào nồi nước. Con cá rô gặp nước, nhảy đành đạch bơi lội bắn nước tung tóe. Tôi nhìn con cá rô, thắc mắc hỏi Tuấn:
– Sao con cá có chút xíu vậy?
– Cá rô đồng cở vậy là lớn rồi.
– Ừa… Nó nhỏ xíu, không giống cá rô ở ngoài ngâm, gần nhà tao. Chắc câu cho vui chứ ăn gì loại cá này.
– Cá mày nói chắc là cá rô phi.
– Ừa… Ðúng rồi, cá rô phi.
Tuấn nói.
– Bố tao rất thích cá rô phi chiên giòn. Hôm nào tao tới nhà mày dắt tao đi câu nha. Tao thích đi câu, nhưng trong ao chỉ có cá rô đồng thôi. Lâu lâu được con cá quả, bằng cùm tay là cùng.
– Ừa.
– Mày ăn xong chưa, có muốn câu không?
– Tao ăn xong trái này rồi sẽ câu.
Ăn xong hai trái bắp nếp, tôi lấy trùn, móc vào lưỡi câu. Vừa thả xuống, cái phao được làm bằng cờ bắp nhấp nháy liên hồi. Tôi giựt mạnh cần câu, con cá rớt ra khỏi, bay qua đám bắp, mất tiêu. Thằng Tuấn cười ngặt nghẽo. Vừa cười nó vừa nói:
– Trời đất câu cá rô mà mà giật gì mạnh vậy.
– Ờ… Chắc tại quen tay.
Ăn bắp no bụng, ngồi ôm cần câu cá dưới bóng râm, bên cơn gió thoang thoảng thơm mùi bông bắp trổ dưới nắng thơm dìu dịu làm cho đôi mắt tôi nhíu lại. Tôi nói với Tuấn.
– Phải chi có cái dzõng nằm ở đây thì phê lắm.
– Thằng này ăn xong rồi mơ ngủ. Thiệt hết nói…
– Ðời mà bạn…
– Giật kìa…
Lần này có kinh nghiệm, tôi không giựt mạnh cần câu nữa, mà chỉ nhấc nhẹ lên. Một con cá rô nhỏ dính trong móc câu. Tôi gở con cá ra, bỏ vào cái nồi. Chúng tôi câu cá và nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Nổi hứng, chúng tôi cùng nhau đọc thơ, bài "Thu Ðiếu" của cụ Nguyễn Khuyến:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Ðọc xong bài thơ, Tuấn nói:
– Chắc phải nhại lại bài thơ này cho đúng mày ơi.
Tôi biết Tuấn hay chế lời những bài hát và thường hay hát vu vơ, như có lần Tuấn nghêu ngao hát bài "Hoa Sứ Nhà Nàng":
"Ðêm qua ngửi mùi hôi…mùi hôi nách của nàng… Sao nồng nàn thấy ớn… Ðậm đà từ dưới bay lên… Mà nàng ở cách bên… Bốn ngày chưa chịu tắm… Xà bông Zest đây nè… Bà đem tắm tui nhờ… Ðể tui còn hãy mê…”
Tôi biết Tuấn hay thường "chế" lời bài hát, nhưng chưa bao giờ nghe nó "sửa lời" bài thơ nào, nên tôi thách thức nó:
– Mày hay chế lời bài hát, vậy chế thử tao nghe bài "Thu Ðiếu" này coi sao:
Tuấn suy nghĩ một hồi rồi đọc:
Ao này cạn sợt nước trong veo,
Dưới đáy vài con cá tẻo teo
Rủ bạn tới câu nó bảo nhỏ
Nên ngồi gặm bắp hết vèo vèo
Gió đưa vườn bắp mát rười rượi
Cá đớp dưới ao giựt trẹo eo
Cả buổi được vài con nhỏ xíu
Ðem về kho mặn tại nhà nghèo.
Nghe Tuấn làm thơ tôi hết hồn. Tôi nói với nó:
– Trời đất, ông cụ Nguyễn Khuyến nghe xong thơ mày cũng đội mồ lên mà khóc. Thơ gì mà không đúng luật gì hết trơn.
– Chê là quê nha bạn. Thơ của một đứa dốt văn như mình vậy là tuyệt cú mèo rồi đó nha.
– Ừa… Mày còn làm thơ được. Tao thì chịu thua. Mỗi lần tới giờ thơ văn là tao buồn ngủ muốn chết. Năm tới hình như bọn mình sẽ học văn lớp 9 của thầy Kim đó. Tao nghe mấy anh chị lớp trước nói, ổng dạy vui lắm, hay đọc thơ Hồ Xuân Hương cho học trò nghe.
– Vậy hả? Ba tháng hè nhanh lắm…
– Ờ.
– Còn hai trái bắp, mày ăn hết luôn đi rồi mình về.
– Tao mới ăn có ba trái mà mày làm bài thơ nói tao ăn hết vèo… Còn hai trái chừa cho mày… Ha… Ha…
– Nam ăn luôn đi. Còn không thì cho mày đem về. Mình phải để dành bụng chút ăn cơm với bố má nữa.
– Ờ…
Tôi nhìn qua cái nồi có mấy con cá rô nhỏ đang ngơm ngớp đớp không khí, tôi hỏi Tuấn:
– Giờ mấy con cá này tính sao?
– Mày muốn lấy không? Còn không thì thả chúng xuống lại dưới ao. Mấy con bé tí cũng chẳng được gì. Hôm nào mày nhớ dẫn tao ra ngâm câu cá rô phi nha.
– Ờ…
Chúng tôi đổ nồi cá xuống ao. Những con cá rô nhỏ được giải thoát, chúng bơi lội tung tăng, trốn vào những gốc lúa. Tuấn đổ luôn lon trùn còn lại xuống ao. Chúng tôi vác cần về lại căn chòi lá. Bên trong căn chòi vắng hoe, không tiếng động. Cái gùi bắp và rổ bắp luộc cũng không còn. Tuấn nói:
– Chắc bố tao đã đem ngô về nhà cho má tao bán rồi. Chúng mình về thôi.
Chúng tôi rời khỏi rẫy bắp trở về nhà khi mặt trời chìm xuống sau dãy núi xa xa. Ánh nắng vàng lẻ loi còn sót lại rải nhẹ trên đường dốc, thảm cỏ, bụi hoa mắc cỡ đã xếp những cánh lá để đi ngủ. Bóng chiều ngả dài trên cánh đồng bắp. Những ngọn cờ bắp ánh lên và nhấp nhô trong làn gió thoảng qua. Từ phía chân trời, những đàn chim ríu rít gọi bầy rồi bay về tổ. Khi chúng tôi tới nhà Tuấn, tôi xin phép bố Tuấn về. Bố má Tuấn lấy cái giỏ đi chợ bỏ vào ít bắp bảo Tuấn đem biếu cho tôi ăn lấy thảo. Tuấn dắt xe đạp ra khỏi cổng và chở tôi về nhà. Trên đường về nhà, hoàng hôn dần chìm vào giấc ngủ.
Y Thy Võ Phú















