BÓI KIỀU

 

Trịnh Bình An
 
Đoạn Trường Tân Thanh – Truyện Kiều là một tác phẩm thơ lục bát, thể thơ đặc biệt chỉ người Việt Nam mới có.  Điều đặc biệt là tác dụng lạ thường của tác phẩm trường thi này trong cuộc sống của người Việt Nam đó là dùng trong việc coi bói, vì thế được đặt cho cái tên “BÓI KIỀU.”
Tuy Truyện Kiều không dài vì chỉ có 3254 câu thơ, nhưng tác phẩm này bao gồm rất nhiều tâm trạng, rất nhiều cảnh huống. Khi đọc Truyện Kiều, ta thấy tâm lý của mình được phanh phui đến mức độ chính mình cũng không rõ đến như thế.  Còn những cảnh huống thì vô cùng xác đáng và phong phú.
Muốn ngỏ ý kín đáo với người mình yêu, khi có dịp gặp gỡ chàng trai có thể mượn câu Kiều:
Tiện đây xin một đôi điều
Đài gương soi thấu dấu bèo cho chăng?
Muốn dặn dò khi từ biệt, chàng trai nhắn nhủ bóng bẩy người yêu bằng thơ Kiều:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
Nhớ quê người ta ngâm Kiều:
Đoái trông muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa!
Nhớ mẹ, lữ khách mượn Kiều bày tỏ tấc lòng:
Tiếc người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Và khi tỏ ý hối hận, người làm sai cũng dùng thơ Kiều:
Ma đưa lối, quỷ dẫn đường
Cứ tìm những nẻo đoạn trường mà đi!
 
***
Thơ Truyện Kiều rất hàm súc, ít lời nhưng nhiều ý. Người bói có thể tìm thấy một ý nào đó trong câu thơ để liên hệ với hoàn cảnh của mình, còn thầy bói thì với tài đoán mò sẽ dò dẫm và tìm ra được những ý thích hợp để giảng cho khách hàng.
Xin được dẫn ra một giai thoại, không biết có thực hay chỉ đặt ra cho vui:
Có một người học trò nọ, khi đi học rất thích môn khoa học tự nhiên nhưng rất ghét các môn xã hội nhất hai môn sử ký và địa lý. Rồi đến lúc đi thi mới cố sức học nhồi nhét nhưng không tài nào ngốn nổi chương trình. Cuối cùng, anh dùng một cách đặt biệt là đem Truyện Kiều ra bói, để xem đề thi thuộc về chương nào rồi chỉ học tủ riêng chương ấy thôi!
Anh học trò bói được hai câu thơ, đoạn Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích:
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.                               
Đoán mãi không ra, anh ta phải nhờ bạn bè cả lớp nghĩ dùm. Mọi người xúm vào bàn cãi rôm rả.
Cuối cùng, có người đoán rằng: Phải chịu cảnh bơ vơ ở giữa trời và biển thì chỉ có một người, đó là… hoàng đế nước Pháp Napoléon Bonaparte lúc bị giam ở đảo Sainte Hélène. Còn biển có cái góc thì chắc hẳn đó là biển… Địa Trung Hải, do vì Địa Trung Hải là vùng biển có rất nhiều góc cạnh tạo thành bởi các nước vây chung quanh.
Thế là cậu học trò chỉ chuyên học hai chương, chương nói về Napoléon (môn Sử Ký) và chương Địa Trung Hải (môn Địa Lý).  
Lạ lùng thay! Cậu học trò trúng tủ, thi đỗ!
***
Và đây là một giai thoại khác.
Một phụ nữ gần 40 tuổi mới có thai, nên thành sinh khó. Chuyển dạ từ đêm trước, qua một ngày rồi đến đêm sau vẫn chưa sinh.  Vào thời trước, khi nền y học còn yếu kém, những trường hợp như vậy thường “mất cả mẹ lẫn con”. Trong tình thế tuyệt vọng, cả nhà không biết làm sao, chỉ còn cách đem Truyện Kiều ra bó. Và bói được hai câu than của nàng Kiều:
Ôi Kim lang, hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.    
Đọc câu bói lên tất cả thân nhân của người sản phụ đều hoảng hốt rụng rời, e sợ là việc không may sẽ xảy ra.
May thay một người hàng xóm sang chơi, thấy mọi người mặt mày tái xanh tái mét liền hỏi nguyên cớ làm sao.
Nghe xong câu chuyện anh ta kêu to: “Hỏng quá, hỏng quá, các ông các bà đoán sai bét hết rồi!  Bói được câu này thì chị nhà sắp sinh không những một cháu mà tới hai cháu trai.”
Mọi người đang ngơ ngác thì anh nói tiếp: “Ôi Kim lang! Đó là hiệu lệnh gọi đứa thứ nhất ra – mà “lang” là con trai, phải không nào? Hỡi Kim lang! – là gọi đứa thứ hai ra đấy!
Mọi người xúm lại hỏi anh: “Vậy câu “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” thì ông giảng thế nào?”
Người hàng xóm nói giọng chắc nịch: “Chữ “phụ” ở đây không có nghĩa “phụ bạc” tức là bỏ chồng. Chữ phụ này có nghĩa “giúp cho” như khi ta nói “để tôi phụ cho một tay.” Do vây, câu này có nghĩa là: “Kỳ này thiếp giúp chàng bằng cách đẻ cho chàng hai đứa con trai để nối dõi tông đường.”
Người sản phụ tuy quá mệt nhọc vì đã qua cơn chịu đưng dai dẳng nhưng vẫn tỉnh táo. Lắng nghe anh chàng hàng xóm nói có lý tự nhiên rất phấn chấn và một sức mạnh bỗng từ đâu đến giúp cô trở dạ và sinh được… hai đứa con trai.
Tưởng cũng nên ghi chú rằng:
Chữ Phụ là một chữ Hán Việt có nhiều nghĩa. Phụ có nghĩa “giúp đỡ” như trong các chữ Phụ Trợ, Phụ Tá | Phụ có nghĩa “đàn bà” như các chữ Phụ Nữ, Thiếu Phụ | Phụ có nghĩa “người cha” như trong các chữ Phụ Thân, Phụ Mẫu | Và Phụ còn mang nghĩa “trở mặt” như trong các chữ Phụ Bạc, Phụ Ước.
Như thế, cùng một chữ Phụ mà có nhiều nghĩa, do đó câu thơ Kiều cũng được đoán theo nhiều nghĩa.
***
Ngày trước chuyện bói Kiều hầu như phổ biến khắp nước. Có người coi chuyện bói Kiều là một thú vui, một cách thưởng thức Truyện Kiều. Và mỗi lần bói Kiều là mỗi lần tìm hiểu sâu thêm, phát hiện thêm những ý mới trong các câu Kiều.  Nhưng rất nhiều người bói Kiều vì tin đó là cuốn sách linh thiêng, có được giao cảm giữa cõi người và cõi tiên.
Dù bói chơi hoặc bói thật cũng đều theo thủ tục như sau:
Người bói hai tay cầm quyển Kiều lên ngang mặt, rồi khấn “Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác duyên, lạy tiên Thuý Kiều – Xin bói cho con một quẻ về gia sự (hoặc về nhân duyên, về thi cử v.v.)
Xong đặt sách xuống và khấn tiếp: “Con xin giở tay mặt, bắt tay trái.” Rồi lấy tay mặt giở sách và tay trái chỉ vào bất kỳ một câu nào đó.
Có nơi phân định rõ nam tả nữ hữu – người nam được chọn câu ở trang bên trái, người nữ chọn câu bên phải. Có người xin cả một đoạn từ một câu nào đó trở lên hoặc trở xuống của trang sách.
Như đã nói trên, văn Kiều hàm súc nên cùng một câu đoán tốt hoặc xấu đều được, chỉ cần tìm được một ý dính dáng tới điều muốn biết của người bói rồi tán rộng ra.
***
Trong tác phẩm Lều Chõng của nhà văn Ngô Tất Tố có kể lại câu chuyện Bói Kiều. Xin được tóm tắt và trích dẫn ở đây:
Cô Ngọc vốn đính hôn với anh Đằng Long. Nhưng khi Đằng Long đỗ tiến sĩ thì lại lấy cô Thúy. Trong đám rước ông nghè, bà nghè vinh quy bái tổ, thì cô Ngọc ngất xỉu. Sau khi được đưa về nhà, cô Ngọc bị gia đình bắt phải tịnh dưỡng. Vốn là người tháo vát trong công việc, cô Ngọc cảm thấy rất buồn chán. Nỗi cay đắng vì lỡ mất mối lương duyên tuyệt đẹp càng khiến cô Ngọc bồn chồn, bất an. Nhiều lúc cô Ngọc muốn nhắm mắt cố ngủ, cho khỏi nghĩ vẩn nghĩ vơ. Song ngủ mãi cũng chán con mắt, không thể nào mà chợp đi được. Rồi thì những mối tư tưởng luẩn quẩn ở đâu nó lại kéo đến như mớ bòng bong, gỡ không ra, dứt không bứt.
Cô rất thèm người nói chuyện. Nhưng đương mùa chợ búa cày cấy, chị em chúng bạn ai có việc nấy, không ai được thưa thì giờ để đến trò chuyện với cô. Thành ra ban ngày cũng như ban đêm, ngủ đi thì thôi, hễ bừng mắt ra, cô lại thấy mình một mình vò võ. Vì thế, cô Ngọc phải mượn cuốn Kim Vân Kiều làm bạn giải buồn. Quyển sách như cũng biết ỡm ờ trêu ngươi. Mỗi khi cô mở nó ra, nếu không đụng phải đoạn Kim Trọng gặp Thúy Kiều, thì lại trúng vào chỗ Thúy Kiều cất lẻn sang nhà Kim Trọng.
Tuy rằng cô đã hết sức trấn tĩnh, nhưng mà coi đến những câu: “Sóng tình hồ đã xiêu xiêu – Xem trong âu yếm có nhiều lả lơi.” Hay là: “Tóc tơ căn vặn tấm lòng – Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.” Thì trong bụng cô bổi hổi, bồi hồi, hình như có vật nong nóng bốc lên ở ngực và cổ.
Tức thì cô liệng quyển chuyện xuống giường và nằm vắt tay lên trán để đưa tư tưởng đến chỗ mơ màng xa xăm.
Sáng nay lúc cô băng mình trở dậy, bỗng chốc hai mắt nháy rối, vuốt mãi nó cũng không thuần. Rồi khi cô ăn cơm xong, vào buồng, lại một con nhện thình lình sa thẳng xuống chỗ trước mặt. Cô toan vồ lấy để xem nó là nhện vàng hay nhện trắng, nhưng con vật ấy nhanh quá, cô vớ chưa kịp, nó đã đánh đu sợi tơ của nó và bò lên gần xà nhà mất rồi. “Điềm gì mà lạ thế này. Lành hay gở?” Câu hỏi quanh quẩn đi lại ở trong óc.
Nó bắt cô phải phân vân hồi hộp, đứng ngồi không yên. Lật đầu giường lấy cuốn Truyện Kiều, cô hé mở ra để xem đằng nào là đầu, đằng nào là cuối. Rồi hai bàn tay chắp lại một cách cung kính, cô đưa cuốn sách lên tận ngang mặt, đặt nghiêng “bụng sách” vào thẳng sống mũi và khấn lầm rầm:
Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, tên tôi là Hoàng Thị Ngọc, ở làng Vân Trình, thành tâm xin cô một quẻ.” Vừa dứt tiếng quẻ, cô liền ngừng lại và chỉ mấp máy hai môi, không biết là nói những gì. Dứt hồi thì thầm, cô bấm một ngón tay cái vào giữa cuốn sách rồi giở ra xem.
Ngón tay cái của cô trúng vào chỗ này:
Bó thân về với triều đình – Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
Áo xiêm đùm bọc lấy nhau – Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi.
Đọc đi đọc lại mấy lần, cô vẫn không hiểu nàng Kiều bảo mình cái gì! “Hay là mình không thành tâm, cho nên cô Kiều không ứng? Thì lại bói lại quẻ nữa xem sao?
Một lần nữa, cuốn sách bị cô đưa lên ngang trán và làm đúng những công việc vừa rồi. Rồi cô nhìn theo chỗ ngón tay đã bấm.
Nó là cái gì?
Vội vàng sắm sửa lễ công – Kiệu hoa cất gió đuốc hồng ruổi sao.
Bày hàng cổ súy xôn xao – Song song đưa tới trướng đào sánh đôi.
Thế rồi cô Ngọc có kiếm được tấm chồng như ý không?
Cô Ngọc lấy một anh học trò tên Vân Hạc, thông minh, hay chữ.
Nhưng vì cô Ngọc trước kia đã hứa hôn với Đằng Long nên đám cưới của cô Ngọc với Vân Hạc có phần vội vã, đúng với cảnh huống đã tả đám cưới của Thúy Kiều và Thúc Sinh . Đó là lúc Thúc Sinh được lệnh quan cho phép đưa Kiều về, tuy nhiên vì Kiều vốn từ lầu xanh được chuộc ra nên đám rước tuy cũng khá rôm rả nhưng có vẻ qua quýt, làm nhanh cho xong . Đúng hệt câu: “Vội vàng sắm sửa lễ công – Kiệu hoa cất gió đuốc hồng ruổi sao | Bày hàng cổ súy xôn xao – Song song đưa tới trướng đào sánh đôi“.
Sau khi Vân Hạc cưới cô Ngọc, chàng Lều Chõng đi thi Tú Tài.
Lần đầu Vân Hạc đã đậu thủ khoa, nhưng chàng lại bị đánh rớt với một lý do cực kỳ vô lý, do bởi quan chủ khảo cho rằng chàng tỏ ra tài giỏi khi tuổi còn quá trẻ,  nên phải bị đánh rớt để bớt đi tánh khí kiêu ngạo.
Cuối cùng, sau vài lần thi trượt, Vân Hạc cũng đỗ hai cuộc thi Hương và thi Hội. Nhưng tới cuộc thi cuối cùng là thi Đình thì chàng mắc tội phạm húy. Vân Hạc bị phạt tội, không những thế, còn bị cách chức thủ khoa của hai cuộc thi trước.
Gặp lại Vân Hạc thất thểu về lại quê nhà, cô Ngọc vô cùng thất vọng nên tỏ vẻ chua chát. Nhưng bất chợt nhớ đến câu Kiều bói được ngày trước, cô liền đọc cho chồng nghe: “Bó thân về với triều đình – Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu? | Áo xiêm đùm bọc lấy nhau – Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi!
Đây là câu Từ Hải đã nói với Kiều khi được triều đình dụ hàng. Đối với họ Từ, làm quan mà phải vào luồn ra cúi thì thà sống đời thường dân cho… khỏe!
Như thế Truyện Kiều đã tiên đoán rất đúng về Vân Hạc, còn an ủi rằng đừng mong cầu vào vinh hoa phú quý mà nên vui với cảnh gia đình giản dị, tuy mộc mạc nhưng đầm ấm.
***
Bói Kiều đúng hay sai – Cho tới nay không ai dám quả quyết. Tuy nhiên, qua Bói Kiều, chúng ta thấy được giá trị phong phú của tác phẩm văn học độc đáo này. Điều đó càng làm chúng ta yêu mến Truyện Kiều thêm hơn.
 
Trịnh Bình An