Hoa Vương Poppy Và Chuyện Tình Người Nhạc Sĩ – VTS Phương Hoa

Phương Hoa kể cho chúng ta nghe sự tích về một loài hoa biểu tượng của tiểu bang CALIFORNIA, kèm thêm một truyện tình cảm động liên quan đến loài hoa này.Mời quí vị thưởng thức.
Thân mến – Hồng Thủy

HOA “POPPY” ANH TÚC – HOA VƯƠNG CALIFORNIA

Phương Hoa

Người ta nói rằng, trong các nước trên thế giới chỉ có Mỹ là nước có nhiều loài hoa đẹp được vinh dự đại diện cho từng tiểu bang của Hiệp Chủng Quốc này. Đại diện “có bằng chứng nhận pháp lý” hẳn hoi, chứ không phải là những lời nói miệng hay lời đồn lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ví dụ như hoa Camellia tiếng Việt gọi là hoa Trà My, là Hoa Vương của tiểu bang Alabama; hoa Mountain Laurel là hoa Nguyệt Quế Núi, đại diện cho tiểu bang Conneticut; Magnolia tức hoa Mộc Lan là Hoa Vương của Louisiana; Scarlet Carnation hay hoa Cẩm Chướng, là Hoa Vương của tiểu bang Ohio; Bluebonnet tức hoa Len Mũ Xanh là Hoa Vương của tiểu bang Texas; và California Poppy Anh Túc là Hoa Vương của tiểu bang California.
Như người Việt mình có câu, “Trâu ta ăn cỏ đồng ta” hay “Thừa trong nhà mới ra người ngoài,” cho nên hôm nay tôi chỉ xin tìm hiểu và giới thiệu loài “hoa nhà” tức là Hoa Vương California của tôi trước, sau này nếu có dịp tôi sẽ viết thêm về những Hoa Vương của các tiểu bang khác trên đất nước Hoa Kỳ vậy.
“California Poppy” tiếng Việt gọi là hoa Anh Túc còn có tên là “Chén Vàng” (cup of gold) là một loài hoa dại bản địa của tiểu bang California. Theo trang web của “The Flower Essence Society (FES),” thì hoa Anh Túc thích ánh nắng, môi trường sống tốt hơn trên đất cát, cần ít nước và chịu nắng giỏi vào mùa hè. Tuy nhiên, hoa cũng thích nghi khi được trồng trong vườn và những môi trường ẩm ướt như ven suối ven sông. Hoa được tìm thấy nhiều dọc theo các triền đồi và vùng ven biển Thái Bình Dương, trong các thung lũng California, chứ không có ở vùng đồng cỏ trên núi cao. California Anh Túc là loại cây sống lâu năm, nhưng ngắn ngày với rễ vòi thật dài. Tuy nhiên ở vùng khí hậu lạnh hơn, nó phát triển hàng năm. Hoa dễ dàng tự mọc lại hạt và sẽ phát triển mạnh mẽ trong những vùng quang đãng không có nhiều cây cỏ xung quanh.
Trong nhiều thông tin ghi chép trên trang The Flower Essence Society cho biết, những người Tây Ban Nha đầu tiên định cư ở California đã tìm thấy những cánh đồng rộng lớn của California Anh Túc tỏa sáng trên các sườn đồi ven biển, và người ta có thể hướng dẫn tàu của họ vào Cali bằng cách nhắm vào những cánh đồng poppy này. Những người định cư còn gọi bờ biển California là “vùng đất của lửa” và “chén vàng” và ngoài tên gọi thường hơn “Anh Túc Vàng” (Golden Poppy) thì cái tên hoa “Chén Lửa” (Cups of Flame) cũng thường được dùng đến.
Và theo các nhà khoa học, thì tên thực vật của hoa Poppy là “Eschscholzia” mà người ta đặt cho hoa nhằm vinh danh vị bác sĩ phẫu thuật và nhà tự nhiên học người Đức Friedrich Gustav von Eschscholtz, người đã nhìn thấy đầu tiên những ngọn đồi vàng bát ngát ở vùng Vịnh San Francisco, vì được tô điểm bằng rừng Anh Túc California khi ông đang ở trên một con tàu thám hiểm của Nga vào đầu thế kỷ 19.
Giống hoa Anh Túc California có thể mọc lên cao tới 7 tấc, nhưng chúng thường ngắn hơn nhiều tùy thuộc vào vùng đất và nguồn nước sẵn có. Lá của hoa màu xanh xám, có những tia nhỏ mịn để tạo độ thoáng, và thường nhuốm màu đỏ lửa ở phần trên ngọn. Nụ hoa được bao bọc trong một đài hoa màu xanh lục, nhọn giống như cái nắp, được tạo bởi hai lá đài hợp nhất, không giống như hầu hết các bông hoa, chúng được ôm lấy đài hoa từ bên dưới. Khi hoa bắt đầu nở, đài hoa sẽ mở ra và rụng đi, để lộ một bông hoa có lông tơ nằm trên một cái khay màu hồng hình tròn, vẫn còn trong giai đoạn ra hoa và kết hạt của cây.
Ban đầu, hoa bốn cánh, có màu vàng đặc trưng, mặc dù đôi khi có màu vàng, có hình dạng của đài hoa, lớn hơn ở phần gốc và quấn chặt thành một điểm trên đỉnh. Khi nó bung ra, nó trở nên hình trụ hơn, và sau đó bung ra các cánh hoa để trở thành một chiếc cốc giống như chén Thánh, có đường kính từ 5 đến 10 cm. Bốn cánh hoa nhung mềm mại rực rỡ hơi chồng lên nhau để bao phủ một khoảng không bên trong ánh sáng lóe vàng, nơi có nhụy hoa. Những bông hoa tỏ rõ mối liên hệ mật thiết của chúng với ánh sáng mặt trời, chúng mở ra vào giữa buổi sáng, sau đó khép lại vào chiều tối, khi ánh sáng tắt dần. Ngay cả ban ngày, nếu trời nhiều mây, hoa sẽ khép lại và chỉ mở a khi có ánh nắng.
Đặc biệt, vào cuối chu kỳ ra hoa của Anh Túc, các cánh hoa rụng đi để lộ một vỏ hạt thuôn dài. Vỏ hạt chín từ màu xanh lá cây sang màu nâu, sau đó tự tách ra để rơi những hạt nho nhỏ màu đen, có bề ngoài tương tự như hạt anh túc dùng trong thực phẩm.
Theo nhà toán học và là khoa học gia Richard Katz và vợ là giáo sư Patricia Kaminski, đồng chủ tịch của hội “Flower Essence Society” Hiệp Hội Tinh Hoa Hoa (FES) là một tổ chức thành viên quốc tế bao gồm các nhà y tế, nhà nghiên cứu, sinh viên và những người khác quan tâm đến việc đào sâu kiến thức về liệu pháp tinh chất hoa, thì hoa “California Poppy” Anh Túc “Chén Vàng” có những dược tính trị bệnh vô cùng tuyệt vời.
Trong một bài nghiên cứu của đôi vợ chồng khoa học gia Richard Katz và Patricia Kaminski trên trang nhà The Flower Essence Society, họ cho biết, rất lâu trước khi người châu Âu đến Tân Thế Giới, các dân tộc người Mỹ bản xứ đã sử dụng các chế phẩm khác nhau của cây Anh Túc California để chữa các chứng bệnh thông thường như đau răng, đau đầu, đau dạ dày, và họ còn dùng hoa Anh Túc như một loại thuốc trợ giúp giấc ngủ cho trẻ em. Nước cất của hoa Anh Túc California hiện được sử dụng như một loại thuốc an thần và giảm đau nhẹ, và cũng dùng như một loại thuốc chống lo âu trầm cảm. Tuy rằng hoa Poppy có họ xa với cây thuốc phiện là “Papaver Somniferum,” California Poppy không chứa thuốc phiện, không gây nghiện, và rất an toàn. Chất an thần chiết xuất từ hoa Anh Túc rất hữu ích trong việc đối phó với nhiều dạng đau, tuy nhiên, tinh chất cồn Anh Túc rất đắng, một hương vị ít được ưa trong chế độ ăn uống tiêu chuẩn của Mỹ nhưng lại kích thích tốt hệ tiêu hóa và miễn dịch.
Có lẽ vì hoa Anh Túc quá đặc biệt, cho nên hoa được chọn làm Hoa Vương đại diện cho tiểu bang California. Theo trang nhà của chính phủ Tiểu bang Cali, “Department of Fish and Wildlife California,” vào ngày 2 tháng 3 năm 1903, hoa Anh Túc California, tức “Eschscholzia Californica,” được công nhận trở thành hoa đại diện chính thức của California, “Tiểu bang Vàng” (CA. Government Code Section 421- CA. Bộ luật Chính phủ – Mục 421). Những bông hoa màu cam rực rỡ của loài cây này là một biểu tượng không gì sánh được của Golden State, được xem như một loài hoa đại diện cho “những cánh đồng vàng” được tìm kiếm trong cơn sốt tìm vàng ngày xưa. Hoa Anh Túc California thường nở vào mùa Xuân và mùa Hè dọc theo các con đường nông thôn và xa lộ trên khắp tiểu bang, cho nên loài hoa này trở thành biểu tượng rất dễ nhận biết của California, và ngày 6 tháng 4 hàng năm chính thức được coi là “Ngày Hoa Anh Túc California.”
Cũng theo trang web này, người ta thường nói rằng có luật cấm chặt hoặc làm hư cây Anh Túc California vì nó là hoa của tiểu bang. Mặc dù không có luật nào bảo vệ đặc biệt cho cây Anh Túc California, trong Bộ Luật Hình Sự California, Mục 384a, yêu cầu chủ đất cho phép bằng văn bản để di dời và bán nguyên liệu thực vật mọc dại từ đất mà một người không sở hữu, và loại nếu bỏ hoặc làm hư hại cây khỏi tài sản mà một người không sở hữu mà không được cho phép có thể cấu thành hành vi xâm phạm/hoặc trộm cắp vặt. Tuy nhiên, những luật này không ngăn cản việc chủ đất thu hái hoa anh túc ở California trên đất tư nhân. Anh Túc California là một loại cây đẹp và dễ trồng bổ sung cho khu vườn của bạn, và mặc dù bạn có thể chọn hái chúng từ tài sản của mình, nhưng chúng tồn vẫn còn tại mãi trong đất!
Khoa học gia Richard Katz đã kết luận trong bài nghiên cứu rằng, hoa Anh Túc “California Poppy” thực sự là một loài thực vật của mặt trời, chúng mở ra và đóng lại để đáp lại ánh sáng chói lọi và nảy nở trên những đồng cỏ rộng mở đầy ắp nắng. Tán lá thoáng mát giống như lông vũ, màu sắc rực lửa xuyên qua cả lá và quá trình kết hạt mạnh mẽ cũng là dấu hiệu cho thấy đặc điểm khí và lửa mạnh mẽ của nó. Hình thức và cử chỉ nguyên mẫu của loài hoa này liên quan đến sự phân cực của sự chứa đựng bên trong và sự chuyển động bên ngoài. Các yếu tố biểu cảm, di động của lửa và không khí vốn là đặc điểm nổi bật của cây Anh túc California. (Flower Essence Society).
Tóm lại, khoa học gia Richard Katz và Giáo sư Patricia Kaminski nói rằng, thật là phù hợp khi California Poppy được chọn là Hoa Vương của tiểu bang California, vì chắc chắn California đã phản ánh nhiều khía cạnh của trạng thái ý thức tâm hồn này: Cơn sốt vàng California ngày trước, sự lấp lánh và hào nhoáng của Hollywood, những tín ngưỡng lôi cuốn…. Hoa Anh Túc Cali dường như có thể giúp linh hồn tập hợp lực lượng ánh sáng và hơi ấm để chúng có thể tỏa ra bên trong “chén Thánh của trái tim” như một sự hiện diện lâu dài.
Ánh sáng của trái tim này là một dạng của “Vàng tâm linh.” Cho nên, có thể nói, Anh Túc California thật xứng danh là Hoa Vương của “Vùng Đất Vàng” miền Tây nước Mỹ.
Phương Hoa
**Nguồn tài liệu tham khảo:
http://www.flowersociiety.org//california-poppy.htmll
https://wildlife.ca.gov/Conserrvation//Plants/California-Poppyy

Hoa Vương Poppy Và Chuyện Tình Người Nhạc Sĩ

 
Thuở còn thơ ấu tôi rất thích màu vàng, màu vàng tươi của hoa Vạn Thọ, vì mỗi lần hoa nở là Tết đến, là tôi được dịp ăn ngon, mặc quần áo mới, và nhất là được nhận bao đỏ lì xì mừng tuổi. Tuổi học trò, tôi mê thơ Nguyên Sa nên cũng thích màu vàng. Chiếc áo dài màu đầu tiên ngoài áo trắng học trò tôi đã chọn màu vàng để cho “ai đó” về mà yêu hoa cúc. Lớn lên tôi học được, màu vàng là sự tươi vui của mặt trời mọc, là trí tuệ, năng lực, và hạnh phúc. Tôi yêu tất cả các loại hoa vàng, nhưng vẻ đẹp của Hoa Vương California đã làm tôi xúc động không ngờ khi lần đầu được gặp.
Sống trên nước Mỹ, cái đất nước “có quá nhiều chuyện lạ” này, dù tôi luôn cố gắng học hỏi để hội nhập nhưng càng cố thì tôi lại càng cảm thấy mình dốt tệ. Tôi thích trồng nhiều loại hoa trong vườn và thường tìm hiểu về các loài hoa lạ. Thế mà tôi lại hoàn toàn mù tịt, không hề biết đến một loài hoa màu vàng đẹp kiêu sa đã được công nhận là “Hoa Vương” của California, tiểu bang tôi đang sống.
Để duy trì việc tập thể dục, mỗi buổi chiều sau khi đi làm về, tôi và nhà tôi thường tản bộ dọc theo đường phố lớn gần nhà. Con phố cũng khá dài, hai lượt đi về là quá đủ cho một lần “ết xơ xai.” Một hôm đi được nửa đường nhà tôi chợt đổi ý rẽ về hướng Bắc.
– Mình qua phía bên kia xem thử con đường này dẫn đến đâu. Ông ấy nói.
Tôi cũng vội bước theo. Đến cuối đường thì gặp những bậc thang đúc bằng xi măng dẫn lên trên bờ đê cao ngất ngưởng. Tò mò, chúng tôi đánh liều dò dẫm trèo lên. Vừa đi vừa đếm, tôi đếm được ba mươi hai cấp thì lên tới đỉnh.
Cái nóng chiều hè oi bức cộng với việc dùng sức để trèo làm tôi ngột ngạt, mồ hôi vã ra ướt áo. Bước lên khỏi cấp sau cùng thì tôi mệt lả, hai cái đầu gối muốn…sụm bà chè. Nhưng rồi một luồng gió mát rười rượi thổi qua làm tôi chợt thấy khỏe khoắn hẳn ra, như thể vừa rời khỏi nhà tắm hơi ở trung tâm thể dục. Tôi dang tay hít một hơi dài bầu không khí trong lành ấy. Đứng trên bờ đê cao vời vợi nhìn xuống quang cảnh hai bên, tôi xúc động đến sững sờ, cùng lúc cái cảm giác tiếc hùi hụi là đã không biết sớm hơn việc có thể đi bộ trên bờ đê.
Con đê được đắp cao ngang tầm với nóc của những ngôi nhà hai tầng gần đó. Mặt đường tráng nhựa, nhưng triền đê thoai thoải như mái nhà là đất sỏi nên hoa cỏ dại mọc đầy. Bên này đê là nhà ở với phố xá sầm uất, còn bên kia là vườn cây ăn trái và cánh đồng lúa bạt ngàn giống y chang chốn quê nhà. Lòng đầy thích thú, chúng tôi rảo bước để thưởng thức cảnh đồng quê mà sau mấy chục năm sống ở Mỹ bây giờ mới thấy.
Đến gần con mương đầy nước chạy dọc dưới chân đê vòng vèo theo vùng ruộng thênh thang chẳng thấy bờ, tôi ngắm không mỏi mắt cánh đồng lúa đang lên, xanh ngát một màu. Vài con cò trắng đang xếp cánh đứng rình mồi bỗng giật mình bay vụt lên khi chúng tôi bước tới. Nhìn chiếc máy bơm tự động ùng ục xả nước, bọt tung trắng xóa đổ vào sở ruộng, tôi chạnh lòng nhớ lại ngày xưa, những tháng ngày sau năm 75 bị đày đi vùng kinh tế mới. Ruộng tốt phì nhiêu dẫn thủy nhập điền ông bà để lại ở quê nhà đã bị chia cho thiên hạ. Còn chủ cũ thì phải lên sống trên rừng, tập dùng những dụng cụ thô sơ để phát quang, dọn rẫy trỉa bắp, trồng khoai. Mùa lúa thì phải tát nước từ dưới suối lên ruộng cao. Bất chợt tưởng tượng lại cảnh tập tát nước gầu dây, nhớ lần tôi bị chiếc gầu đầy nước lôi té nhào xuống suối mà rùng mình. Tôi lắc đầu, xua đi hình ảnh cũ và tiếp tục bước.
Qua khỏi cánh đồng lúa là vùng đất thổ trồng almond, đào, mận, và walnut. Từng hàng cây thẳng tắp khoe mình với dày đặc bông hoa, sắc hồng lẫn sắc trắng nuột nà, hứa hẹn cho một thu hoạch lớn trong mùa tới. Xa hơn về hướng Tây, gần bờ đê có vài đoạn còn là rừng cây nguyên thủy, với con suối nhỏ chảy uốn lượn theo bìa rừng. Nhiều lùm cây tủa ra những chùm hoa hình tháp đỏ tươi to bằng bắp hoa cau. Các loại hoa trái rừng đủ màu mọc lẫn lộn từ trong rừng ra hai bên bờ suối. Tiếng chim ríu rít, hương hoa thơm ngát không gian, từng đàn se sẻ cùng bướm ong bay lượn nhộn nhàng. Quả thật phong cảnh nơi này có thể làm cho người ta quên đi mọi điều thế sự.phiền hà đau khổ trên thế gian.
Bên kia khúc quanh của khu rừng già là một vùng cây cối thấp. Tạo hóa cũng khá công bình, đã cho các loài hoa cỏ mong manh cơ hội khoe mình dưới ánh dương. Nhìn thấy chùm cỏ lau màu đỏ sậm thật đẹp mắt, tôi đưa chiếc điện thoại lên chụp hình, chợt phát hiện loài hoa thật lạ bên kia đám cỏ lau. Tôi bước lại gần, rồi tròn mắt lặng nhìn. Một rừng hoa sắc vàng sáng chói trải dài từ triền đê xuống tận bờ suối, lan vào rừng. Giống hệt như một mái nhà vàng! Một niềm cảm xúc dạt dào chợt trào dâng trong tôi khi nhìn loài hoa dại mỹ miều, như thể chàng trai mới lớn lần đầu tiên gặp cô gái đẹp. Lòng rộn ràng, tôi cúi xuống quan sát thật tỉ mỉ. Những đóa hoa mỏng manh nhưng lại tràn đầy sức sống. Hoa chỉ có bốn cánh giản đơn hình quạt, đan kết chồng lên nhau thành hình chiếc bát ăn cơm. Giữa lòng đóa hoa có một viền tròn đỏ. Và chùm nhụy phấn kiêu sa từ đó dựng lên tua tủa, trông như chùm len ngắn màu vàng được cột túm gốc bằng sợi dây đỏ.
Không dằn được lòng yêu thích, tôi chọn một bông hoa to nhất, vạch lá ra, thò tay định ngắt để điệu đàng cài lên tóc và kêu nhà tôi chụp mấy tấm hình. Nhưng tôi bỗng giật nẩy mình vì có tiếng ai đó hét lớn thật gần:
– “NO!” Không được làm thế!
Hết hồn, tôi dừng tay ngẩng lên. Một người đàn ông chẳng biết từ đâu ra lù lù đứng đó, miệng hét, tay xua lia lịa. Anh ta vào khoảng dưới bốn mươi. Vóc người không cao, tóc đen da trắng, bộ ria mép rậm rạp đen kìn kịn trông rất dữ dằn. Áo thun ngắn tay màu gỗ dính đầy đất bụi, quần jean bạc thếch lấm lem càng tăng thêm vẻ bụi đời. Nếu lúc đó không có mặt nhà tôi, có lẽ tôi đã sợ đến chết khiếp.
Nhưng anh ta chào tôi thật hiền: -“Hola!” Thì ra anh ta là một người Mễ, “Hola” là xin
chào. Rồi anh ta tiếp tục khoát tay, vẻ mặt rất là nghiêm trọng: – Đừng bẻ những đóa hoa này! Đi tù đấy! Đây là “State Flower,” là hoa biểu tượng cho tiểu bang California.
– State Flower? Trời ơi! Vậy mà tôi đâu có biết!
Tôi kêu lên trong sợ hãi, mặt mày tái mét. Tôi đã từng nghe qua luật lệ nước Mỹ, nếu ai chọi chết một con chim hay bẻ cành hoa thì sẽ bị bắt, bị phạt. Nhưng vì mê loài hoa đẹp, tôi đã không nhớ đến, lại tưởng rằng hoa dại trên rừng thì mình ngắt một bông để chụp hình chơi chắc cũng đâu có sao. Không ngờ là tôi đã “đụng” phải Hoa Vương. Thật là hú vía! Tôi cám ơn anh ta rối rít rồi hỏi tên của loài hoa.
– Đây là hoa “Poppy.” Anh ta nói.
Biết anh ta đi làm vườn về, nói giọng tiếng Anh gãy vụn, tôi ngỡ anh không giỏi tiếng Anh như phần đông những người Mễ làm vườn khác. Tôi bèn dùng thứ tiếng Tây Ban Nha ngọng nghịu từng học được ở trên đại học ngày trước để trò chuyện làm quen. Anh cho biết tên là Fernando và tỏ ra thích thú khi thấy tôi nói được tiếng Spanish. Nhưng chỉ sau một số câu xã giao tên tuổi thông thường thì tôi bị tịt ngòi. Và anh ta trở lại nói tiếng Anh, giọng rất…Mễ:
– Chính tôi cũng đã từng bị tù vì hái loại hoa này trong một lần tôi say rượu!
– Ồ!
Tôi kêu lên, định hỏi thêm. Nhưng Fernando bất chợt đưa mắt nhìn sững xuống đám hoa vàng dưới chân tôi, ánh mắt anh trở nên thật lạ, thật buồn. Rồi anh ngẩng lên, chào vội vã: – “Bye!” và xoay mình rảo bước thật nhanh về hướng thành phố.
Chúng tôi ngạc nhiên cùng dõi mắt nhìn theo.
– Kỳ thật! Tôi lẩm bẩm.
– Chắc là ông ấy buồn nhớ về một kỷ niệm nào đó khi nhắc đến loài hoa này. Nhà tôi nói. – Ông ta chẳng đã nói là từng bị tù vì chúng đó sao.
Chụp thêm mấy tấm hình nữa thì tôi đòi về, dù lòng rất muốn đi tiếp khi nhìn về phía trước thấy còn nhiều hoa cỏ xinh tươi. Fernando người đàn ông Mễ có đôi mắt buồn não nuột và thái độ kỳ lạ đó đã làm tôi bần thần suốt cả chặng đường về.
Về đến nhà là tôi phóng ngay lên internet để tìm hiểu về hoa Poppy. Bấy giờ tôi mới biết, đây là loài hoa đã được California công nhận là Hoa Vương của tiểu bang từ năm 1903. Hoa Poppy còn có tên là “Flame Flower” (hoa lửa), và “Cup of Gold” (chén vàng). Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, ngoài vẻ đẹp vương giả, hoa Poppy còn có công dụng tuyệt vời để chế thuốc điều trị cho con người như an thần, giảm đau, hạ cholesterol…
Vài tuần sau đó, ngày Chúa Nhật chúng tôi đi chợ trời ở thành phố kế bên. Vào khu hoa quả và rau trái, trong thoáng chốc, tôi bỗng quên là mình đang đứng tại một khu chợ trên đất Mỹ. Ở đây bày bán không thiếu một loại rau trái nào bên quê nhà. Từ đu đủ, mãng cầu, xoài, ổi đến rau muống, rau lang, cải làng, mồng tơi, sắn nước…Tôi mua mỗi thứ một ít rồi theo nhà tôi đi qua nơi khác.
Chúng tôi lại gần khu vực ăn uống và giải khát của người Mễ thì nghe tiếng hát và tiếng nhạc rộn ràng. Nhiều người đứng vây quanh trước cửa một hàng nước, trên tay họ cầm ly nước hay thức ăn, vừa nhún nhẩy theo điệu nhạc. Tôi chen chân nhìn vào. Giữa rừng người là ban nhạc và một người đàn ông ôm đàn ghi ta vừa đàn vừa hát. Anh ta đang trình diễn bài hát nổi tiếng của người Mễ, “Bésame Mucho” (của nhạc sĩ người Mễ Consuelo Velázquez) tên tiếng Anh là “Kiss Me A Lot” (Hôn Tôi Thật Nhiều) mà tôi đã từng nghe đến thuộc lòng, và rất thích, mỗi lần đến nhà làm bài chung với cô bạn Mễ Balvina khi còn đi học:
“Hãy hôn tôi, hôn tôi thật nhiều!
Như đêm nay là lần cuối
Hôn tôi, hôn tôi thật nhiều
Vì tôi rất sợ mất em, em yêu! (tạm dịch)
Người nhạc sĩ có bộ ria mép đen đội chiếc nón rộng vành màu kem cột giải băng đà; áo ngắn tay hoa sặc sỡ; chiếc nịt bảng màu đen to tướng với nhiều lỗ mắt cáo lấp lánh bạc; quần jean màu vàng nhạt ống loe dài lết phết; và đôi giày da bò lúc ẩn lúc hiện sau mỗi bước nhảy hay cú xoay mình của anh ta. Bàn tay vung vẩy, những ngón tay anh tất bật chạy lướt trên dây đàn, thân hình uốn éo theo điệu nhạc, khi thì cúi gập người, khi ngẩng mặt lên, nghiêng tả rồi nghiêng hữu. Giọng ca trầm ấm, anh đàn hát một cách say sưa như thả hồn vào bài ca. Anh hát mà không nhìn khán giả, như thể đó là thế giới chỉ riêng anh.
– Thật tuyệt vời! Nhà tôi khen.- Nhưng sao anh ta trông quen quen nhỉ?
Bây giờ tôi mới chú ý và nhìn kỹ anh ta hơn. – Ồ! Đó là Fernando! Tôi nhận ra người đàn ông Mễ chúng tôi gặp trên bờ đê hôm nào. Không ngờ ngoài công việc làm vườn anh ta còn là một nhạc sĩ và lại hát hay đến thế!
Khi Fernando ngừng hát và ban nhạc nghỉ giải lao, người ta tản ra đi mua sắm. Chúng tôi muốn chào anh nên ngồi xuống cái bàn nước gần đó. Chưa kịp gọi thức uống thì anh đã nhận ra chúng tôi và bước lại, giọng vui vẻ:
– Hello friends! Anh chị đi mua đồ hả?
Tôi nhớ lại chuyện xém bẻ hoa, thầm cám ơn anh ta nên gọi mời anh ly nước trái cây. Vừa uống nước chúng tôi vừa nói chuyện. Thì ra Fernando là người hàng xóm, sống chỉ cách nhà tôi một block đường ở phía sau lưng. Anh cho biết, ngoài công việc làm vườn anh còn là một nhạc sĩ nghiệp dư, được ban quản lý khu chợ trời này thuê đến chơi đàn mỗi tuần một lần để giúp vui cho khách hàng. Fernando còn chơi đàn tại một ba rượu ở thành phố kế cận nữa. Thế là chúng tôi trở thành bạn bè sau hôm ấy.
Nghe Fernando nói anh có bốn đứa con, mỗi khi nhà nấu món gì nhiều, hay làm thí nghiệm bánh trái, tôi thường đem san sẻ bớt cho mấy đứa nhỏ. Lần nào mang đồ ăn qua, tôi cũng chỉ đứng ngoài gõ cửa đưa vào chứ không vô nhà. Cho đến một hôm Fernando mời chúng tôi cuối tuần thứ Bảy qua nhà anh để thử món bánh bắp “Tamale” do vợ và mẹ anh làm.
Trưa thứ Bảy hôm đó tôi chiên một ít chả giò rồi cùng ông xã đến thăm nhà người hàng xóm. Đi chưa tới cửa đã nghe tiếng nhạc dập dồn từ nhà vọng ra. Tôi cười thầm. Bạn tôi từng nói, “Nhà không có nhạc không phải là nhà Mễ, đám cưới không đi trễ không phải người Việt Nam” có lẽ đúng. Khoảng bảy tám đứa trẻ đang đùa giỡn rượt đuổi nhau trước sân cỏ. Fernando chờ sẵn nơi cửa vui vẻ đón khách vào nhà. Mặt mũi hồng hào, người anh phảng phất mùi bia. Chắc cũng là một cây nhậu đây, tôi nghĩ. Anh vặn nhạc nhỏ lại và mời chúng tôi ngồi, sau khi đem cây đàn ghita trên ghế sofa đi cất. Như phần đông người Mễ, tôi biết gia đình này theo Kitô Giáo, vì có chưng bức hình Đức Mẹ Maria bồng Chúa Hài Đồng thật lớn.
Bên phía bếp vọng ra âm thanh cười nói bằng tiếng Spanish, líu ríu như tiếng chim, cùng mùi thức ăn thơm ngào ngạt. Tôi đem hộp chả giò vào bếp. Mẹ Fernando dừng tay nấu nướng chào tôi, rồi đến vợ anh, Maria, và vài người nữa cũng xoay lại cười nói “Hola!” Tôi biết phần đông phụ nữ Mễ không nói nhiều tiếng Anh nên tôi cũng chào lại họ bằng thứ tiếng Spanish lõm bõm làm họ cười vang thích thú.
Gia đình Fernando đang sống với mẹ và ba gia đình nhỏ của hai chị và anh trai. Từ lâu tôi biết, người Mễ sống cũng tình cảm không kém gì người Việt Nam. Nhất là tình cảm gia đình, họ luôn giúp đỡ bảo bọc lẫn nhau, chứ không xa cách rạch ròi như người Mỹ. Nhưng có đến bốn gia đình đông con và người mẹ già, cùng sống chen chúc trong căn nhà bốn phòng ngủ mà họ vẫn hạnh phúc, vui vẻ tiệc tùng, ca nhạc, thì chắc chắn là người Việt cũng phải ngả nón chào thua. Cảm thấy hơi nóng từ bếp tỏa ra, Fernando nói:
– Chốc nữa tôi sẽ giới thiệu anh chị với cả nhà, bọn họ ở trong phòng. Còn phải đợi các bà một tí nữa, mình ra sau patio đi. Ở ngoài đó thoáng mát hơn.
Nói xong anh bước lại tủ lạnh ôm một mớ chai bia Corona, và đưa chúng tôi ra sân sau.
Có một cái bàn dài và tám cái ghế bày sẵn ngoài patio. Bên cạnh là chiếc lò barbecue to tướng còn đầy nhóc tro như vừa nướng xong ngày hôm trước. Maria vợ anh vội vàng bưng ra một đĩa bánh bắp Tamale còn nóng hôi hổi và đĩa muối có mấy lát chanh xắt mỏng. Chị đặt xuống bàn, miệng cười cười chỉ vào đĩa bánh rồi quay lưng đi vô.
– “Muy bien! Gracias!” (Ngon quá! Cám ơn!) Tôi kêu lên trầm trồ vài tiếng Tây Ban Nha. Chị xoay lại cười và nói một tràng dài tiếng Mễ, nhưng tôi chẳng hiểu gì cả. Đây là món bánh bắp nổi tiếng của người Mễ, ngon không kém gì bánh giò gạo của người Việt. Chỉ khác là bánh làm bằng bột bắp, nhân thịt trộn nhiều đậu, cheese, và gói bằng vỏ trái bắp chứ không phải lá chuối.
Nhanh nhẹn và thuần thục, Fernando chụm hai chai bia lại với nhau khảy một cái, nắp chai văng ra gọn gàng rồi đưa cho nhà tôi một chai. Anh khui chai nữa cho mình, rắc tí muối và vắt chanh vào, lắc vài cái rồi đưa lên miệng tu một hơi. Hai người đàn ông vừa uống bia vừa múa máy tay chân trò chuyện.
Tôi không uống bia, chỉ lấy một cái Tamale mở ra cho vào đĩa rồi lại ngồi ở góc bàn. Vừa nhẩn nha thưởng thức tôi vừa rảo mắt nhìn bâng quơ. Vườn khá rộng, có nhiều cây xanh và hai cây táo trái sai trĩu cành. Một chậu kiểng lớn bằng sứ trắng có hoa văn xanh đậm nằm bên góc trái patio đập vào mắt tôi. Là chậu hoa Poppy. Trong chậu chỉ vỏn vẹn một bụi hoa, nhưng xanh tốt um tùm, và cao lớn gấp đôi hoa Poppy mọc dại trên bờ đê. Cuống hoa vươn cao yểu điệu, những đóa hoa hình chén vàng rực nuột nà, lắt lay trong gió như mời gọi bướm ong.
– Đẹp quá! Tôi buột miệng trầm trồ. – Anh cũng có trồng hoa Poppy trong nhà hả? Nhưng sao hoa đẹp thế mà anh trồng chỉ có một cụm?
Fernando đang vui vẻ nốc bia và cười nói chuyện gì đó với nhà tôi rất sôi nổi. Vừa cầm chai bia
đưa lên miệng định uống tiếp, nghe tôi hỏi thế anh bỗng khựng lại, đặt vội cái chai xuống bàn. Mắt nhìn đăm đăm vào chậu hoa, vẻ mặt hồng hào vì bia của anh chợt biến đổi trở nên u tối, buồn thảm một cách lạ lùng. Nhìn một lúc, anh nói giọng thì thào:
– Tôi trồng nó để nhớ đến người yêu đầu đời của tôi. Chậu Poppy này tôi trồng cũng đã gần mười năm rồi, kể từ khi gia đình tôi dọn đến nhà này…
– Ồ, vậy sao? Tôi háo hức hỏi và bưng đĩa bánh chạy vội lại ngồi đối diện với Fernando, thầm nghĩ chắc anh đã từng có một cuộc tình đầy lãng mạn. -Vậy thì cô ấy không phải là Maria rồi. Thế cô ấy hiện giờ ở đâu? Tại sao hai người lại không đến được với nhau?
– Cái bà này! Nhà tôi quay sang, nói tiếng Việt. – Hỏi gì mà liên tu bất tận không đợi người ta trả lời thế!
Lúc nào tôi cũng bị ông ấy la về cái tật hỏi dồn hỏi dập mỗi khi nghe câu chuyện hấp dẫn. Nhưng Fernando tỏ vẻ không phiền. Anh buồn bã lắc đầu rồi từ tốn nói:
– Không! Không phải Maria! Cô ấy tên là Alisa. – Chị có nhớ cái lần tôi ngăn không cho chị bẻ hoa Poppy trên bờ đê không?
– Đúng rồi, tôi nhớ chứ! Tôi đáp. –Tôi rất cám ơn anh. Tôi còn nhớ anh có nói là anh đã từng bị đi tù vì bẻ hoa Poppy.
– Phải! Tôi đã ngắt hoa Poppy để tặng mừng sinh nhật cho Alisa vì thấy cô ấy thích. Khi đó tôi mới tới Mỹ chưa được bao lâu nên không biết luật lệ gì hết, cứ nghĩ hoa dại trên rừng ai cũng bẻ được.
Có lẽ hơi men đã làm cho người bạn Mễ mủi lòng, dễ dàng trút bầu tâm sự. Chỉ sau vài câu hỏi “khơi mào dẫn lộ” của tôi là anh kể hết. Hớp một ngụm bia, Fernando bắt đầu chia sẻ với chúng tôi về mối tình đầu đầy gian truân khổ ải của anh và cô gái tên Alisa.
– Tôi quen Alisa trong ngày lễ Quinceanera của cô ấy. Hồi đó, tôi mới mười tám tuổi, là một nhạc sĩ nghiệp dư chơi đàn guitar cho một ban nhạc “bỏ túi” chuyên trình diễn ở đám cưới và các lễ hội…
Lễ Quinceanera thì tôi cũng biết. Tôi đã có lần tham dự buổi lễ “tuổi mười lăm ngọt ngào” thú vị này của con một người bạn Mễ cùng lớp. Theo phong tục lâu đời của người Mễ, lễ Quinceanera, là lễ “Thành nhân,” được tổ chức vào đúng sinh nhật thứ mười lăm của các cô gái.
Theo lời Fernando kể, gia đình Alisa cũng thuộc vào hàng khá giả, nên buổi lễ Quinceanera của cô được tổ chức rất trang trọng, qui mô, không khác gì một đám cưới. Theo truyền thống, cha mẹ cô gái tốn thật nhiều tiền bạc và thời gian tổ chức buổi lễ trọng đại này là để đánh dấu giai đoạn từ giã trẻ thơ trở thành người phụ nữ, để tạ ơn Thượng Đế đã ban phúc cho cô, và để giới thiệu cô với cộng đồng.
Thường thì Quinceanera được bắt đầu bằng một buổi Thánh Lễ trang trọng tại nhà thờ vào buổi
sáng. Cô thiếu nữ lộng lẫy với áo đầm trắng dài thướt tha, nữ trang đeo đầy người y hệt một cô dâu, cùng cha mẹ và họ hàng bè bạn đến nhà thờ làm lễ. Thú vị hơn nữa, theo sau buổi lễ là bữa tiệc thật linh đình và đêm dạ vũ. Cô gái sẽ được phép khiêu vũ lần đầu tiên trong đời. Sau khi người cha dìu cô những bước đầu tiên thì thực khách lần lượt ra nhảy với cô. Hầu hết những thực khách, cả nam lần nữ, được khiêu vũ với bông hoa vừa trưởng thành đều tặng cô một số tiền để làm quà. Trước khi bản nhạc chấm dứt, bằng một động tác xoay mình điêu luyện họ nhét tiền vào ngực áo cô.
Fernando cho biết, lần đầu tiên nhìn thấy Alisa, anh đã bị mê mẩn tâm thần, tới mức đánh đàn lỗi nhịp. Đến mục khiêu vũ thì anh không chần chờ được nữa, bèn năn nỉ người bạn chơi thay, cho anh được một lần dìu bước cô đi.
– Tôi tìm cách che mắt mọi người và kín đáo nhét vào ngực cô ấy một mảnh giấy nguệch ngoạc vài lời hẹn gặp, thay vì tặng tiền như bao người khác. Anh nói giọng thẩn thờ. – Vậy mà cô ấy cũng chịu gặp tôi sau đó. Thế là chúng tôi yêu nhau.
Cũng theo phong tục, sau lễ Quinceanera của tuổi mười lăm, cô gái có quyền được yêu, được hò hẹn với bạn trai, thậm chí lấy chồng. Nhưng hai người yêu nhau đến hơn một năm mà chưa cưới, vì Fernando được mẹ bảo lãnh sắp đi đoàn tụ Mỹ nên anh sợ giấy tờ bị trục trặc. Một tuần lễ trước khi Fernando từ giã lên đường đi Mỹ, mỗi ngày anh cùng Alisa dắt nhau đi chơi khắp mọi nơi đến khuya lắc mới về. Anh hứa với Alisa sau khi đến Mỹ ổn định sẽ về lại Mexico làm đám cưới và bảo lãnh cô.
Ngờ đâu Fernando đi Mỹ được hai tháng thì Alisa phát hiện mình đã có thai. Vừa thương nhớ người yêu, vừa sợ cha mẹ la rầy, cô bèn tính chuyện vượt biên giới vào Mỹ. Alisa có đến sáu người anh, chỉ mình cô là gái, nhưng cô thân thiết và tin tưởng nhất người anh kế lớn hơn cô hai tuổi. Và cô được anh giúp tìm đường dây vượt qua biên giới. Alisa liên lạc với Fernando, hẹn anh đến đón cô ở gần biên giới.
Kể đến đây, Fernando bỗng dưng sững lại, bàn tay anh run rẩy cầm lấy chai bia bóp mạnh. Đôi mắt vốn đã mọng đỏ vì bia, bây giờ những tia gân máu càng thêm hiện rõ lên như những con giun đỏ li ti đang ngọ ngoạy, làm cho ánh mắt của anh như có lửa.
– Đáng lẽ tôi phải quyết liệt can ngăn, không cho cô ấy vượt biên giới mới đúng! Anh lẩm bẩm, lấy tay vò đầu. – Giá mà nhà cô ấy nghèo, không có tiền để cô trả cho tụi dẫn đường! Giá mà người anh trai cô đừng giúp…
Nói xong anh vồ lấy một chai bia khác, hùng hổ khui ra, rồi đưa lên miệng nốc ừng ực một hơi đến cạn, không cần bỏ muối cũng chẳng có chanh. Uống xong anh đặt mạnh cái chai không xuống bàn đánh bộp, rồi đưa tay quệt những giọt bia tràn ra hai bên mép.
– Thế cô ấy không đi trót lọt qua biên giới à? Tôi hồi hộp hỏi.
– Tôi ước gì cô ấy đã không đi lọt! Anh nói giọng giận dữ. – Alisa được những người dẫn đường kéo bừa, dù cô ấy đang mang thai gần bốn tháng, chui qua một lỗ hàng rào mà bọn chúng đục khoét, cùng với mấy người nữa. Bọn họ đã bị cào xước rách hết quần áo và chảy máu.
Fernando đã y hẹn đến đón người yêu ở gần biên giới Mỹ Mễ và đưa về nhà. Niềm vui
hội ngộ thì vui vô cùng tận với bè bạn và tiệc tùng tiếp theo. Nghỉ phép được mấy hôm Fernando đi làm trở lại. Anh đưa cô người yêu xinh đẹp đến cánh đồng nơi anh làm việc để giới thiệu với những người bạn tay lấm chân bùn. Đi ngang qua khu rừng hoang dọc bờ đê, gặp đám hoa Poppy vàng óng ánh, Alisa dừng lại ngắm và trầm trồ không ngớt. Cô còn nói với Fernando là muốn trồng loại hoa này trong vườn để ngày ngày được nhìn ngắm chúng.
Điều này đã đưa Fernando đến việc ngắt một bó hoa Poppy trong rừng để đem về tặng cho Alisa trong ngày sinh nhật của cô sau đó.
– Và anh đã bị bắt khi hái hoa? Tôi nôn nóng hỏi.
– Phải! Chẳng những bị bắt, bị tù, mà còn bị phạt tiền nữa, vì, xui cho tôi hôm ấy tôi đang ngà ngà say sau một cuộc nhậu mà còn lái xe đi đến khu rừng để bẻ hoa poppy. Tôi đã mất, mất tất cả!
– Trời! Thật là không may cho anh! Nhà tôi ngồi lắng nghe tự nãy giờ không nói một câu, bây giờ lên tiếng. – Thế anh bị tù có lâu không?
– Đi tù thì có nhằm nhò gì đối với sự mất mát to lớn của tôi chứ!
Anh lè nhè thêm gì đó bằng tiếng Spanish, nét mặt lộ vẻ đớn đau cùng cực. Hình như anh đã quá say. Chúng tôi cùng ngồi im lặng nhìn anh.
Tôi hồi hộp đợi chờ, linh cảm Fernando sẽ kể ra một điều gì đó rất trọng đại, bất thường. Cuối cùng thì anh cũng mở miệng được để kể nốt câu chuyện đau lòng. Sau khi anh bị bắt, ở nhà Alisa bỗng phát bệnh. Cô bị nhiễm trùng uốn ván Tetanus vì những vết trầy xước lúc chui rào qua biên giới. Vì là người nhập lậu, cô không dám kể bệnh tình với người nhà của Fernando, sợ bị đưa đi bệnh viện rồi bị bắt, bị trả về. Cả nhà đều bận đi làm, và vì cô không nói nên chẳng ai biết đến bệnh tình của cô.
– Đến khi quá nặng, người nhà tôi biết được gọi xe cấp cứu đưa đến bệnh viện thì đã trễ! Fernando nói như rên. Rồi anh bỗng bật lên tiếng kêu thật thảm thiết, xé lòng:
– Alisa của tôi! Con của tôi! Và bật khóc nức nở.
Tôi cũng nghẹn ngào, nước mắt chảy dài trên má. Tôi vô cùng bối rối vì chẳng biết tìm lời gì an ủi người đàn ông tội nghiệp. Nhà tôi mắt cũng đỏ hoe cầm lấy tay Fernando bóp thật chặt. May quá, một người đàn ông có lẽ là anh của Fernando vừa bước ra, nói bữa tiệc đã sẵn sàng, kêu mọi người vào nhà. Ông ta ôm vai Fernando và nói với chúng tôi:
– Chuyện đã qua lâu rồi, mà mỗi lần say xỉn nó đều khóc như vậy cả! Rồi ông đẩy người
em xiêu vẹo bước đi vô nhà.
Tôi đứng lên, ngoảnh nhìn chậu Poppy lần nữa, thầm nghĩ không biết có phải linh hồn cô Alisa
đã quyện vào hoa hay không mà sao hoa xinh tốt thế. Trong cái không khí tĩnh lặng dưới ánh nắng chiều hè, một cơn gió nhẹ chợt lướt qua làm cụm Poppy xao động nhịp nhàng như là điệu vũ. Và tôi cảm thấy dường như các bông hoa vàng tươi đó bỗng rực rỡ hơn, chói lọi hơn, như thể xác nhận cho những suy nghĩ của tôi là đúng…
Cầu mong Alisa hộ trì che chở cho người nhạc sĩ chung tình này. Tôi khấn thầm và rảo bước vô nhà.
Phương Hoa

– Last updated on March 5, 2022 by B-Lien (Em Bien Hoa)
March 4, 2022

Discover more from VBHNVDBHK

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading