Chuyện Ngày Mồng Một Tết – Thi Sĩ Phong Châu

Năm nào cũng vậy, nơi mình ở, cứ đến những ngày cận tết cho
mãi đến sau tết, thời tiết lạnh giá vẫn chưa chịu ra đi khiến không
khí xuân thiếu phần khởi sắc như trong những bài văn, bài thơ, bài
hát qua những lời ca tụng mùa xuân nắng ấm chan hòa, hoa màu
muôn sắc và người người đang hớn hở đón mừng xuân. Không
biết có phải mình đã luống tuổi xuân từ lâu nên nhìn sự vật chung
quanh có phần ảm đạm hay không? Chắc là vậy…
Mấy tuần nay đã thấy không khí Tết diễn ra nhiều nơi trên màn
ảnh truyển hình, trên youtube, trên facebook, trên radio và trên
nhiều phương tiện truyền thông khác nữa. Nhiều nhất vẫn là hình
ảnh trước tết tại Việt Nam từ thành thị cho đến thôn quê do
những kênh truyền thông cá nhân ghi nhận. Tại hải ngoại, cảnh
trưng bày, mua bán, sắm Tết tại những thành phố có đông người
Việt cũng không sao bằng với Việt Nam dù là với một thị trấn nhỏ
ở miền quê.
Mình đã “ăn Tết” tại Việt Nam từ thuở tấm bé cho đến lúc phải
“cất bước ra đi…mang theo niềm nhớ” (hình như đây là lời của
một bài hát… xin mượn). Lúc tị nạn ở nước Cờ Hoa, nếu tính luôn
tết “Giáp Thìn” này thì mình cũng đã xơi tái được 32 mùa xuân ở
hải ngoại. Vậy tết ở Việt Nam thì sao? Tết ở hải ngoại thì sao? Khó
mà nói cho hết! Thôi thì nhân ngày xuân về tết đến, xin kể câu
chuyện mồng một tết lúc còn ở quê nhà, thời mà đi học phải kè kè
bình mực xanh và cây bút lá tre cùng cây thước kẽ.
Mình được sinh ra trên mảnh đất Hoàng Triều Cương Thổ của
triều nhà Nguyễn (nghe oai chưa!) vào cái thuở “đất rộng người
lưa thưa”, sống dưới rừng thông gió hú bốn mùa và với cả cọp
beo thường lảng vảng từ Cầu Quẹo lên tới Dankia – Suối Vàng –
Suối Bạc…Miệt dưới thì mấy bác “30” cũng thường ghé thăm khu
vực thác Cam Ly để nghe tiếng thác reo ì ầm quanh năm khiến
mấy em con nít như mình nghe các cụ già như ông bà ngoại, các
cụ trẻ như bố mẹ mình kể… mà rợn cả tóc mai (không rợn tóc
gáy). Về phía nam chút nữa như thác Prenn, Gougah, Ponggour thì
khỏi phải nói, còn rừng rú hoang vu nguyên thủy. Tóm lại đó là
hình ảnh Đalat của thập niên “40” vào thế kỷ hai chục. Qua đến
thập niên “50” trở đi thì dân Dalat mới từ từ đẩy mấy chú cọp báo
beo vô tuốt trong bưng. Rồi dân số Đà Thành gia tăng sau cuộc di
cư của người miền Bắc vô Nam để trốn các đồng chí đồng rận búa
liềm. Đà Lạt lại có các khu định cư mới, ở miệt Bắc có các ấp
Thánh Mẫu, Kim Thạch, còn ở miệt Nam thì có ấp Nam Thiên, Du
Sinh…Xa chút nữa có Tùng Nghĩa – Phi Nôm nằm trên quốc lộ 20
chạy đi về hướng Sài Gòn hoa lệ…
Hồi còn bé tí tẹo mình cũng như bao thằng nhóc tì khác, thấy gần
đến Tết là vui trong cái bụng lắm (nói theo tiếng của người
K’ho…cái bụng…) vì: thứ nhất là được nghỉ học đến cả hai tuần,
khỏi phải học bài làm bài gì cả. Thứ hai được dự trại tất niên do
trường tổ chức (thời trung học) vui lắm với những màn thi đua
văn nghệ, thể thao, bích báo và được ngủ lều dưới cái lạnh “teo
gân” của Đà Lạt…Hồi đó các nhóc tì Đà Lạt ưa nói lạnh “teo gân”
để chỉ cái lạnh rừng rú hoang dã. Thứ ba là được ông bà bu mua
cho bộ quần áo và một đôi sandale mới cáu cạnh để diện ba ngày
Tết. Thứ tư là mấy ngày tết được ăn thức ăn ngon và nhiều. Thứ
năm là được lì xì vào sáng mồng một. Còn nhiều cái vui linh tinh
khác nữa xin giấu bớt.

Nếu kể “vòng vo” chắc là tốn giấy hao mực (xin lỗi, sợ mệt hai
ngón tay) nên chỉ xin kể câu chuyện của ngày mồng một tết mà
thôi. Số là mình có một người bác dâu (vợ của bác ruột) ở đường
Phan Đình Phùng, gần ngả ba chùa Linh Sơn rất thương mình vì
bác không có con trai – chỉ có sáu trự con gái – thích cái tính lanh
lợi vui vẻ của mình nên bác thường nhắc nhở mỗi khi gần tết
“sáng mồng một mi ghé nhà bác để xông đất nghen”. Mình tuân
lệnh răm rắp không dám ý kiến ý cò chi cả. Hơn nữa mình cũng
thấy có lợi (được tiền lì xì) nên trong suốt thời gian dài, cả chục
năm trời ròng rã, cứ sáng mồng một là mình đạp xe đạp mất sáu
cây số để đến “xông đất” nhà bác.
Khi bước chân vô nhà là phải vòng tay cúi đầu chào hai bác, sau
đó chào mấy bà chị kèm theo nụ cười trên môi và mặt phải lộ vẻ
vui mừng, không được nhăn nhăn nhó nhó và nói năng lắm lúc
“vô trật tự” như những ngày thường. Bác khen ngoan rồi móc túi
dí vào tay một phong bì màu đỏ chói. Mình cám ơn và nhét ngay
vô túi quần. Có vài bà chị cũng tặng bao lì xì. Sau đó bác bảo mấy
bà chị dọn thức ăn ra bàn và bảo mình ngồi ăn, có bánh tét, có
dưa món, có thịt đông, thịt luộc, chả, xôi, chè chuối…ôi thôi đủ
thứ. Ăn xong thấy một bà chị mở radio hiệu Philips cho nghe tin
tức ngày xuân trong đó có lời chúc tết của tổng thống Việt Nam
Cộng Hòa, tiếp theo là một lô các bài hát xuân như bài Xuân Và
Tuổi Trẻ, Cánh Bướm Vờn Xuân…của thập niên 50 (thế kỷ trước),
rồi những Đón Xuân, Xuân Đã Về, Hoa Xuân, Ly Rượu Mừng, Cánh
Thiệp Đầu Xuân, Anh Cho Em Mùa Xuân…đặc biệt là những bài hát
nói về mùa xuân của lính như bài Đồn Vắng Chiều Xuân, Xuân Đầu
Tiên, Phiên Gác Đêm Xuân của thập niên 60. Bài Ly Rượu Mừng
của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là bài hát được ưa chuộng nhất
được nghe mỗi dịp xuân về. Bài này sau tháng tư bảy lăm mấy anh
giải phóng cho đi ngồi tù đằng đẵng suốt 43 năm, đến năm 2018
mới ký giấy cho tháo xích xiềng để thả ra để cho trăm triệu dân
“từ Bắc vô Nam” cùng nghe. Không hiểu mấy ảnh có biết rằng
trong 43 năm đó, dân Việt đã nghe Ly Rượu Mừng mỗi lần xuân
về khắp hang cùng ngõ cụt hay không?…Có khi mấy ảnh cũng hân
hoan “Ngày Xuân Nâng Chén” không chừng…
Khoảng 8 giờ, bác sắm sửa y phục chỉnh tề bước ra và ra lệnh cho
mình và hai bà chị cỡ bằng tuổi mình xuất hành đi theo bác. Mấy
bà chị cũng mặc áo dài có điểm bông hoa tươm tất, người nào
cũng có cái ví cầm tay nho nhỏ. Mình không biết bác có coi hướng
để xuất hành sáng mồng một hay không nhưng năm nào cũng vậy,
một đồng nam và một hai đồng nữ theo chân bác đi về hướng
bắc. Ban đầu cứ tưởng bác dắt lên Núi Bà xin xăm, ai dè đến ngả
ba Mả Thánh bác bèn quẹo vô con đường đất đi tuốt vào trung
tâm mồ mả của cư dân Đà Lạt. Thì ra bác đi thăm mộ phần của
những người thân trong gia đình. Lên đến Mả Thánh mới thấy
cảnh bà con đi thăm mộ phần đông ơi là đông…sau này mình
nghiệm ra đây là một trong những tập tục của đa số người Đà Lạt
lúc bấy giờ. Nhìn cảnh thiên hạ đi viếng mộ mồng một tết mình
nhớ đến hai câu thơ của thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiểu tả
cảnh chị em Thúy Kiều đi tảo mộ “trong tiết tháng ba”:

…Ngổn ngang gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay…

Bác dắt mấy chị em đi thăm và thắp nhang trên từng ngôi mộ. Mộ
nằm rải rác đó đây chứ không cùng một chỗ, thế mà bác nhớ mộ
ông, mộ bà, mộ anh em, con cháu nằm ở đâu, bác nhắm hướng đi
đến là trúng phóc. Hai ba đứa trẻ theo chân bác sau chừng nửa
giờ đã đổ cả mồ hôi thấm ra áo. Gần 10 giờ bác đưa xuống núi.
Nghe ông bà bu mình kể rằng Mả Thánh trước là quả đồi cao
thuộc sở hữu của Hoàng Triều Cương Thổ, vào năm 1936 cụ Võ
Đình Dung bỏ tiền ra mua để cho dân Đà Lạt có nơi chôn cất. Thật
là công đức vô lượng…Giờ thì mấy bác giải phóng đã san bằng từ
lâu, nghe nói nơi mồ mả này đã biến thành sân vận động…

Trên đường về bác lại đưa đến chùa lễ Phật đầu xuân ở chùa Linh
Sơn, gần nhà bác. Nơi đây cũng tấp nập Phật tử di lễ đầu xuân
trong những bộ áo quần còn vương mùi vải mới đủ màu sắc, các
bà các cô toàn mặc áo dài vì thưở đó phụ nữ Đà Lạt chưa mặc
trang phục Tây phương. Nhớ trước chùa có hai cây hoàng lan cao
cả chục thước tỏa hương thơm ngát. Vô chánh điện lạy Phật ba
cái rồi rút lui, còn bác thì bỏ tiền vào thùng “phước sương”. Trước
sân chùa tấp nập người đi qua đi lại, kẻ vào chánh điện, người vô
phòng khách và có người ra sau nhà bếp, chắc là để kiếm món ăn
chay.
Rời khỏi chùa, tưởng rằng được về nhà nhưng không, bác đi tiếp
trong khi “cái bụng” của mình thấy nao nao đói. Thôi thì bấm
bụng để đi theo bác chứ chẳng dám nói năng chi hết. Ngặt một
nỗi là mình mang một đôi sandale mới nên giày cọ vào da chân
thấy đau và nhìn xuống thấy gót chân có chỗ bị trầy rướm máu!
Thằng bé lại tiếp tục đi cà nhắc theo chân bác không một lời than
tiếng thở. Không biết mấy bà chị có rơi vào tình trạng “đớn đau”
gót chân như mình hay không nhưng mình đoán chừng các chị
cũng có vấn đề nơi hai bàn chân vì mấy đôi giày mới…
Tiếp tục cuộc hành trình sáng mồng một là theo bác đi thăm
người thân. Trước tiên bác đưa đi thăm người em của bác ở cây
số bốn, từ Mả Thánh qua đây rất gần nhưng bác đã dẫn đi ngược
về chùa Linh Sơn rồi mới quay lại hướng Mả Thánh để đến số bốn
thăm người em. Điều mình thích ở Đà Lạt là dù đang đi ngoài trời
nóng nực chảy mồ hôi nhưng khi bước chân vào nhà là thấy mát
mẻ khiến người nhẹ nhõm ra ngay. Vào đến nhà ông cậu, sau các
thủ tục cúi đầu vòng tay, mình được cho uống nước cam hiệu
Birley’s rồi ăn mứt dừa, mứt gừng và rỉ rả bốc vài hạt dưa cho vào
miệng cắn bóc vỏ để ăn, lắm khi cắn hạt dưa nát cả vỏ cũng nhai
và nuốt luôn cho tiện…Bác và cậu nói chuyện và chúc tết lẫn nhau
và trước khi bước ra cửa, ông cậu lì xì mỗi đứa một chiếc phong vì
đo đỏ, mình cúi đầu cám ơn và cho phong bì vào túi ngay. Hai bà
chi thì mở ví cho phong bì vào.
Ra đường gặp lại cái nắng xuân râm rang dễ chịu, chắc là vừa mới
trong nhà bước ra. Trong bụng thầm nghĩ chắc là bác đi về nhà
sau hơn ba tiếng đồng hồ. Nhưng không! Bác không quay về
đường Phan Đình Phùng mà bác đưa đồng nam đồng nữ đi theo
đường Hai Bà Trưng đi đến tận cầu Bá Hộ Chúc, leo dốc Bà Triệu
để đến đường Trần Hưng Đạo. Lâu lâu mình phải dừng lại để nhìn
xuống hai gót chân xem nó trầy trụa đến đâu rồi. Trong bụng
không muốn đi theo bác nữa nhưng không biết làm cách nào.
Thật là “tiến thoái lưỡng nan”. Cuối cùng thì cũng phải tiến theo
bác mà thôi!..Đi đến nhà thờ Con Gà bác quẹo vô đường Nhà
Chung, khoảng nửa đường thì bước xuống một con dốc đất gồ
ghề để đến nhà một người bác của mình nằm thỏm trong ấp Xuân
An. Ông bác này là một nhà nho, mặc áo dài vải the thâm màu
đen, rất nghiêm nghị. Mình và hai bà chị ngồi im re cắn hạt dưa để
nghe hai bác trò chuyện chúc tết lẫn nhau để cuối cùng đám nhóc
cũng có bao lì xì dằn túi.
Rời khỏi nhà ông bác mình mừng muốn chết và trong “cái bụng”
thầm mong cho bác đừng ghé đến nhà ai nữa. Ra đến đường Trần
Hưng Đạo, ngang qua nhà thờ Con Gà vẫn thấy rất đông những
người đi lễ nhà thờ, không kém gì cảnh đông đúc ở sân chùa Linh
Sơn. Bác đi xuống dốc Lê Đại Hành trước mặt nhà thờ rồi vòng
qua Cầu Ông Đạo, lên đến phố Hòa Bình, theo đường Hàm Nghi
xuống dốc chùa Linh Sơn rồi queo phải về nhà. Lúc đến Cầu Ông
Đạo mình thấy vô số tài tử giai nhân dập dìu du xuân quanh hồ với
những tà áo dài xanh đỏ phất phới bay trong gió xuân, lên đến
khu Hòa Bình thì thấy đám múa lân rộn rã tiếng trống và những
tràng pháo nổ vang ở các góc phố.

Vô nhà nhìn đồng hồ trên tường thấy kim chỉ hơn hai giờ. Thế là
hơn sáu tiếng đồng hồ, bác đưa hai nhóc gái và một nhóc trai chạy
bốn show: Mả Thánh, Chùa Linh Sớn, ấp Số Bốn và ấp Xuân An.
Bác mình đã mất từ lâu, nếu bác còn sống mà đọc được những
điều mình viết như vầy thì thế nào cũng ăn vài cái cốc nhẹ lên
đầu.
Tính ra tiền lì xì mình nhận được cũng đủ ăn vặt trong ba ngày tết.
Nay nhớ lại có lẽ mình cũng có cả chục năm theo bác “du xuân”
trong ngày mồng một của những ngày thuộc thập niên 50 – 60.
Làm sao quên được cái thời hoang sơ của thành phố Đà Lạt.
Phong cảnh hữu tình và người thì dễ thương…
Phong Châu

February 10, 2024

Discover more from VBHNVDBHK

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading